Cuộc săn tê giác
Tác giả: Moh Ambri
Truyênh ngắn Indonexia
Sáng hôm ấy tôi dậy muộn. Lúc đó đã hơn 8 giờ và trời bắt đầu nóng. Tôi rất đói, nhưng ngay cả khi tắm xong tôi cũng không thấy một dấu hiệu gì chứng tỏ có người sẽ cùng ăn điểm tâm. Tò mò, tôi ra vườn, đi vòng quanh nhà rồi nhìn vào cửa sổ nhà bếp. ở đó thậm chí không hề có mùi nấu nướng thức ăn. Ngạc nhiên không biết có chuyện gì đã xảy ra, tôi châm thuốc lá. Vừa lúc đó Mô-mô và Đát-giơ bước vào vườn. Trông thấy tôi, họ dừng lại và Mô-mô hỏi, vẻ ngạc nhiên:
- Sao anh lại hút thuốc? - ờ - tôi đáp, - bao giờ trước bữa ăn tôi chả hút thuốc lá.
- Nhưng hôm nay là ngày đầu tiên của lễ Ra-ma-dan cơ mà, - anh ta nói. Tôi giật mình nhận ra là anh ta đúng.
Tôi nói:
- Ồ sao mình lại có thể quên được nhỉ.
- Phải rồi, - Mô-mô nói, - anh quên thì cũng phải thôi.
- Nhưng quả thực là tôi không thích nhịn. Tôi rất đói. Và thêm nữa, đêm qua tôi quên đọc kinh Ra-ma-dan. Đát-giơ cắt ngang.
- Một khi anh không thích nhịn như anh vừa nói thì cũng đừng nói ồn lên thế.
- Thôi được, sự việc là suốt từ lúc ngủ dậy đến giờ tôi thèm ăn quá.
- Đúng rồi, - Đát-giơ nói, - thôi thì ta đi xem xem thức ăn thừa hôm qua có còn gì không? Ba chúng tôi đi vào cái bếp trống rỗng. Lục lọi khắp nơi. Đát-giơ tìm được một ít cơm nguội, nhưng có vẻ không được ngon. Thế rồi anh ta đi vào buồng chứa thức ăn. Giây lát sau anh ta quay ra nói:
- Chạn khóa rồi. Mô-mô hỏi:
- Ở quầy bán thức ăn quanh đây có gì không nhỉ?
- Vào cái ngày đầu tiên của lễ Ra-ma-dan này làm gì có quầy hàng nào mở cửa. - Đát-giơ nói.
- Nhưng chúng ta thử lục tìm trong kho xem sao.
Chúng tôi rời nhà bếp. Lúc đi qua văn phòng của đồn điền, chúng tôi thoáng nghe ông già Xu-an-ta đang nói. Mọi người khác đang cười. Chúng tôi rẽ vào phòng. Đát-giơ hỏi:
- Có chuyện gì vui vậy? Một người đáp:
- Bác Xu-an-ta đang kể chuyện phiêu lưu của bác, chuyện bác bị tê giác đuổi.
Chúng tôi nói rằng chúng tôi cũng muốn nghe và đề nghị kể lại từ đầu.
- Sẵn sàng, - bác Xu-an-ta đáp,
- tôi vừa mới kể đến phần hấp dẫn, nhưng thôi, để tôi kể lại từ đầu. Và đây là chuyện của ông:
*
* *
Chuyện này cách đây đã nhiều năm, từ khi tôi còn trẻ. Người ta đồn rằng có vài con tê giác sống ở cánh rừng gần đây. Thế là ông chủ tôi - tức là cha của cậu Đát-giơ - đã phái một người am hiểu rừng đi xem xét và đồng thời cử đi hai, hay ba thợ săn để tìm vết chân tê giác. Những người ấy trở về nói rằng không còn nghi ngờ gì nữa, ở quanh đầm lầy Tơ-gi-bi-rua có dấu chân thú sâu hơn nhiều so với dấu chân trâu. Ông chủ tôi bèn cử người đi cáo với các quan chức ở tỉnh và địa phương. Trong vòng ba ngày, ngài phó vương và các quan chức khác của địa phương đã tới tham gia săn tê giác. Ông chủ tôi tập hợp các trưởng thôn quanh vùng, cùng nhiều thợ săn, những người theo dõi vết thú, những người khuân vác thành một đoàn phục vụ các vị chức sắc. Ai nấy tụ họp lúc rạng đông và đi vào rừng. Các quan chức cưỡi ngựa, dân làng đi bộ theo sau mang giáo, mác, dao và mõ tre. Phu khuân vác mang thức ăn đựng trong túi xách, rổ làn bằng vỏ cây và dây rợ; mặt khác họ không có khí giới nào khác ngoài dao rựa. Việc săn tê giác hoàn toàn khác với việc săn các con thú khác. Người ta cần phải dựng trại ở trong rừng và mang thức ăn đủ trong ba, bốn ngày. Rồi lại phải mang những túi gạo, nồi để nấu cơm, không kể chỗ cơm đã nấu sẵn.
- Còn đạn dược thì thế nào? - Tôi hỏi.
- Không có gì cả. - ông già trả lời.
- Tất cả những gì tôi phải mang theo là súng đạn của ông chủ.
- Như vậy là bác không phải mang thức ăn à?
- Không. Việc ăn uống của những người hầu ông chủ thì do ông chủ định liệu.
Tuy vậy ông ta là một người hào phóng thường cho chúng tôi ăn uống no nê. Và ông già tiếp tục câu chuyện.
*
* *
Trời hãy còn sớm thì chúng tôi đã đến bìa rừng; bắt đầu nóng. Chúng tôi bắt tay vào việc dựng lều chắc chắn để ngủ qua đêm giữa nơi đồng không mông quạnh. Khi dân làng đến nơi thì họ được chia ra thành từng nhóm. Sau đó họ đi theo các hướng khác nhau, chỉ bớt đi một ít người dựng lều. Từng nhóm một do trưởng thôn điều khiển cùng với một quan chức có súng. Phó vương cùng các quan chức khác lên đường đến nơi mai phục. Đó là một bãi đất trống. ở đó đã có sẵn một cái nền, thực ra không phải như vậy mà là một cái chòi dựng trên nền đất, cột chòi bằng cây tươi. Các cành lá trên cây được phát đi để nhìn ra xung quanh cho rõ và các tay súng thì trèo vào trong chòi chờ đợi. Đây là một địa điểm mai phục rất thú vị. Chỉ cần tê giác xuất hiện ở một chỗ nào gần đó; thì chỉ một phát đạn chính xác cũng hạ được nó. Suốt ngày nghe tiếng mõ tre từ xa vang lại. Đó là những người lùa thú đang đi tìm tê giác. Có cảm giác như tiếng ồn không bao giờ dứt. Cái ngày đầu tiên ấy không có chuyện gì xảy ra cả. Sự việc như vậy lại lặp lại trong ngày hôm sau. Vòng vây của đám người lùa thú cùng với tiếng mõ của họ cứ hẹp dần. Một đêm nữa lại đến không mảy may dấu vết tê giác. Sáng sớm ngày thứ ba, dân của một đồn điền gần đấy cáo tin tê giác về làng họ vào đêm trước. Những người chuyên tìm dấu vết thú rừng được cử đi xem xét và trở về nói rằng thú rừng đã ra khỏi làng vào khu rừng gần chỗ mai phục của chúng tôi. Những người lùa thú bao vây một khoảnh rừng và những người tìm dấu vết thú tiếp tục công việc, xác định rằng các con thú chưa ra khỏi rừng.
Ai nấy đều tin chắc tê giác đang ở trong vòng vây. Các tay súng đã chọn nơi mai phục ấy được khen là giỏi. Ai nấy nóng lòng chờ đợi. Người ta nổi lửa ở phía nam và phía đông khu rừng. Trời có gió to, lửa bốc cao, đùn khói lên bầu trời. ở phía tây thì hò hét, gõ mõ ầm ĩ. Lửa lan nhanh, lưỡi lửa liếm ra khắp các hướng, gầm rít, ầm ào làm đen kịt bầu trời. Khi lửa từ phía đông gặp lửa từ phía nam, thì làn khói bốc lên còn cao hơn. Vòng tròn bao vây hẹp dần lại và chẳng mấy chốc tiếng rầm rít của lửa át cả tiếng hò hét và tiếng mõ. Thật là khiếp đảm. Ngồi trên cành cây mà tim tôi cứ đập thình thịch; tôi cố gắng giữ bình tĩnh. Tôi tụt xuống, nhập vào đám người đương la hét. Chúng tôi nghe thấy tiếng tê giác chạy ra khỏi rừng cháy. Đám người vừa chạy, vừa hò hét lao thẳng về phía bãi đất khô mọc đầy cỏ và cây nhỏ. Chỉ có một vài cây cao. Bất ngờ ở phía đông xuất hiện tê giác; trông chúng như những tảng đá lớn. Mọi người la hét:
“Tê giác! Tê giác!" Tiếng mõ gõ nghe ầm ĩ hơn. Những con tê giác đi về phía tây. Có tất cả ba con: con đực, con cái và con con. Khi thấy bị bao vây, lũ tê giác quay trở lại, tiến về phía đông, rồi dừng lại nơi bìa rừng. Chúng có vẻ sợ lửa, rồi bị khói làm ngạt thở, nên quay về phía tây và bị mọi người chặn lại. Cuối cùng bối rối, chúng đứng ngay giữa bãi đất khô. Không chắc chắn con tê giác lớn nhất đã là con đực. Nó rống lên, cái mõm há rộng. Trời ơi, tôi vẫn còn nhớ cái mõm của nó đỏ khủng khiếp và những cái răng dữ tợn. Các vị chức sắc quát mọi người thu hẹp vòng vây lại. Lửa và khói bốc lên thành một bức tường cao, đen. Cỏ cháy sém.
Những con tê giác đánh hơi thấy nguy hiểm, đã thực sự lo lắng. Chúng chỉ còn một con đường thoát là chạy về phía bắc. Nhưng lạ thay, chúng không muốn chạy về phía đó. Có lẽ chúng đánh hơi thấy sự hiện diện của chúng tôi. Có cảm giác là chúng đang nghĩ, đang chăm chú nhìn về chân trời phía tây nam. Lúc đó đã 5 giờ rưỡi chiều. Tiếng tù và và tiếng mõ tre vang lên. Những con tê giác tựa như đang mơ màng, bỗng giật mình, con tê giác đực rống lên, lao về phía tây. Mặc mọi người la hét ầm ĩ, con tê giác lao thẳng vào đám đông. Rồi nó rống lên gọi vợ và con nó. Cả ba con chạy thành hàng một, con con chạy giữa và chúng chạy thoát qua kẽ hở giữa đám người. Ai nấy hốt hoảng. Nhiều người bị ngã trong khi vội vàng chạy trốn. Tôi cũng bị rối trí. Tôi chạy và trèo lên một cây cao rồi bám chặt lấy cành cây, mắt nhắm tịt lại. Hình như những con tê giác đang ở phía dưới tôi, thở hổn hển. Tôi hoa mắt, tuột tay ngã và hình như ngã xuống lưng tê giác. Tôi đã ngã xuống lưng La-hi-am lúc ấy đang bò quanh gốc cây. Vừa rồi La-hi-am thở hổn hển chứ không phải tê giác. La-hi-am cong người lại, kêu rằng lưng anh ta bị đau. Những người khác cũng sợ hãi như tôi. La-hi- am không đứng lên được nữa. Tôi nghe nói có người thậm chí vãi đái ra quần. Thợ săn là người chạy nhanh nhất và là người đầu tiên trèo lên cây. Có một vị chức sắc ở tỉnh về, nghe đồn đó là một người dũng cảm. Nhưng khi trông thấy tê giác tiến lại gần, thì ông ta lại quẳng súng và trèo lên cây cao gần nhất. Có người kêu lên gọi với ông ta:
- Súng, thưa ngài súng! Và ông ta trả lời thế nào, các bạn có biết không?
- Có giỏi thì cầm súng và lấy mắt làm đạn! Tê giác đã biến mất và chúng tôi cũng không còn nghe thấy tiếng chân chúng nữa. Ai nấy tụt từ trên cây xuống và tụ tập lại. Mãi đến khi những con tê giác đã ở cách xa rồi, chúng tôi mới lấy lại được lòng dũng cảm và chuyện trò khoác lác với nhau. Rồi chúng tôi trở về trại. Vị phó vương cảm thấy thật ân hận, đáng lẽ thổi tù và kêu gọi mọi người đừng tiến đến gần những con tê giác quá, thì lại làm cho họ giật mình chạy mất. Nghĩ rằng Next không còn khả năng đuổi theo bầy tê giác nữa, ông ta cho giải tán. Khoảng 9 giờ tối chúng tôi ra về. Chúng tôi về đến nơi đúng lúc trống gọi ăn bữa cơm buổi bình minh đang điểm. Thật là rủi ro! Toàn gặp chuyện rắc rối, chúng tôi đi săn trở về tay không. Suốt dọc đường trở về, hễ lúc nào trông thấy vật gì đen đen đang lấp ló ở ven đường là tim tôi lại giật thót. Lúc nào cũng tưởng như có tê giác.
*
* *
- Có thể cái rủi ro của bác cũng là của Chúa, - tôi nói.
- Thế con tê giác đực nó to bằng ngần nào hả bác?
Ông già Xu-an-ta đáp:
- Ồ thưa các ngài nó to hơn con trâu. Nó dài khoảng mười bộ, có cái cổ mập mạp, cái đầu hói trụi và cái mõm rộng. Nó có chiếc sừng cong và rất đáng sợ các ngài ạ. Nhưng đó là còn chưa trông thấy răng nó đấy.
- Răng của nó thế nào? - Mô-mô hỏi.
- Tôi không biết. Tôi chưa trông thấy rõ, nhưng nếu tôi không quên, thì răng nó giống như răng lợn, nhưng to hơn nhiều, thật quả là khiếp đảm.
- Thế con tê giác con thì to bằng ngần nào ạ? - Tôi hỏi.
- Ồ con con ấy à, nó phải cỡ như con nghé. Tôi thật đến ngán những con tê giác ấy! Giá ông chủ mà còn muốn lấy tôi đi săn nữa, thì tôi sẽ không tham gia vào cuộc nhanh như lần trước đâu.
|