CHƯƠNG 5(tt)
Quan sát khoa học của các bác sĩ thế kỷ 20
Từ các chương trên, ta có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu cho đến thế kỷ 20 hướng tới việc quan sát những đặc tính khác nhau của một trường năng lượng bao quanh con người và các vật thể khác. Từ năm 1990, nhiều bác sĩ đã quan tâm nhiều đến hiện tượng nầy.
Năm 1911, bác sĩ William Kilner báo cáo các nghiên cứu của mình về trường năng lượng con người được nhìn thấy qua màn màu và bộ lọc. Ông mô tả cái mình nhìn thấy như một màn sương rực sáng xung quanh toàn bộ thân thể ở ba vùng : a) lớp màu tối rộng ¼ in. sát mặt da; b) lớp giống hơi nước hơn, rộng 1 in. tuôn ra thẳng góc với thân thể, bao quanh lớp nói trên; c) lớp ngoài cùng, sáng và mỏng manh, hơi ra xa một chút, có đường bao quanh không rõ rệt, rộng khoảng 6 in. Kilner thấy rằng điện mạo của “hào quang” (như ông vẫn gọi) của từng người khác nhau, tùy theo tuổi, giới tính, khả năng tâm thần và sức khỏe. Một số bệnh tật biểu lộ ra thành những đốm lớn hoặc những bất thường trên hào quang, dẫn Kilner đến chỗ phát triển một hệ thống chẩn đoán dựa trên màu sắc, cách sắp xếp, thể tích và diện mạo của lớp bọc. Một số bệnh được ông chẩn đoán bằng cách nầy là viêm nhiễm gan, các khối u, viêm ruột thừa, động kinh và các rối loạn tâm lý như hysteria.
Giữa những năm 1900, BS George De La Warr cùng với BS Ruth Brown tạo ra những dụng cụ mới để phát hiện bức xạ từ các mô sóng, phát triển Bức Xạ Học, một hệ thống dò tìm, chẩn đoán và chữa trị từ xa bằng cách sử dụng năng lượng sinh học của con người. Công trình gây ấn tượng sâu sắc nhất của ông là những bức ảnh chụp bằng cách sử dụng tóc của bệnh nhân làm antenna. Các bức ảnh nầy cho thấy những cấu trúc bệnh lý bên trong mô sóng, như các khối u và nang trong gan, lao phổi và u ác ở não. Thậm chí ông còn chụp được một bào thai ba tháng trong dạ con.
BS Wilhelm Reich , nhà tâm thần học, bạn đồng sự của Freud, trong phần đầu của thế kỷ 20, bắt đầu quan tâm đến một loại năng lượng vũ trụ mà ông gọi là “orgone”. Ông nghiên cứu mối quan hệ của các nhiễu loạn dòng chảy orgone trong thân thể người với các bệnh thức thể và bệnh tâm lý. Reich phát triển một phương thức tâm lý liệu pháp trong đó các kỹ thuật phân tích Freud về trạng thái bỏ ngõ tiềm thức được hợp nhất với các kỹ thuật vật lý để giải tỏa tắc nghẽn cho dòng chảy tự nhiên của năng lượng orgone trong thân thể. Bằng cách giải tỏa các tắc nghẽn nầy, Reich có thể xua tan được các trạng thái tâm thần và cảm xúc tiêu cực.
Trong thời kỳ từ 1930 đến 1950, Reich tiến hành nhiều thí nghiệm về năng lượng nầy bằng cách sử dụng các trang thiết bị điện tử và y học mới nhất thời bấy giờ. Ông quan sát thấy năng lượng nầy rung động trên bầu trời và xung quanh tất cả các vật sống hoặc vô tri. Ông quan sát các rung động của năng lượng orgone phát ra từ các vi sinh vật bằng cách sử dụng một kính hiển vi cực mạnh có cấu tạo đặc biệt.
Reich chế ra nhiều loại dụng cụ vật lý để nghiên cứu trường orgone . Một dụng cụ của ông là "bộ tích lũy" có khả năng cô đặc năng lượng orgone được ông dùng để nạp năng lượng này cho các vật thể. Ông quan sát thấy rằng một cái đèn ống chân không xả điện vẫn được một dòng điện có điện thế thấp hơn nhiều lần so với dòng điện xả bình thường của nó sau khi được nạp trong bộ tích lũy nầy một thời gian lâu . Hơn nữa, ông còn công nhận là đã tăng được tốc độ phân rã hạt nhân của một đồng vị phóng xạ bằng cách đặt nó vào trong bộ tích lũy orgone .
BS Lawrence Bendit và Phoebe Bendit tiến hành nhiều quan sát sâu rộng về trường năng lượng con người vào năm 1930 và liên hệ các trường nầy với sức khỏe, chữa trị và phát triển tâm trí. Công trình nghiên cứu của hai ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức và sự thấu hiểu các lực hình thành etheric hùng mạnh vốn là nền tảng của sức khỏe và chữa trị trong thân thể.
Gần đây hơn, BS Schafca Karagulla đối chiếu những quan sát bằng mắt do các nhà ngoại cảm tiến hành với tình trạng rối loạn thực thể. Ví dụ, một nhà thấu thị tên là Dianne có khả năng quan sát các mô hình năng lượng ở những người ốm yếu và mô tả một cách rất chính xác những vấn đề về y học, từ rối loạn não cho đến tắc đại tràng. Những nhận xét về cơ thể etheric nầy cho thấy một cơ thể năng lượng sống hoặc một trường tạo thành ma trận thâm nhập vào thân thể đậm đặc như một mạng lưới lấp lánh những chùm sáng. Ma trận năng lượng nầy là mô hình cơ bản trên đó vật chất thực thể của các mô được hình thành và giữ chặt. Các mô tồn tại như là chỉ vì có trong sống đó ở phía sau .
BS Karagulla cũng đối chiếu rối loạn của luân xa với bệnh tật. Ví dụ, nhân ngoại cảm Dianne mô tả luân xa ở cổ của một bệnh nhân tính tình quá nhanh nhẩu có màu đỏ và xám xỉn. Khi Dianne nhìn thẳng vào tuyến giáp thì thấy nó có cấu trúc quá xốp và mềm. Phần bên phải của tuyến giáp hoạt động không tốt bằng phần bên trái. Bệnh nhân được chẩn đoán qua các kỹ thuật y khoa thông thường là bị bệnh Graves làm cho tuyến giáp to ra và thùy phải to hơn thùy tráị.
TS Dora Kunz, chủ tịch Phân hội thần trí Mỹ, đã nhiều năm làm công tác y học và chữa trị. Trong công trình Diện mạo tâm linh của nghệ thuật chữa trị, bà nhận xét rộng: "Khi trường sinh lực được khỏe mạnh thì bên trong nó có một nhịp điệu tự trị tự nhiên " và "mỗi cơ quan trong thân thể có nhịp điệu năng lượng tương ứng của nó trong trường etheric."
Giữa các khu vực của những cơ quan khác nhau, các nhịp khác nhau tương tác như thể đang xảy ra một chức năng di chuyển; khi thân thể được nguyên vẹn và khỏe mạnh, các nhịp diệu nầy di chuyển dễ dàng từ cơ quan nầy sang cơ quan khác. Tuy nhiên, trong trường hợp bệnh lý, các nhịp điệu cũng như các mức năng lượng đều thay đổi. Ví dụ, di chứng của phẫu thuật cắt ruột thừa có thể thấy được trong trường năng lượng. Các mô của thân thể, lúc nầy áp sát nhau, đều có một chức năng di chuyển năng lượng thay đổi xuất phát từ mô trước đây do ruột thừa điều chỉnh. Trong vật lý học, điều nầy được mệnh danh là "ngược đôi " hoặc "không xứng đôi ". Mỗi một mô kế cận bị "ngược đôi " có nghĩa là năng lượng có thể chẳng qua tất cả các mô. Phẫu thuật hoặc bệnh tật làm thay đổi tình trạng "ngược đôi " đến mức mà năng lượng bị tiêu hao ở mức độ đó hơn là được di chuyển."
BS John Pienakos phát triển một hệ thống chẩn đoán và chữa trị các rối loạn tâm lý dựa trên các quan sát trường năng lượng con người thu được bằng mắt thường và bằng con lắc. Thông tin từ các quan sát của ông về các cơ thể năng lượng phối hợp với các phương pháp tâm lý trị liệu được phát triển trong Năng lượng học sinh học và với một công trình nói về quan điểm do Eva Pierrakos phát triển. Quá trình nầy, được gọi là Năng lượng học nồng cốt, là một quá trình thống nhất việc chữa trị bên trong tập trung tác động qua những cơ cấu bảo vệ cái tôi và nhân cách, nhằm khai thông các năng lượng của thân thể. Năng lượng học nồng cốt nhằm cân bằng tất cả các cơ thể (thể chất etheric , cảm xúc, tâm thần và tâm linh) để thực hiện việc chữa trị hài hòa cho con người một cách trọn vẹn.
Từ các công trình nói trên, tôi kết luận rằng phát sáng từ thân thể con người có liên quan đến sức khỏe. Tôi trù định một việc rất quan trọng là tìm ra phương thức định lượng hiện tượng phát sáng nầy bằng phương tiện đo ánh sáng được tiêu chuẩn hóa, đáng tin cậy nhằm làm cho thông tin nầy có thể xử dụng được trong chấn động lâm sàng của ngành y và làm cho bản thân năng lượng trở nên bổ ích trong điều trị.
Các đồng sự và tôi đã điều khiển một số thí nghiệm đo trường năng lượng con ngườị. Trong một thí nghiệm, BS Richard Dobrin, BS John Pierrakos và tôi đã đo được mức ánh sáng có chiều dài sóng khoảng 350 nanomet trong buồng tối trước, trong, và sau khi có mặt nhiều người. Các kết quả cho thấy ánh sáng hơi tăng trong buồng tối khi có nhiều người trong đó. Trong một trường hợp, mức ánh sáng giảm thực sự một người nào đó mệt lã và đầy tuyệt vọng có mặt trong buồng tối. Trong một thí nghiệm khác tiến hành cùng câu lạc bộ cận tâm lý học Mỹ , chúng tôi có thể trình bày một phần của hào quang trên màn ảnh vô tuyến đen trắng với một thiết bị được sử dụng gọi là bộ tạo màu . Thiết bị nầy làm cho người ta có khả năng khuếch đại mạnh mẽ những biến thiên cường độ sáng ở gần thân thể.
Trong một thí nghiệm khác, tiến hành tại trường đại học tổng hợp Drexel, cùng với William Eidson và Karen Gestla một nhà ngoại cảm làm việc với BS Rhine nhiều năm tại trường đại học tổng hợp Duke, chúng tôi đã thành công trong việc dùng năng lượng hào quang tác động lên một chùm nhỏ tia laser 2 mw làm cho nó uốn cong hoặc yếu đi.
Tất cả những thí nghiệm nầy giúp xác định sự tồn tại hiển nhiên của các năng lượng, nhưng vẫn chưa kết luận các kết quả được truyền đi khắp nơi trên các buổi phát vô tuyến truyền hình của NBC, nhưng việc nghiên cứu tiếp tục không được tiến hành vì thiếu ngân quỹ.
Ở Nhật Bản, Hiroshi Motoyama đã có thể cản mức ánh sáng thấp phát ra từ tiến hành nghiên cứu nầy trong buồng tối, với một camera điện ảnh làm việc ở mức ánh sáng yếu .
BS Zheng Rongliang ở Trường đại học tổng hợp Lanzhọu, Trung Quốc, đo năng lượng (gọi là "Khí") tỏa ra từ thân thể người bằng cách xử dụng máy dò sinh học làm bằng một gân lá cây nối với một thiết bị quang lương tử (thiết bị đo ánh sáng yếu). Ông nghiên cứu hiện tượng tỏa trường năng lượng của một thầy dạy khí công (khí công là một dạng thể dục dưỡng sinh cổ xưa của Trung Hoa). Và hiện tượng tỏa trường năng lượng của một nhà thấu thị. Kết quả các nghiên cứu của ông cho thấy hệ thống phát hiện đáp ứng lại bức xạ dưới dạng xung. Xung tỏa ra từ bàn tay của thầy dạy khí công khác xa xung của nhà thấu thị.
Tại Viện nghiên cứu hạt nhân Shanghaì của Viện hàn lâm Sinica, người ta cho biết rằng một số sinh lực phát ra từ các thầy dạy khí công" dường như có sóng âm tần số rất thấp xuất hiện dưới dạng một sóng mang dao động tần số thấp. Trong một vài trường hợp, người ta cũng phát hiện thấy "khí " dưới dạng một dòng chảy vi hạt. Đường kính các hạt này khoảng 60 micron và chúng có vận tốc khoáng 20-50 cm~ (hay 8-20 in/s).
Vài năm trở lại đây, một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu thông tin sinh học ẠS. Popov công bố phát hiện các sinh vật phát ra những rung động năng lượng có tần số từ 300 đến -2.000 nanomet. Họ gọi năng lượng này lập trường sinh học hoặc bioplasma. Họ thấy rằng những người có khả năng chuyển năng lượng sinh học thì có trường sinh học rộng hơn và mạnh hơn. Những phát hiện nầy được xác nhận tại Viện Hàn lâm y học Maxcơva và được các nghiên cứu tại Anh, Hoà Lan, Đức và Ba Lan đồng tình .
Nghiên cứu lý thú nhất về hào quang con người mà tôi thấy đã được BS Valone Hunt và những người khác tiến hành tại UCLA. Trong một nghiên cứu về tác động của việc điều khiển tâm thần lên thân thể và linh hồn (“Nghiên cứu cấu trúc Trường năng lượng thần kinh cơ và tiếp cận cảm xúc), bà ghi được các dấu hiệu có tần số rất thấp từ thân thể người trong môt loạt các buổi điều khiển tâm thần.
Để ghi nhận chúng, bà đã dùng các điện cực cơ bản bằng bạc/clorure hạc đặt lên da, cũng trong thời gian nầy bằng cách ghi các dấu hiệu điện tử. Đức Rosalyn Bruỵère thuộc trung tâm chữa trị bằng ánh sáng, Glendale, California, quan sát các hào quang của cả người điều khiển tâm thần và của người được điều khiển. Bình luận của bà đã được ghi vào cuốn băng ghi các dữ kiện điện từ. Bà trình bày một bản báo cáo về màu sắc, kích thước và vận động năng lượng của các luân xa, kể cả những đám mây hào quang.
Về sau, các nhà khoa học phân tích về mặt toán học các mô hình sóng đã ghi được bằng giải tích Furier và giải tích tần số âm thanh đồ, đều thu được kết quả đáng kể.
Các hình thái sóng và tần số kiên định đặc biệt tương quan với những màu sắc mà Đức Bruyère đã báo cáo. Nói cách khác, khi Đức Bruyère quan sát thấy màu xanh trong hào quang ở bất cứ vị trí đặc hiệu nào thì các số đo điện tử bao giờ cũng cho thấy hình thái sóng màu xanh và tần số đặc hiện tại những vị trí đó.
BS Hunt lặp lại thí nghiệm nầy với bảy người đọc hào quang khác.
Họ nhìn thấy màu sắc hào quang tương quan với cùng mô hình tần số/sóng.
Tháng 2- 1988, các kết quả của công trình nghiên cứu đang tiến triển cho thấy những tương quan màu sắc/tần số sau đây (II/. = l~ertz, hay chu kỳ/giây):
Xanh 250-275Hz, pkuis 1200Hz/
Lục 250-475 Hz
Vàng 500-700 Hz
Da cam 950-1050 Hz
Đỏ 1000-1200 Hz
Tím 1000-2000 Hz, pkus 300-400; 600-800 Hz
Trắng 1100-2000 Hz
Các dải tần số nầy ngoại trừ các dải phụ cho xanh và tím, đều sắp xếp ngược thứ tự của chuỗi màu cầu vồng. Các tần số ghi được là sự xác nhận vai trò của thiết bị cũng như sự hiện hữu của năng lượng được đo.
BS Hunt nói: “Trải qua nhiều thế kỷ các nhà ngoại cảm nhìn thấy và mô tả hiện tượng phát hào quang, đây là lần đầu tiên chúng ta thu được bằng chứng điện tử khách quan về tần số, biên độ và thời gian khẳng định các nhận xét chủ quan của họ về hiện tượng tỏa màu sắc.
Các tần số màu sắc tìm được ở đây không sao chép các tần số của ánh sáng và sắc tố , nhưng điều đó không phủ nhận phát minh nầy. Khi chúng ta nhận thức rõ ràng cái mà chúng ta nhìn thấy dưới dạng màu sắc là những tần số được con mắt nắm bắt, được phân biệt và cho một ký hiệu, thì bấy giờ không có gì chứng tỏ là các trung tâm chế biến của mắt và não chỉ diễn giải màu sắc dưới dạng tần số cao Tiêu chuẩn chủ yếu cho trải nghiệm màu sắc này là sự thể hiện thị giác. Tuy nhiên, với dụng cụ tinh vi hơn, kỹ thuật ghi và xừ lý số liệu được cải tiến, thì những số liệu nàỵ bước đầu tiên 1.500 Hz. Có thể sẽ nhanh chóng chứa đựng các tần số cao hơn.
BS Hunt cũng nói rõ rằng "các luân xa thường xuyên mang những màu sắc đã định trong các tài liệu siêu hình học, nghĩa là đỏ hỏa xà, da cam-hạ vị, vàng-lách, lục-tím, xanh-hy vọng, tím-con mắt thứ ba và trắng đỉnh đầu. Hoạt động ở một vài luân xa dường như làm giảm hoạt động tại một số luân xa khác. Luân xa tim luôn là luân xa hoạt động mạnh nhất.
Các đối tượng có nhiều trải nghiệm cảm xúc, hình ảnh và hồi ức đều liên kết với các vùng khác nhau được điều khiển tâm thần. Những phát hiện nầy làm cho chúng ta tin chắc rằng các ký ức về trải nghiệm được tích trữ trong các mô của thân thể".
Chẳng hạn khi hai chân của người nào đó được điều khiển bằng tâm thần, anh ta có thể sống lại rõ ràng các trải nghiệm về sự dạy dỗ đơn giản thời thơ ấu. Anh ta không những nhớ mà còn sống lại điều nầy một cách xúc động. Nhiều khi bố mẹ có công dạy dỗ con cái một cách đơn giãn trước khi trẻ tạo được mối liên kết não cơ để có thể kiểm soát cơ vòng điều hòa sự bài tiết. Vì trẻ không thể kiếm soát được cơ vòng về mặt sinh lý, nó sẽ bù lại bằng cách siết chặt các cơ bắp đùi. Điêù này tạo ra nhiều căng thẳng trên thân thể. Nhiều khi căng thẳng đó giữ mãi suốt đời, hoặc giữ cho đến khi được chữa trị chu đáo bằng điều khiển tâm thần hoặc bằng năng lượng học sinh học.
Bấy giờ khi áp lực và căng thẳng ở cơ được giải tỏa thì ký ức cũng được giải thoát theo. Một ví dụ khác về duy trì ký ức áp lực là trạng thái hai vai bị bó mà người ta thường có. Đó là do sợ hãi hoặc lo lắng ở đôi vai . Bạn có thể tự hỏi, cái mà bạn sợ sẽ không đủ khả năng thực hiện là cái gì, hoặc cái gì mà bạn nghĩ sẽ xảy ra nếu bạn không thành công là cái gì.
Kết luận
Nếu ta định nghĩa trường năng lượng con người là tất cả các trường hoặc những cái phát ra từ thân thể con người thì ta có thể thấy rằng nhiều thành phần mà ai cũng biết của trường năng lượng con người đã được đo đạc trong phòng thí nghiệm. Đó là các thành phần tĩnh điện, từ tính, điện từ, âm thanh, nhiệt và thị giác của trường năng lượng con người.
Tất cả những số liệu đo đạc phù hợp với các quá trình sinh lý hình tượng của thân thể và còn vươn quá giới hạn những quá trình nầy để cung cấp cho ta một phương tiện nghiên cứu hoạt động tâm thể.
Những số liệu đo dạc của BS Hunt cho thấy nhữrng tần số xác định của các màu và của hào quang. Các tần số nầy có thể có những phần trội cao hơn không ghi nhận được do những hạn chế của trang thiết bị thí nghiệm có liên quan.
Những số liệu đo đạc liệt kê trên đây cũng cho thấy trường năng lượng con người về bản chất và có chuyển động tựa chất lỏng, cũng như luồng không khí hay dòng nước. Những hạt nầy rất bé, thậm chí là hạ nguyên tử theo như một số nhà nghiên cứu. Khi tích điện, các hạt nhỏ cùng nhau chuyển động trong những đám mây mà các nhà vật lý thường gọi là plasma . Các plasma tuân theo một số định luật vật lý làm cho các nhà vật lý đi đến chỗ coi chúng như trong trạng thái giữa năng lượng và vậl chất. Nhiều đặc tính của trường năng lượng con người đo được trong phòng thí nghiệm làm nảy ra khả năng hiện hữu của trạng thái thứ năm của vật chất mà một số nhà khoa học gọi là “bioplasma”.
Những nghiên cứu nầy cho thấy rằng mô hình thông thường của thân thể gồm các cơ quan (như cơ quan tiêu hóa) là không đầy đủ. Cần phát triển một mô hình bổ sung dựa trên khái niệm trường năng lượng cấu tạo. Mô hình trường điện từ phức tạp không đáp ứng đầy đủ mục đích nầy. Nhiều hiện tượng tâm linh liên đới với trường năng lượng con người như tiên tri hoặc nắm được thông tin về tiền kiếp, không thể lý giải bằng trường điện từ.
Theo BS Valorie Hunt con người có thể được nhìn với một khái niệm lượng tử về năng lượng xuất phát từ bản chất tế bào nguyên tử của thân thể hoạt động, nó đi tắt qua mọi mô và mọi hệ. Bà gợi ý rằng quan điểm toàn đồ về trường năng lượng con người là một quan điểm đúng đắn. Khái niệm toàn đồ rõ nét lên trong nghiên cứu vật lý học và nghiên cứu bộ não có thể cung cấp cho ta một quan điểm vũ trụ thực sự thống nhất về thực tại, đòi hỏi phải giải thích lại mọi phát minh sinh học trên một bình diện khác."
Trong Tập san Trí nhớ của não, Marilyn Ferguson tuyên bố rằng " mô hình toàn đồ đã được mô tả mẫu nổi bật", một lý thuyết trọn vẹn chắc chắn sẽ nắm bắt được mọi cuộc sống phóng túng kỳ diệu của khoa học và tâm linh.
Cuối cùng đây là một lý thuyết xe duyên sinh học với vật lý học trong một hệ thống mở.
Điểm lại Chương 5
1 Trường năng lượng con người đã được đo như thế nào ?
2. Nhân loại được biết về hiện tượng hào quang lần đầu tiên vào thời điểm nào ?
3. Hào quang lần đầu tiên được quan sát thấy vào năm nào của thế kỷ 19 và do ai ?
4. Hiện tượng trường năng lượng con người vượt qua điều mà khoa học ngày nay biết như thế nào ?
5. Từ quan điểm của khoa học lý thuyết và thực nghiệm ngày nay, mô hình đúng đắn để giải thích hiện tượng trường năng lượng con người là mô hình gì ?
|