190. "Người thực vật" là thế nào?
Trong bệnh viện, có lúc ta bắt gặp những bệnh nhân rất đặc biệt. Tuy họ mở to mắt, lúc nhìn lên tường, lúc nhìn trần nhà, có lúc nhìn người đi lại gần mình nhưng khi người khác gọi tên thì họ không có phản ứng gì. Khi ta đưa các vật nào đó đặt trước mặt họ, hai mắt bệnh nhân vẫn không hề chớp, miệng không hề nói, không ăn, không uống, không thể khống chế đại, tiểu tiện. Những hiện tượng này chứng tỏ công năng đại não của bệnh nhân đã mất, khiến họ hoàn toàn không còn tri giác; nhưng quái lạ là bệnh nhân vẫn thở, tim vẫn đập, ho, hắt hơi và vẫn nuốt được, tức là vẫn tồn tại những phản ứng bản năng bẩm sinh. Bệnh nhân phải dựa vào việc bơm sữa và các chất lỏng để duy trì cuộc sống. Những người như thế giống như thực vật, chỉ biết hấp thu dinh dưỡng để duy trì sự sống, nên được gọi là "người thực vật".
Có rất nhiều nguyên nhân để trở thành người thực vật: não bị chấn thương nghiêm trọng, ngộ độc khí gas, ngạt thở, tắc động mạch vành cấp tính gây ngừng thở và ngừng tim đột ngột. Khi bệnh nhân ngừng thở và ngừng tim, sự cung cấp ôxy cho não cũng ngừng; sau thời gian dài, tổ chức não bị tổn thương nghiêm trọng, các tình huống hấp thu đào thải bị trở ngại và tế bào não ngộ độc axit. Sự tổn thương này thường bắt đầu từ vỏ đại não, dần dần mở rộng ra tủy sống. Cho nên tình trạng não thiếu máu hoặc thiếu ôxy càng kéo dài thì tổn thương não càng nặng. Y học cho rằng, dưới nhiệt độ và áp suất bình thường, não có thể chịu đựng tình trạng thiếu ôxy tối đa 3-4 phút. Não thiếu ôxy 15 giây, bệnh nhân đã hôn mê mấy phút; thiếu ôxy 3 phút: hôn mê mấy ngày. Nếu tim ngừng đập 5 phút, bệnh nhân sẽ tử vong.
Nếu thời gian ngừng tim và ngừng thở vượt quá ngưỡng kể trên, não bộ - cơ quan chỉ huy của trung khu thần kinh - đã mất đi thì dù bệnh nhân được cấp cứu và phục hồi lại hô hấp và tim đập lại, họ vẫn không thể có tri giác như cũ mà trở thành "người thực vật".
Từ đó, có thể thấy, phàm những bệnh có thể tạo nên sự tổn hại nghiêm trọng cho não đều có thể khiến cho bệnh nhân trở thành "người thực vật". Sau khi trở thành "người thực vật", muốn khôi phục trở lại bình thường là vô cùng khó. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ: Ngày 17 tháng 2 năm 1991, Báo "Tân Dân buổi chiều" đưa tin: ở thành phố Tuyền Châu có một "người thực vật", sau khi hôn mê 14 tháng đã nói được. Làm thế nào để cứu sống "người thực vật"? Đây là một vấn đề đáng được đi sâu để nghiên cứu.
191. Ung thư là gì?
Trong số những bệnh nguy hại nhất, phải kể đến ung thư. Con người lo sợ bệnh này đến mức hễ nói đến ung thư là mặt biến sắc. Ung thư đã cướp đi sự sống của vô số người, nhưng thực chất nó là bệnh gì?
Đó là một loại bệnh thường gặp, xảy ra khi có khối u ác tính. Có người nói ung thư là bệnh do xã hội hiện đại gây ra. Thực ra không phải thế. Loài người đã nhận biết về bệnh khối u từ rất lâu đời. Ở Trung Quốc, trong các văn bản giáp cốt đời nhà Ân đã dùng đến chữ "diêm" (chữ "diêm" tiếng cổ có nghĩa là khối u, tức là khối u cứng như đá). Chữ khối u ở tiếng Anh lấy từ chữ La tinh, có nghĩa là con cua, tức người ta hình dung khối u như có tám càng phát triển ra bốn phía.
Ngày nay, y học hiện đại đã có một định nghĩa chặt chẽ về khối u. Nói một cách khái quát thì khối u là tổ chức tế bào phát triển khác thường do tác dụng của một số nhân tố trong cơ thể. Như ta đã biết, tế bào của cơ thể có một quá trình ra đời, phát triển, suy lão và tử vong. Sau khi tế bào già chết đi thì có tế bào mới thay thế để duy trì công năng bình thường của các tổ chức và cơ quan trong cơ thể. Đại bộ phận tế bào của cơ thể đều có thể phát triển, đó là hiện tượng bình thường. Khi sự tăng trưởng trở nên khác thường và không được khống chế thì sẽ hình thành khối u.
Tế bào bình thường sau khi phát triển sẽ có một quá trình phân hóa thành thục, sau đó trở thành các tế bào của các tổ chức cụ thể. Còn đại đa số tế bào khối u có mức độ phân hóa rất thấp, không thể hình thành tế bào bình thường để phát huy công năng vốn có của nó. Ngược lại, nó tiêu hao một lượng lớn chất dinh dưỡng trong cơ thể, khiến cho sự ra đời và phát triển của các tế bào bình thường khác bị ảnh hưởng. Điều đáng sợ hơn là sau khi hình thành, khối u còn thông qua máu, lympho... để chuyển dịch đến phá hoại tổ chức của các cơ quan khác.
Đương nhiên, khối u không phải là không thể chữa khỏi. Chỉ cần phát hiện sớm, cắt bỏ nó trước khi tế bào khối u di căn là có thể chữa khỏi triệt để. Ngược lại, khi khối u đã di căn, muốn chữa trị triệt để là rất khó. Cho nên, hiện nay, biện pháp tốt nhất để đối phó khối u là phát hiện bệnh sớm và chữa trị kịp thời.
192. Vì sao AIDS được gọi là "đại dịch của thế kỷ 20?"
Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, ở các nước Âu, Mỹ bắt đầu lưu hành một căn bệnh kỳ quái. Bệnh nhân phần lớn đều có triệu chứng giống như viêm phổi, sốt kéo dài, ho; một số có biểu hiện tiêu chảy mạn tính, trọng lượng giảm dần. Về sau, họ bị nhiễm các men khuẩn. Điều kỳ lạ là các chứng bệnh rất phổ thông này không đáp ứng với bất cứ loại thuốc nào. Khoảng 4 - 5 năm sau, những bệnh nhân này đều chết.
Để bóc trần bí mật của căn bệnh đáng sợ này, các nhà khoa học đã điều tra nghiên cứu một lượng lớn các bệnh án. Đến cuối năm 1981, họ phát hiện nguyên thể bệnh là một loại độc tố bệnh chưa hề gặp. Nó giống như ôn dịch, phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế giới. Vì loại bệnh này khiến cho công năng miễn dịch của cơ thể mất hết tác dụng nên nó được gọi là Hội chứng suy giảm miễn dịch tổng hợp, viết tắt là AIDS.
Bệnh AIDS trong mấy năm ngắn ngủi đã lan tràn khắp thế giới. Hầu như nước nào cũng không tránh khỏi. Nó đã trở thành sự uy hiếp nghiêm trọng nhất mà loài người phải đối mặt.
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để chữa bệnh AIDS. Một số thuốc tuy có cải thiện được tình trạng bệnh và kéo dài thêm một ít tuổi thọ, nhưng lại có phản ứng phụ. Vì bệnh AIDS chưa có vacxin phòng ngừa, sau khi phát bệnh lại không có thuốc đặc trị cho nên tỷ lệ tử vong rất cao. Vì vậy mà người ta gọi nó là "đại dịch của thế kỷ 20".
Các kết quả nghiên cứu chứng tỏ, đường truyền chủ yếu của AIDS là máu, tinh dịch và các dịch thể khác bao gồm nước bọt, sữa. Con đường truyền nhiễm là đồng tính luyến ái, quan hệ nam nữ lung tung, tiếp máu, tiêm, sinh đẻ và bú sữa. Nó không truyền nhiễm qua không khí, qua vết muỗi cắn, càng không truyền nhiễm qua đường ăn uống, lao động, bơi lội, bắt tay và dùng chung hố xí. Vì vậy, chỉ cần gìn giữ bản thân sạch sẽ, không có những hành vi giới tính không đúng đắn, không nghiện hút, cẩn thận khi truyền máu... là sẽ hạn chế được nguy cơ nhiễm bệnh AIDS.
193. Độc tố bệnh AIDS hủy hoại hệ thống miễn dịch của cơ thể như thế nào?
Hung thủ gây nên bệnh AIDS là virus Human immunodeficiency virus, gọi tắt là HIV. Độc tố bệnh này vô cùng nhỏ, đầu mũi kim có thể chứa được mười sáu nghìn con. Mặc dù nhỏ như thế nhưng nó lại có sức sát thương rất mạnh đối với hệ thống miễn dịch của con người và cuối cùng phá tan hệ thống miễn dịch. Quá trình này được diễn ra như thế nào?
Độc tố bệnh AIDS thông qua hành vi giới tính không an toàn của con người hoặc kim tiêm bị ô nhiễm mà đi vào tĩnh mạch, thâm nhập vào cơ thể. Mục tiêu đầu tiên mà nó công kích là tế bào lympho T có tính bổ trợ (T - helper cell).
Tế bào lympho T có tính bổ trợ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nó là chất làm hài hòa, có thể truyền tín hiệu hóa học để kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể chuyên dụng chống lại vi khuẩn xâm nhập. Nó còn có thể khống chế sự phát triển của mấy loại tế bào khác trong hệ thống miễn dịch.
Những hạt độc tố bệnh AIDS sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ cùng với nucleoxit và axit nucleic hợp thành RNA. Trên RNA mang đầy đủ thông tin di truyền của hạt độc tố bệnh. Sự kết hợp này có tính chuyên nhất rất mạnh, giống như một chìa khóa chỉ có thể mở được một ổ khóa, phối hợp rất nghiêm ngặt với nhau. Một khi độc tố kết hợp với thụ thể thì điều đáng sợ sẽ xảy ra. Độc tố bệnh cho RNA xâm nhập vào trong tế bào lympho T có tính bổ trợ, thông qua men ghi nhớ chuyển RNA thành DNA, hợp lại vào trong DNA của tế bào lympho T. Độc tố bệnh DNA sau khi đi vào tế bào lympho T sẽ nằm im ở đó, có thể nằm im trong một thời gian dài. Nhưng vào một dịp nào đó, khi hệ thống miễn dịch của cơ thể được kích hoạt để chống lại loại vi khuẩn nào đó mới xâm nhập, tế bào lympho T đã bị cảm nhiễm bèn sinh sôi nảy nở, từ đó mà sản sinh ra vô số hạt độc tố bệnh AIDS. Những hạt độc tố này sẽ được giải phóng ra khỏi các tế bào lympho T. Một mặt, chúng giết chết một lượng lớn tế bào T, làm cho phòng tuyến thứ nhất của hệ thống miễn dịch tan rã; mặt khác, nó tiếp tục công kích các loại tế bào khác của hệ thống miễn dịch, cuối cùng phá hủy triệt để hệ thống này, khiến cho cơ thể mất đi khả năng miễn dịch.
Trong thực tế, bệnh AIDS có tên gọi chính thức là "chứng thiếu miễn dịch tổng hợp". Chính vì nó có thể phá hủy hệ thống miễn dịch của cơ thể cho nên mới có tên gọi như thế.
194. Vì sao hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể tiêu diệt được vi khuẩn?
Trong cơ thể người bình thường, hệ thống miễn dịch rất hoàn chỉnh. Khi cơ thể bị vi khuẩn gây bệnh tấn công, hệ thống miễn dịch sẽ được kích hoạt và phản kích lại vi khuẩn bệnh đã xâm nhập vào.
Hệ thống miễn dịch của cơ thể tiến hành công kích khuẩn bệnh như thế nào? Đây là một quá trình vô cùng phức tạp. Sau khi vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, trước hết tế bào to trong hệ thống miễn dịch sẽ phát động công kích. Nó "nuốt" vi khuẩn vào trong bụng của mình, phân giải các vi khuẩn trong bụng thành từng mảnh vụn. Những mảnh vụn này của vi khuẩn hiện trên bề mặt của tế bào to, trở thành kháng nguyên. Chúng giống như những nhãn hiệu biểu thị mình là tế bào to đã nuốt các vi khuẩn xâm nhập, đồng thời báo cho tế bào T trong hệ thống miễn dịch biết.
Tế bào T cùng với những mảnh vụn trên bề mặt tế bào to (hay nói cách khác là kháng nguyên vi sinh hai bên gặp nhau) giống như một chìa khóa phối hợp với một ổ khóa, lập tức kết hợp với nhau sinh ra phản ứng. Khi đó, tế bào to sẽ sản sinh ra một chất gọi là nhân lympho. Tác dụng lớn nhất của nó là kích hoạt tế bào T. Tế bào T "tỉnh dậy" lập tức sẽ phát lệnh "cảnh báo" đối với hệ thống miễn dịch, báo tin đã có một lượng lớn "kẻ địch" xâm nhập vào. Lúc đó, hệ thống miễn dịch sẽ đưa ra một loại tế bào lympho T có tính sát thương và nó còn dẫn xuất ra loại tế bào lympho B có công dụng đặc biệt. Cuối cùng, tế bào lympho B sẽ sản sinh ra chất kháng thể chuyên dụng để tiêu diệt khuẩn bệnh.
Tế bào lympho T có tính sát thương có thể truy tìm những tế bào trong cơ thể đã bị cảm nhiễm khuẩn bệnh, tiêu hủy chúng, ngăn ngừa khuẩn bệnh tiếp tục phát triển. Đồng thời với việc phá hủy tế bào bị cảm nhiễm, tế bào lympho B còn sản sinh ra kháng thể, kết hợp với vi khuẩn trong tế bào, khiến cho vi khuẩn mất đi tác dụng gây bệnh. Chính nhờ thông qua một loạt quá trình phức tạp như thế mà hệ thống miễn dịch có thể khống chế có hiệu quả những vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể.
Sau khi sự cảm nhiễm lần thứ nhất được khống chế, hệ thống miễn dịch sẽ ghi lại toàn bộ quá trình đối kháng của nó đối với khuẩn bệnh và bảo tồn lâu dài. Nếu cơ thể lại bị loại khuẩn bệnh này xâm nhập lần thứ hai, hệ thống miễn dịch sẽ biết rõ cần phải làm thế nào để đối phó lại chúng. Nó sẽ có những phản ứng dễ dàng, chính xác, nhanh chóng để tiêu diệt vi khuẩn đã xâm nhập.
195. Đông y khám bệnh vì sao phải xem lưỡi?
Khi khám bệnh, thầy thuốc Đông y thường bảo "thè lưỡi ra xem". Như thế là vì sao? Nguyên nhân là lưỡi phản ánh tình hình các bộ phận trong cơ thể. Một khi cơ thể mắc bệnh, lưỡi thường có sự biến đổi. Thầy thuốc có thể căn cứ vào các vết tích "như mạng nhện" trên lưỡi để chẩn đoán bệnh.
Cách xem lưỡi như thế nào? Thầy thuốc chủ yếu quan sát đài lưỡi và chất lưỡi. Đài lưỡi là những nấm mỏng nằm trên mặt lưỡi. Ở người bình thường, nấm lưỡi mỏng, màu trắng, gọi là nấm trắng mỏng. Chất lưỡi là màu sắc của lưỡi, người bình thường nói chung lưỡi có màu hồng nhạt.
Khi mắc bệnh, trước hết có thể thấy nấm lưỡi bị thay đổi, sau đó chất lưỡi cũng thay đổi. Nếu đài lưỡi từ mỏng biến thành dày, từ màu trắng biến thành màu vàng, vàng cháy thậm chí là màu đen thì chứng tỏ bệnh từ nhẹ đã biến thành nặng. Tương tự, khi chất lưỡi từ màu hồng nhạt biến thành màu đỏ, màu đỏ sẫm, thậm chí là màu tím hoặc những vết tím xanh thì chứng tỏ bệnh đã nặng lên nhiều. Điều cần chú ý là ở người già, vì mạch máu xơ cứng, tổ chức lão hóa, chất lưỡi cũng có thể xuất hiện những vết tím xanh, cần phân biệt với khi bị bệnh. Ngoài ra, trong quá trình bị bệnh, đài lưỡi thường bong, bề mặt lưỡi rất trơn, giống như mặt gương, chứng tỏ bệnh rất nặng.
Đặc điểm của những vị trí khác nhau trên bề mặt lưỡi cũng có thể làm căn cứ bổ trợ để chẩn đoán bệnh. Đầu lưỡi thường phản ánh sự biến đổi của tim và phổi, phần giữa lưỡi phản ánh lá lách và dạ dày, hai bên mép lưỡi phản ánh gan và mật, còn cuống lưỡi phản ánh thận.
Ngoài ra, tình trạng đài lưỡi trở nên dày có liên quan đến việc tinh thần bị căng thẳng, thở bằng miệng, hút thuốc, xoang miệng vệ sinh không tốt hoặc bị nhiễm khuẩn.
Ngoài ra, một số người tuy sức khỏe bình thường nhưng lưỡi hơi khác thường, có thể lúc đó trong cơ thể đã tiềm tàng một sự biến đổi về bệnh lý, nhưng tạm thời chưa có biện pháp để chẩn đoán ra. Vì vậy, cần phải nâng cao cảnh giác, định kỳ kiểm tra để sớm phát hiện bệnh tình trong cơ thể.
196. Vì sao "siêu âm B" cũng có thể chẩn đoán được bệnh?
Cùng với sự phát triển của y học, những thiết bị chẩn đoán bệnh tiên tiến không ngừng ra đời. Chẩn đoán siêu âm B chính là phương pháp chẩn đoán mới hình thành trên cơ sở sự phát triển của điện tử hiện đại, kết hợp nguyên lý ra đa với âm thanh học. Phương pháp này có các ưu điểm là tính chuẩn xác cao, không gây tổn thương hay đau đớn, không có phóng xạ, không cần thuốc tạo ảnh độc hại và tốn kém... Nó không những có thể kiểm tra các bệnh của nội tạng như gan, thận, lá lách, tụy và tử cung mà còn có thể tìm hiểu tình trạng phát triển của thai nhi trong tử cung.
Siêu âm B vì sao lại có thể phát hiện bệnh tình của các cơ quan trong cơ thể? Điều này phải bắt đầu từ nguyên lý tạo thành ảnh của nó. Siêu âm là một loại sóng âm thanh, có tần số rất cao vượt quá phạm vi tai người nghe được (tần số vượt quá 2000 lần/giây).
Siêu âm có các tính chất vật lý giống như âm thanh bình thường, dùng phương thức sóng dọc và với tốc độ nhất định truyền trong môi trường không khí, nước và chất rắn. Khi gặp vật trở ngại, nó sẽ phản xạ hồi âm và có thể bị môi chất hấp thu làm yếu đi. Đồng thời, siêu âm còn có một số đặc điểm vật lý quan trọng khác, ví dụ nó có hướng thống nhất với hướng ánh sáng, có thể phát thành chùm tia, phát thành những tia nắng.
Máy siêu âm vừa có tác dụng phát ra siêu âm, vừa có tác dụng thu tín hiệu phản xạ. Khi làm việc, nó tạo ra những sóng cơ cao tần, tức là siêu âm, định kỳ phát sinh tín hiệu siêu âm. Bác sĩ tay cầm đầu dò đặt vào những vị trí cần kiểm tra của bệnh nhân để thăm dò. Vì các tổ chức trong cơ thể dày đặc nên hệ số trở kháng và hệ số hấp thu siêu âm rất khác nhau. Đặc biệt, khi những tổ chức trong cơ thể bị viêm tích nước, sưng to, can xi hóa và có bóng khí thì hồi âm từ trong các cơ quan của cơ thể phản xạ lại sẽ rất khác nhau. Lúc đó, đầu dò có thể chuyển tín hiệu siêu âm phản hồi thành tín hiệu điện, thông qua một loại xử lý phức tạp và tinh tế của máy siêu âm để chuyển thành ảnh mặt cắt của các cơ quan và hiện lên màn hình. Bác sĩ căn cứ các ảnh mặt cắt khác nhau này để phân tích tổng hợp, từ đó xác định được tính chất và vị trí mắc bệnh.
|