Và tôi lội lui bỏ nó lên xe. Oâng Liên Chi và Xơ Finlay đều phản đối tôi, tuy vậy vì quá sợ tôi không trả lời được và xăm xăm đi trở lại cái vụng kia để tìm nốt cái còn lại. Lúc này tôi không thể dùng chân mà tìm vì mực nước đã lên đến vai, tôi lặn xuống, tìm trong nước với đôi bàn tay giữa cỏ và bùn. Khi tôi nổi lên, cả ông Liên Chi và Xơ Finlay cùng nhảy ào xuống nước, xốc nách đỡ tôi lên và đưa lên càng xe. Tôi nói:
Một chút nữa thôi là tôi tìm ra ngay, để tôi thử một bận nữa.
Xơ Finlay vội la lên:
Cha điên rồi sao! Chỗ này cá sấu nhiều lắm. Đêm nay con sẽ cố gắng làm cho được, chẳng cần cái vali ấy đâu!
Nhưng thuốc men là ở trong ấy cơ mà – tôi nói.
Xơ thật sự nổi nóng:
Cha lên xe ngay đi. Con không hiểu tại sao Cha lại có thể điên đến thế!
Dĩ nhiên là tất cả chúng tôi đều sợ chết điếng, nhưng không nói ra, chứ Xơ đâu được phép nói với tôi như vậy.
Khi chúng tôi đã ngồi yên trong xe, ông Liên Chi mới quất roi cho ngựa chạy. Giờ thì trời đã tối hẳn, chúng tôi còn thấy được cái bóng mờ mờ của nổng đất ở trước mặt, nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng của ngôi nhà đâu cả. Sau đấy tôi mới hiểu rằng cái nhà nằm trên nổng đất cách đấy một dặm là điểm cao nhất giữa hai con lạch, nuớc lụt chưa bao giờ chạm tới. Căn nhà một phần ở cuối nổng đất, còn phần kia, chúng tôi đang tiến đến.
Xe chúng tôi lội bì bõm trong nước dưới trời đêm. Nước càng ngày càng cạn, con ngựa già chạy càng nhanh hơn và giờ đây, trong ánh sáng mờ mờ, đường đi xuất hiện trước mắt chúng tôi quanh co xuyên qua những hàng cây bạch đàn và rồi đất khô xuất hiện. Sau đấy chúng tôi thấy một cảnh quang hết sức lỳ lạ. Đất ở dưới gốc cây, như thường lệ được trồng một lớp đất mỏng các loại cây nhỏ chậm phát triển, cây dương xỉ diều hâu và cỏ. Trong bụi rậm có các loại gia súc, hàng trăm loại. Nào là bò cái Hereford, bò đực Bramah, chuột túi loại nhỏ, vô số heo rừng da đen với cái mõm dài ngoằn và răng nanh hung ác. Cũng có đủ loại chó, chó Dingo, loại này giữ cừu, thả đi hoang và tạo giống trong rừng. Có cả loại gà tây, đà điểu nhỏ, kỳ đà, rắn mối và các loại rắn bò ngổn ngang trước mặt chúng tôi.
Tôi nói với ông Liên Chi:
Oâng đem tất cả những con vật này về đây mỗi năm vào mùa mưa phải không?
Oâng ta gật đầu:
Hằng năm. Tôi là Phật tử, tôi không ăn thịt chúng.
Chúng tôi đi qua những hàng cây và giờ đây tôi mong cho chóng đến. Chúng tôi đã ngồi trên càng xe hàng giờ và bắt đầu thấy mệt mỏi. Trong lúc này, thân nhiệt của tôi lại tăng lên mỗi buổi chiều, tôi cảm thấy hơi sốt trong người nên mắt không nhìn được rõ và kém suy nghĩ. Tôi hết sức buồn khi nghe cơn sốt có thể trở lại, dầu sao tôi cũng phải chịu đựng cho tới khi trở về Landsborough vào ngày mai. Tôi cứ nghĩ, giá mà xuống được khỏi xe, uống một hơi dài đá lạnh, ngồi yên trong một cái ghế thoải mái một lúc tôi sẽ khoẻ lại ngay; lúc ấy lại có sức làm một việc gì khác trong đêm mà chẳng để cho Xơ Finlay nhận ra là tôi bị bệnh.
Cuối cùng tôi cũng thật cảm động thấy được căn nhà trong ánh sáng cuối cùng của ngày. Đó là một nơi nhỏ hẹp, tội nghiệp, với hai căn phòng xây bằng ván, lợp mái tôn. Không biết loại sơn gì đã một lần phếch lên, nay loan lỗ và tróc đi, mưa gió đã để lại một màu bạc phếch trên gỗ cũ. Căn nhà được xây trên những trụ cây, giống như các nhà ở thôn quê, có một số bậc cấp bước lên, một hàng hiên rệu rã. Có một hàng rào đã đổ bao quanh nhà, chạy dài vào bóng tối.Trong nhà chẳng có đèn đóm gì cả.
Oâng Liên Chi bước xuống xe, buộc dây cương vào hàng rào và bước lên bậc cấp. Chúng tôi theo sau. Trong nhà tối thui, chúng tôi nghe tiếng bật quẹt, ánh lửa bùng lên và tiếng nói của ông Liên Chi phát ra. Sau đấy ông ta thắp một cây đèn cầy cắm trong một cái đĩa trà để trên bàn. Ngọn đèn sáng dần và chúng tôi mới thấy được toàn bộ khung cảnh.
Trong phòng có một chiếc giường có mắc màng sẵn, mùng vắc lên phía sau, để lộ mảnh khăn trải giường và chiếc gối nhàu nát dơ bẩn. Oâng già Stevie nằm trên giường, có mặc áo sơ mi và quần dài nhưng chân không mang vớ, chỉ có khuy trên của chiếc quần là có cài. Trên chiếc ghế dựa đặt bên cạnh giường có cây đèn cồn nhỏ, một cái xe điếu bằng kim loại và một cái chén mắt trâu, lại có thêm một đĩa trà có chất gì nâu nâu ở trong đó. Một mùi cay cay khó chịu bay lên trong phòng. Trên nền nhà cạnh giường, một cây đèn dầu lạc rẻ tiền thường máng trên tường, giờ nằm ngã một bên, dầu trong đèn chảy ra đọng thành vũng trên sàn gỗ. Còn Stevie đang mê man.
Oâng Liên Chi đi đến nhặt cây đèn lên, dẹp bàn đèn nhưng chúng tôi đã thấy cả rồi. Xơ Finlay đi thẳng tới giường
Chào bác Stevie – Xơ nói – Tôi là Xơ Finlay ở bệnh viện đến. Bác bệnh sao?
Không có tiếng trả lời. Oâng già sau khi đẩy được tẩy uếõ, không hiểu vì say thuốc phiện hay bệnh tình trầm trọng thêm mà không nói được. Xơ Finlay cởi áo khoát, cầm tay Stevie để xem mạch, mắt đăm đăm nhìn vào đồng hồ tay
Cha có thể cho đèn sáng hơn một chút được không Cha? – Xơ yêu cầu – Con cần thấy cho rõ hơn.
Tôi nhặt cây đèn ở sàn nhà lên và nhìn kỹ, bóng đèn đã vỡ. Tôi hỏi ông Liên Chi:
Oâng cất dầu lửa ở đâu?
Oâng ta không trả lời tôi mà bắt đầu lục lọi trong căn phòng bừa bãi và cuối cùng tìm ra được một đoạn đèn cầy. Tôi nói:
Tôi có đèn bấm đây.
Và mở cái vali sũng nước ra. Cây đèn nằm bên áo lễ lỏng bỏng nước, tuy vậy nó vẫn sáng. Oâng Liên Chi cười và hướng dẫn tôi đi xuống dưới nhà, nhà nằm trên các cột chống như những nhà ở thôn quê vậy. Dầu lửa để ở đây, nhìn quanh, tất cả chỉ có thùng dầu lửa mà thôi. Ai đó, chỉ có thể là Stevie, đã để cho vòi dầu chảy, tràn ra cả mặt nền nhà, thấm ướt và chảy xuống nước. Tôi không biết chắc vì sao ông ta làm thế, nhưng tôi nghĩ ắt hẳn ông đã đi xuống dưới này để lấy dầu châm thêm đèn và rồi cơn đau thắt ngang lưng ập đến và điều ông chỉ có thể làm là cố gắng lết cho được về tới giường nằm. Dầu sao thì thùng dầu cũng sắp cạn.