Tôi đứng đấy, bất động dưới ánh trăng sáng, suy nghĩ tất cả những điều trên cho đến khi nhịp thở đều từ trong bóng tối vọng lại báo cho tôi biết ông già Stevie đã ngủ say. Sau đấy, nhẹ nhàng bước từ thang gác gỗ xuống sân và lẻn đi khỏi khách sạn để trở về toà Cha sở và đi ngủ.
Sau đấy tôi chẳng còn gặp Stevie nhiều nữa. Cuộc đua ngựa cũng đã chất dứt và sáng hôm nay, rất nhiều người rời thị trấn sớm để trở về trại chăn nuôi gia súc. Stevie còn nấn ná đôi ngày, dáng điệu ủ rũ và cáu gắt vì đã hết tiền và chẳng còn ai ở lại thị trấn để chịu đãi một chầu rượu, trừ hai người kỹ sư làm việc cho sở bưu điện và hãng Reg Mc Auliffe, phụ trách bán bảo hiểm nhân thọ cho dân địa phương. Cuối cùng xơ Finlay cũng cắt chỉ ở vết khâu lỗ tai ông già Stevie, thay băng sạch sẽ và để cho ông trở lại nhà. Có người đi Dorset Downs đã cho ông quá giang trên xe tải và như vậy chuyện của ông già cũng tạm ổn. Mọi người trong thị trấn, thấy ông đi khỏi, ai cũng vui.
Tôi lại trở về với công việc họ đạo quen thuộc. Cô giáo Foster, người rất hiền, đã phụ trách hát lễ hàng ngày cho các em học sinh và bỏ ra một ngày đi đến Godstow để xem thử có thể làm được gì cho nhà thờ thánh Giu-đà. Tôi thường đi trên xe chở thư và trên đường đi tôi dừng lại từng nhà hoặc từng trang trại chăn nuôi, có lẽ cứ mỗi đoạn độ hai muơi lăm cây số. Trời rất nóng và bụi bặm, tôi phải mặc áo sơ mi kaki và quần sọt nhưng tôi luôn mang vali theo, trong đó có áo tế và ly rước lễ, và tôi đã rửa tội cho ba em bé vào ngày thứ nhất, làm chủ lễ cho hai buổi kỷ niệm. Người tài xế xe thư rất biết điều, anh ta đợi tôi trong suốt các buổi lễ, và như thế anh ta phải lái xe chạy đêm mới kịp giờ giấc.
Trung sĩ Donovan cũng ngồi cùng xe với chúng tôi vì ông ấy có công tác cũng ở hướng này. Chúng tôi ở lại Beverly đêm đầu tiên với vợ chồng Maclaren. Còn một hai chuyện liên quan đến ông già Stevie còn vướng mắc trong đầu tôi, và trong lúc uống trà, lẽ đâu tôi lại đưa vấn đề thuốc phiện ra bàn. Tôi nói:
Anh Jim này, có một điều trong khách sạn đêm ấy, ông già Stevie đã nói, khi anh đã xuống dưới sân, là ông ta mơ nhiều giấc mộng đẹp.
Có thật mà Cha!
Vẫn biết thế nhưng ông ta nói khi mơ là phải có xe điếu. Vậy thì ông ta hút thuốc phiện, chứ gì? Ông ta ở với một ông già người Hoa mà!
Trung sỹ Donavan vặn lại:
Nói thế là không có lý. Ông ta có thể hút thuốc lá cũng được, chứ sao?
Tôi cũng nghĩ như thế.
Trong giọng nói của anh ta có gì làm tôi ngừng nói và có điều gì khác thường hơn là tôi nghĩ. Tôi không nói tiếp và đến chiều tối, khi không có ai, Jim Maclaren mới nói riêng với tôi:
Về ông già Stevie và ông già Liên Chi, tôi không dám nói vấn đề thuốc phiện trước mặt Trung sỹ Donovan, trừ khi Cha có lý do xác đáng.
Thế anh nghĩ là họ hút chứ?
Dĩ nhiên rồi! Liên Chi hút thuốc phiện. Có gì mà người Hoa không dám? Cũng chẳng nguy hiểm gì đâu, còn thua hút thuốc lá. Ông già Liên Chi trồng cây anh túc trong vườn ở Dorset Downs với các loại rau cải khác. Donovan biết rõ về điều đó.
Tôi nói:
Nhưng như thế là phạm pháp. Nếu như Donovan biết tất cả, tại sao lại để như vậy?
Anh ta cười khì:
Vì Donovan thích ăn rau tươi.
Tôi suy nghĩ một lúc rồi nói:
Ý anh muốn nói, nếu Liên Chi bị truy tố, ông ta sẽ bỏ đi ngay.
Phải thế thôi. Ông ta sẽ dọn đi nơi khác để trồng rau cải và anh túc và lúc ấy Landsborough chẳng còn gì ngoài các loại đậu đóng hộp. Donovan cũng đã tính kỹ, điều quan trọng cho một thị trấn là cần có rau quả tươi, hơn là anh ta tính sai nước cờ đi truy tố một ông già Tàu, suốt đời làm lụng vất vả mà chẳng làm thiệt hại gì đến anh ta – dừng một lúc Jim lại nói tiếp – chỉ có điều nếu thiên hạ bàn tán mãi chuyện này khiến anh ta phải ra tay, nếu không thì mất việc.
Đúng thì không hoàn toàn đúng, mà sai thì không hẳn là sai ở Gulf Country. Tôi không đề cập đến vấn đề thuốc phiện nữa.
Và như thế tôi đã loại Stevie ra khỏi tâm trí tôi. Tôi còn nhiều việc quan trọng cần suy nghĩ, bởi vì mùa khô đã đến gần và tôi phải quyết định, trước khi mưa đến vào tháng Chạp làm ngưng việc đi lại, tôi phải đi thăm từng gia đình trong giáo phận khá rộng lớn này và làm chủ lễ cho từng trại chăn nuôi gia súc. Thật ra, đấy không phải là một chương trình quá tham lam trong thời gian năm tháng, bởi vì cũng chỉ có một trăm mười gia đình cộng chung, nhưng điều đáng nói là phải đi nhiều thôi. Tôi không quan tâm phải rời Landsborough lâu hơn một tuần lễ. Tôi đang cố dẫn dắt dân chúng có thói quen đi nhà thờ trong giáo phận và tôi cảm nhận việc này rất quan trọng, nếu như tôi có mặt ở đấy vào những ngày Chủ nhật như khả năng của con người có thể làm được. Tôi không có phương tiện riêng mà phải nhờ vào xe thư hay xin quá giang bất cứ xe nào chạy qua vùng ấy và như thế thì ít khi trùng hợp với ý muốn của tôi là được trở về Landsborough vào mỗi Chủ nhật.
Năm ấy tôi phải làm việc suốt mùa nắng và tôi đã thành công trong việc tìm hiểu hết các tín hữu trong họ đạo. Tôi nghĩ họ cũng thành tâm tán dương việc ấy, vì càng về sau, tôi càng nhận được nhiều thư từ, thường xuyên hỏi thăm tôi có thể trở lại một số gia đình để an ủi một bà cụ sắp mất, hay hướng dẫn việc tang ma ở một huyệt mộ mới đào vội vàng, hay rửa tội cho một cháu bé. Dĩ nhiên, những sự mời gọi như thế làm đình trệ thời khoá biểu của tôi, nhưng tôi cũng có thể đến tham dự tất cả với họ, đến được những nơi cần thiết trong vòng hai hay ba ngày.
Vào tháng Chín, cũng vẫn có một cuộc đua ngựa ở Landsborough, nhưng tôi không tham dự. Một mục sư chẳng làm được gì nhiều trong trong một thị trấn đang hưởng thú vui đua ngựa. Cơ hội phụng vụ chỉ đến với những thời gian yên tĩnh hơn. Đối với tôi, hình như tốt hơn nên dùng thì giờ vào việc thăm viếng những miền xa xôi hẻo lánh ở giáo khu, và tôi không bận tâm phải trở về từ Landsborough trước thứ Bảy. Vì lúc ấy, cuộc đua đã xong rồi và mọi người đã trở về các trại chăn nuôi, nhưng quá nửa chục chủ trại và quản lí cùng vợ con họ còn ở lại trong thị trấn để đến nhà thờ dự lễ vào ngày Chủ nhật, và đó là niềm khích lệ lớn lao đối với tôi.