CHƯƠNG 5
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ TRƯỜNG NĂNG LƯỢNG CON NGƯỜI
Mặc dầu các nhà thần bí không nói đến trường năng lượng hay hình thái bioplasma, truyền thống của họ qua 5.000 năm trên khắp bốn phương vẫn phù hợp với những quan sát mà các nhà khoa học bắt đầu tiến hành gần đây.
Truyền thống tâm linh
Người tinh thông của các tôn giáo nói về chuyện họ trải nghiệm hoặc nhìn thấy ánh sáng quanh đầu mọi người. Qua các thực hành tôn giáo như thiền định và cầu kinh, họ đạt tới các trạng thái bành trướng ý thức khai mở cho khả năng tri giác cao cấp tiềm tàng của họ.
Truyền thống tâm linh cổ đại của Ấn Độ, trải qua 5.000 năm nói về một loại năng lượng vũ trụ gọi là Prana. Năng lượng vũ trụ nầy được coi như thành phần cơ bản và nguồn gốc của mọi sự sống. Prana, hơi thở của sự sống, chuyển dịch qua mọi hình thái và mang sự sống đến cho chúng. Các nhà yoga thực hành thao tác năng lượng nầy qua các kỹ thuật thở, thiền định và thể dục để duy trì các trạng thái biến đổi ý thức và giữ gìn tuổi xuân vượt xa giới hạn bình thường.
Người Trung Hoa, ba ngàn năm trước công nguyên, thừa nhận sự tồn tại của một năng lượng sống mà họ gọi là Khí. Mọi vật chất, sống hoặc vô tri, đều gồm có và toả ra năng lượng vũ trụ nầy. Khi chứa đựng hai lực hoàn toàn trái ngược nhau là âm và dương. Khi âm và dương cân bằng thì cơ thể sống biểu lộ sức khoẻ thể chất, nếu mất cân bằng sẽ dẫn đến trạng thái bệnh tật. Dương thịnh dẫn đến hoạt động quá mức của các cơ quan. Âm thịnh dẫn đến hoạt động kém. Nếu cả hai mất cân bằng đều dẫn đến ốm đau. Nghệ thuật châm cứu cổ xưa tập trung vào việc cân bằng âm dương.
Kabbalah, thuyết thần trí huyền bí Do Thái, hình thành khoảng năm 538 trước công nguyên, quy những năng lượng tương tự là ánh sáng tinh tú. Các bức hoạ của đạo Thiên Chúa vẽ chân dung Chúa Jesus và các nhân vật tâm linh khác có trường ánh sáng bao quanh. Kinh Cựu Ước nhiều lần nhắc đến vầng sáng quanh con người và sự xuất hiện ánh sáng, nhưng qua bao thế kỷ, những hiện tượng nầy đã mất hết ý nghĩa ban đầu. Ví dụ, bức tượng Moses của MichelAngelo thể hiện Karnaeem như hai cái sừng mọc trên đầu thay vì hai chùm sáng mà thế giới buổi đầu đã nói đến (Trong tiếng Do Thái cổ, từ nầy vừa có nghĩa là sừng vừa có nghĩa là ánh sáng).
John White, trong cuốn sách của ông nhan đề Khoa học tương lai, liệt kê 97 nền văn hoá khác nhau nói đến hiện tượng hào quang với 97 tên gọi khác nhau.
Nhiều giáo huấn bí truyền – các đoạn trích Kinh Vệ Đà cổ Ấn Độ, các nhà Thần trí, các nhà Rosicrucians (một hội kín các triết gia ở thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18 rất thông thạo những bí mật của tạo háo, do Rosae Crucis khởi xướng từ thế kỷ 15 – ND), các thầy lang của thổ dân Mỹ, các Phật tử Tây Tạng và Ấn Độ, các Phật tử Zen Nhật Bản, Bà Blavatsky, Rudolph Steiner, v.v. – mô tả trường năng lượng con người một cách chi tiết. Gần đây, nhiều người qua công phu rèn luyện một cách khoa học hiện đại đã có thể tăng thêm khả năng quan sát thể chất ở mức cụ thể.
Truyền thống khoa học; 500 năm trước CN qua thế kỷ 19
Từ đầu đến cuối lịch sử, quan niệm về một năng lượng vũ trụ lan toả khắp tự nhiên đã được nhiều người có trí tuệ khoa học ở phương Tây kiên định. Năng lượng vũ trụ nầy, cảm nhận dưới dạng một vật thể sáng, đã được các môn đệ của phương Tây ào khoảng năm 500 trước công nguyên. Họ khẳng định rằng ánh sáng của trường năng lượng vũ trụ có thể tạo ra một số tác động khác nhau đối với thân thể con người, kể cả chữa bệnh.
Hai nhà thông thái Boirac và Liebeault đầu thế kỷ 12 thấy rằng con người có một năng lượng có thể gây tương tác từ xa giữa các cá thể. Họ kể rằng có người chỉ bằng sự có mặt của mình cũng làm cho người khác khoẻ mạnh hoặc ốm yếu. Nhà thông thái Paracelsus thời trung cổ gọi năng lượng nầy là “Illiaster” và nói rằng “Illiaster” đó gồm có cả sinh lực lẫn vật chất sống. Nhà toán học Helmont trong những năm 1800 hình dung ra một dòng chảy chất lỏng vũ trụ lan toả ra tự nhiên và đó không phải là vật chất hữu hình hoặc cô đặc, mà là một sinh linh thuần khiết thâm nhập mọi cơ thể. Nhà toán học Leibnitz viết rằng những yếu tố thíêt yếu của vũ trụ là các trung tâm lực chứa đựng cội nguồn vận động của chính chúng.
Các đặc tính khác của hiện tượng năng lượng vũ trụ được Helmont và Mesmer quan sát trong những năm 1800; chữ mesmerism, thuật thôi miên, ra đời từ đó. Họ tường trình rằng các vật sống hoặc vật vô tri đều có thể được nạp “chất lỏng” đó, và các vật thể hữu hình có thể tác động lẫn nhau từ xa. Điều nầy gợi ý về khả năng tồn tại của một trường, giống như trường điện từ, trong chừng mực nào đó.
Count Wilhelm Von Reichenbach bỏ ra 30 năm giữa của những năm 1800, để thí nghiệm cái trường mà ông gọi là lực “odic”. Ông thấy rằng nó biểu lộ nhiều đặc tính tương tự như trường điện từ mà James Clerk Maxwell đã mô tả vào thế kỷ 19. Ông cũng thấy có nhiều đặc tính chỉ duy nhất lực Odic mới có. Ông xác định rằng các cực của nam châm biểu lộ không những tính có cực từ mà còn thêm một tính có cực duy nhất kết hợp với “trường odic” nầy. Các vật khác, như các tinh thể chẳng hạn, cũng biểu lộ tính có cực duy nhất đó, mặc dầu bản thân chúng không có từ tính. Các cực của trường lực odic biểu lộ các đặc tính chủ quan là “nóng, đỏ và khó chịu”, hoặc “xanh, lạnh và dễ chịu” khi quan sát những cá thể nhạy cảm. Hơn nữa, ông xác định rằng các cực khác dầu không hút nhau như trong điện từ. Ông thấy rằng, với lực odic, các cực cùng dấu hút nhau, hoặc “giống nhau thì hút nhau”. Đây là một hiện tượng hào quang vô cùng quan trọng, như ta sẽ thấy sau nầy.
Von Reichenbach nghiên cứu mối quan hệ giữa bức xạ điện từ của mặt trời và những thao tác tập trung trường odic của nhiều người kết hợp với nhau. Ông thấy rằng mức tập trung lớn nhất của năng lượng nầy nằm giữa vùng đỏ và vùng tím ngả xanh của quang phổ. Von Reichenbach nói rõ ràng các điện tích khác dẫu tạo ra các cảm giác chủ quan về ấm và lạnh ở mức độ mạnh yếu khác nhau, mà ông có thể liên hệ với bảng tuần hoàn nguyên tố Mendeleev qua một loạt test với những chủ thể thực nghiệm được bịt mắt. Tất cả các ýêu tố điện dương tạo cảm giác chủ quan về ấm và gây ra cảm giác khó chịu; tất cả các yếu tố điện âm ngả về phía lạnh, dễ chịu, có mức cảm giác mạnh hay yếu tương ứng với vị trí của chúng trên bảng tuần hoàn. Các cảm giác thay đổi từ ấm sang lạnh tương đương với các màu của quang phổ thay đổi từ đỏ sang chàm.
Von Reichenbach thấy rằng trường odic có thể dẫn truyền qua dây kim loại, tốc độ dẫn truyền rất chậm (xấp xỉ 4m/s hoặc 13 lut/s) và tốc độ nầy dương như tuỳ thụôc vào tỷ trọng khối lượng hơn là vào dẫn suất của vật liệu. Hơn nữa, có thể nạp năng lượng nầy cho các vật thể theo phương thức tương tự như nạp bằng cách sử dụng điện trường. Các thí nghiệm khác chứng minh rằng có thể quy tụ phần nầy của trường như quy tụ ánh sáng bằng thấu kính, trong khi phần kia vẫn toé ra xung quanh thấu kinh, tựa như ngọn lửa nến toé ra xung quanh các vật đặt trên đường đi của nó. Phần lệch của trường odic cũng vẫn tác động như ngọn lửa nến khi nó được đặt vào giữa luồng không khí, điều nầy gợi lên giả thuyết cho rằng cấu tạo của nó giống như chất khí. Các thí nghiệm nói trên cho thấy trường hào quang có những đặc tính gợi lên nhận xét chorằng nó vừa có tinh hạt như chất lỏng, vừa có năng lượng như sóng ánh sáng.
Von Reichenbach thấy rằng lực trong thân thể con người tạo ra tính có cực tương tự như cái hiện hữu trong các tinh thể dọc theo những trục chính của chúng. Dựa trên các bằng chứng thí nghiệm, ông mô tả phần bên trái của thân thể như một cực âm và phần bên phải như một cực dương. Đây là một khái niệm tương tự như nguyên lý âm dương của người Trung Hoa cổ xưa đã trình bày ở trên.
|