Chương 6
Nhật ký của Mina Murray
Whitby, 24 tháng 7
Lucy đi tìm tôi lúc tôi vừa xuống tàu, trông cô có vẻ xinh xắn và duyên dáng hơn bao giờ hết. Chúng tôi đi ngay về khách sạn Trăng Lưỡi liềm, nơi cô và bà mẹ đã đập mấv phòng thuê. Đó là một nơi đẹp mê hồn, có con sông Esk nhỏ bé chảy qua một thung lũng sâu thẳm trải rộng dần ra các vùng phụ cận của bến cảng. Nối liền hai bờ thung lũng là một cây cầu cạn nằm vắt vẻo nhờ những cột trụ thật cao; từ trên cầu phóng tầm mắt nhìn ra xa, phong cảnh nơi đây trải rộng mãi như trong một cõi không có thực. Thung lũng thật đẹp với những ngọn núi chênh vênh phủ trên mình một màu xanh mướt. Nếu đứng từ trên một đỉnh nào đó nhìn xuống, hẳn bạn sẽ phải ngỡ ngàng khi nhận ra ở dưới đáy thung lũng xanh thẫm có một dòng suối nhỏ lấp lánh ánh bạc chảy lững lờ tới một bờ vực thẳm. Các mái nhà trong thành phố cổ đều được lợp bằng những viên ngói đỏ, và dường như chúng được xếp gối lên nhau giống như cảnh chúng ta vẫn thấy trong các bức tranh mô tả vùng Nuremburg. Ra khỏi thành phố, bạn sẽ đến ngay khu phế tích của tu viện cổ Whitby, nơi ngày xưa đã bị người Đan Mạch cướp phá tan hoang và cũng là nơi từng cầm tù suất đời các cô gái trẻ trong vùng. Các phế tích rộng mênh mông này sẽ tạo cho bạn một cảm giác vĩ đại và hùng vĩ về phong cảnh xung quanh. Có một truyền thuyết kể rằng thỉnh thoảng... lại có một quý bà mặc toàn bộ đồ trắng xuất hiện bên một ô cửa sổ vào buổi tối. Nằm giữa thành phố cổ và khu phế tích là một gác chuông của nhà thờ xứ bị vây quanh bởi một nghĩa địa. Theo cách nhìn của tôi thì đây chính là nơi đẹp nhất ở Whitby: ở đây bạn có thể phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh bến cảng và một bờ vịnh nhỏ, nơi có một mũi đất chạy xa ra biển. Ở bến cảng, mũi đất này dốc đứng đến nỗi các bờ mép của nó đã lở sụt xuống nước, khiến cho một số ngôi mộ - vì nghĩa địa chạy dài tới tận đây - cũng bị lở theo. Bạn cũng thưa hồ được ngắm những lối nhỏ rợp bóng cây xanh chạy xuyên qua nghĩa trang, với những hàng ghế băng nằm rải rác như muốn mời gọi khách bộ hành nghỉ chân vâng cảnh hàng giờ, mặc cho những làn gió biển nhẹ nhàng vuốt ve mơn trớn lâng lâng. Chính tôi cũng thường hay lui tới chốn đây ngồi làm việc. Quả thực là lúc này, tôi đang ngồi hý hoáy viết với một cuốn sổ đặt trên gối, mặc cho mấy ông già ngồi nói chuyện trời đất ngay bên cạnh.
Dưới chân tôi là bến cảng, và phía bên kia là một bức tường đá chạy Qài ra biển và cuối cùng là một bờ cong có một ngọn đèn biển mọc chơ vơ ở giữa. Phong cảnh sẽ trở nên thơ mộng hơn khi thủy triều lên, song khi nước biển rút đi, tất cả lại trở nên trơ trọi và chỉ còn con suối Esk cần mẫn chảy giữa những đồi cát uốn lượn quanh một vẫy mỏm đã lẻ loi. Xa hơn bến cảng, về phía bên này, là một dãy đá cao chạy dài chừng nửa dặm bắt đầu từ phía sau ngọn đèn biển. Ở phía đầu dãy đá có một cây phao tiêu được trang bị thêm một quả chuông vốn chỉ cất những tiếng kêu sầu thảm vào những lúc trọng đại Có một truyền thuyết địa phương kể rằng khi có một con tàu bị lạc đường, từ ngoài khơi xa các thủy thủ cũng có thể nghe thấy chuông vẳng tới... Tôi cần phải hỏi ông là đang đi về phía mình kia xem sự thực có đúng như vậy không...
Đó là một ông già không giống bất cứ một ông già nào khác ở trên đời này. Chắc ông phải già lắm bởi mặt ông rặt những nếp nhăn là nếp nhăn, đã thế lại còn sần sùi như một thứ vỏ cây nữa chứ. Ông nói với tôi rằng ông sống đã gần trăm tuổi, rằng bây giờ ông vẫn ở trên một chiếc thuyền đánh cá Greenland từ khi xảy ra trận đánh Waterloo. Tự nhiên tôi đâm ra hoài nghi, bởi khi tôi hỏi về tiếng chuông mà ở tít tận ngoài khơi xa người ta cũng có thể nghe thấy ấy, và về người phụ nữ mặc bộ đồ trắng ở tu viện kia, ông chỉ trả lời chung chung thế này :
- Cô bé ạ, thực ra thì tôi cũng chẳng tin vào những câu chuyện như vậy lắm... chúng xưa quá rồi... Cô lưu ý nhé, tôi không bảo nó chưa bao giờ tồn tại, mà tôi chỉ muốn nói rằng nó có trước cả lúc tôi chào đời... Tất cả những gì cô vừa hỏi thật hấp dẫn với những người ngoại quốc, những kẻ ham rong chơi và tất cả... nhưng không phải là điều để một cô gái xuân sắc như cô phải nặng đầu suy nghĩ. Những kẻ bộ hành từ York và từ Leeds, những kẻ lúc nào cũng thích xem ở chợ có cái gì rẻ để mua thì có thể tin vào điều đó. Song tôi không hiểu có ai lại nhọc công vô ích để kể cho họ nghe những lời dối trá như vậy - kể cả những tờ báo bị tiếng là ngu ngốc cũng đâu có làm thế.
Tôi thầm nghĩ: “Đây quả là một ông già mà người khác chắc chắn có thể học hỏi được nhiều điều thú vị”, và đành phải hỏi lảng sang chuyện câu cá voi của người xưa. Nhưng lúc tôi chuẩn bị được nghe kể thì chuông đồng hồ chợt ngân lên một hồi sáu tiếng, ông già lập tức đứng dậy, giọng khó nhọc :
- Cô gái ạ, có lẽ tôi phải về đây, con bé nhà tôi nó không thích phải chờ đợi ai khi nó đã pha trà. Vả lại, phải mất khối thời gian tôi mới xuống hết được các bậc...
Ông già kéo lê từng bước về nhà. Tôi đưa mắt trông theo mãi cái bóng già nua đang cố bước nhanh nhất xuống những bậc đá, với cái khả năng ít ỏi còn lại của một kẻ đang lúc xế bóng.
Cáo bậc đá là một trong những nét rất đặc trưng của vùng này. Nó chạy ngược từ thành phố lên nhà thờ; tất cả dễ có đến vài trăm bậc, hơi chạy theo hình xoắn ốc. Thực ra thì chúng không chênh vênh lắm, bởi một con ngựa có thể phi lên, phi xuống một cách dễ dàng. Chắc chắn ngày xưa, các bậc thang này cũng phải dẫn tới các khu vực xung quanh tu viện... Có lẽ tôi cũng phải về nhà. Hai mẹ con Lucy đã rủ nhau đi vãng cảnh cả chiều nay. Tôi không muốn làm phiền họ. Giờ này chắc họ cũng sắp về.
* * * * *
Ngày 1 tháng 8
Tôi ngồi đây với Lucy chắc cũng được khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã có một cuộc nói chuyện rất thú vị với người bạn mới: Già Marin, và hai người bạn vẫn tới thăm ông hàng ngày. Trong số ba ông già, rõ ràng tôi có thể đặt tên cho Già Marin là Ông Thánh, bởi lúc nào ông cũng muốn mình là người có lý, lúc nào ông cũng thích phán ngược ý của tất cả mọi người. Nếu không được, ông sẽ làm ầm lên, cứ như chửi rủa thẳng vào mặt những người đang đối thoại với mình, và khi họ chán chẳng buồn nói nữa, thì ông lại tưởng họ đã tâm phục khẩu phục. Lucy mặc một chiếc áo dài mà cô rất thích. Từ khi tới Whithy, trông da dẻ cô nàng có vẻ đẹp hẳn lên. Tôi để ý thấy hễ cứ mỗi lần chúng tôi có dịp ngồi trò chuyện ở đây, là y như rằng ba ông già kia lại muốn tìm cách lân la tới ngồi gần cô. Quả thực Lucy là cô gái rất dễ mến đối với những người già.
Chẳng ai có thể cưỡng lại vẻ duyên dáng của cô. Bản thân ông bạn già của tôi cũng bị khuất phục và cấm thấy ông nói ngược lại ý cô nàng bao giờ. Tôi chủ bụng lái cuộc nói chuyện về các truyền thuyết, và ông lão lại tuôn ra một bài thuyết giáo dài dằng dặc, khiến tôi nghe mà chóng cả mặt :
- Cô gái ạ, tôi đã bảo rồi mà, tất cả chỉ là những chuyện ngu ngốc thôi: đó là những câu chuyện nhảm nhí, chứ không hơn không kém! Tất cả những câu chuyện hấp dẫn, quyến rũ, mê hoặc ấy chỉ thích hợp với những mụ già mất trí. Tất cả điều đó là do mấy tay mục sư và những kẻ chèo kéo khách hàng trong các khách sạn sáng tác ra để lèo lái người khác phải làm những việc mà họ không muốn làm. Cứ mỗi lần nghĩ tới điều ấy, tôi lại thấy điên cả tiết. Thấy in lên đống giấy lộn vẫn chưa đã, họ còn bảo nhau khắc đủ thứ lên những tấm bia mộ... Cô cứ nhìn xung quanh thì biết: tất cả những tấm đá đang ngạo nghễ đứng kia thực ra đều bị đè nặng bởi những lời dối trá mà người ta đã khắc chằng chịt ở bên trên! Và ở dưới những nấm mộ ấy, phần lớn là rỗng tuếch, làm gì có ai nằm đấy kia chứ. Thà tìm cách xoay xở như thế nào để có được một nhúm sợi thuốc lá còn hơn là phải bận tâm đến những câu chuyện nhảm nhí ấy! Thế đấy, đó chỉ là những chuyện dối trá, dối trá theo cách này hay cách khác, chẳng có gì khác ngoài những lời dối trá? Chúa ơi? Sẽ thú vị biết bao khi được trông thấy những kẻ xấu số loạng choạng bấu vai nhau tới đây và khó nhọc kéo theo những tấm bia mộ để chứng tỏ rằng họ đang sống thật êm đềm dưới đó?
Nhìn cái vẻ thỏa mãn của ông già và cái cách ông đưa mắt tìm sự tán thưởng của hai người bạn già khác, tôi hiểu ông đang muốn tỏ ra là một người nổi bật, nhưng như vậy cũng đủ để tôi hỏi ông một câu khác :
- Ôi? Già Swales, già lại không nói nghiêm túc rồi! Gần như chẳng có ngôi mộ nào trong nghĩa địa này là rỗng không cả, phải vậy không ạ?
Ông già có vẻ làm dáng hơn :
- Cô gái ạ, tôi đã nói đến thế rồi mà cô vẫn ngoan cố nhắc lại toàn những chuyện ngu ngốc! Ở đó có rất ít ngôi mộ không phải là rỗng tuếch... thế đấy... những người tốt lại rất hay tin ở những gì người khác khua môi múa mép. .. Dối trá, tất cả chỉ là dối trá! Hãy nghe cho rõ nhé, cô gái: tôi không tin là cô đến đây mà không biết gì cả, dù cô có là một người xa lạ, và cô hãy nhìn vào...
Tôi không nắm được các từ ông già vừa nói. Nói thực tôi không hiểu tới một nửa những thổ ngữ mà ông đã nói và tôi cũng biết mình khó có thể tái hiện lại cái thứ thổ ngữ ý nhị ấy, nhưng tôi vẫn cứ gật đầu, dù trong lòng còn nghi hoặc rằng chắc ông già vừa ám chỉ tới tu viện.
Ông già nói tiếp :
- Thế cô có tin là tất cả những ngôi mộ đá, ở xung quanh kia kìa, đều đang che chở cho những người đang yên nghỉ nào đó không?
Tôi trả lời bằng một cái gật đầu.
- Đó cũng chỉ là một sự dối trá! Có tới hai chục, hai chục và hai chục cái... giường nằm ấy là rỗng tuếch, rỗng tuếch như chính đầu óc của những kẻ quen dối trá ấy!
Ông già quay sang tìm sự tán thưởng của hai người bạn đồng niên, và rồi cả ba cùng cười phá lên.
- Đấy, lạy Chúa? Sao có thể khác được kia chứ? Cô gái ạ, cô cứ thử nhìn vào ngôi mộ kia xem, đó... ngôi mộ tôi chỉ tay kia kìa... rồi thử đọc xem sao! Đó... cô cứ thử làm đi...
Tôi bước lại gần ngôi mộ ông lão đang chỉ và đọc :
Edward Spencelngh, thuyền trưởng dặm trường, bị cư biển sát hại ngoài khơi Cordillere ở tuổi 30. Tháng 4. 1854.
Khi tôi trở lại, ông già Swales tiếp tục :
- Vậy thì ai là người đã đem anh ta về xứ này để chôn cất anh ta ở đó? Anh ta bị sát hại ở tận Corđillere kia mà! Có thể nào xác anh ta lại ở đấy được? Tôi có thể kể cho các cô nghe hàng tá những người đã nằm lại dưới đáy biển, ở Groenland hoặc ở đằng kia vừa nói ông già vừa chỉ tay về phía bắc nếu như ít nhất là họ không bị các dòng nước cuốn đi xa hơn. Ấy vậy mà mộ của họ vẫn nằm ở đây, ở xung quanh cô đây mà Từ chỗ cô ngồi, bằng đôi mắt đẹp của mình, cô có thể đọc được tất cả những dòng chữ dối trá khắc trên từng tấm bia đá. Này nhé, cái tay Braithwaite Lowrey kia kìa... Tôi có biết bố anh ta đấy... Anh ta đã chết chìm trong vụ đắm tàu Cuộc sống tươi đẹp ở ngoài khơi Groenland khi mới hai mươi... hay cái tay drew Woodhouse kia cũng thế, hắn cũng chết đuối ở một nơi gần đó năm 1777..., còn tay John Paxton, hắn chết sau đó một năm ở ngoài mũi Farewell..., rồi thì ông già John Rawlings, người có ông nội cùng đi biển với tôi, lại chết ở vịnh Phần Lan khi đã sang tuổi năm mươi. Nhiều lắm. nhiều lắm. .. Cô có tin rằng khi nghe thấy những bơ hồi kèn của lời Phán quyết cuối cùng rống lên, tất cả những người đàn ông này sẽ chạy ào đến Whitby không? Tôi thì tôi nghĩ như vậy đấy! Tôi đảm bảo với cô rằng thế nào họ cũng xô đẩy nhau đến nỗi người ta sẽ tưởng mình đang được chứng kiến một .cuộc chiến trên băng tuyết kéo dài từ buổi sớm mai đến lúc đêm đen, khi các chiến binh phải ra sức băng bó các vết thương dưới cái ánh sáng lờ nhờ của Bắc cực.
Chắc chắn đó là một kiểu nói đùa phổ biến ở xứ này, vì khi nói đến đây, ông già lại khoái trí cười ha hả cùng với hai ông bạn ngồi bên.
Nhưng, tôi hỏi chắc là già đã nhầm khi cho rằng tất cả những con người tội nghiệp ấy, hay nói đúng hơn là linh hồn đáng thương của họ, nhất thiết phải đến trình diện ở ngôi mộ của mình vào cái lúc Phán quyết cuối cùng. Có thật già vẫn nghĩ đó là đlều nhất thiết phải có không?
- Đúng thế, nếu không thì những ngôi mộ đá dùng để làm gì, tôi hỏi cô đấy, cô gái?
- Để làm vui lòng những người trong gia đình họ, đúng không già?
- Để làm vui lòng những người trong gia đình họ, đúng không già? Ông già giễu cợt nhại lại câu hỏi của tôi. – Cô thử nói cho tôi nghe xem nào, đâu là sự vui lòng đối với các gia đình khi họ biết rằng những dòng chữ được khắc trên các ngôi mộ kia chỉ là những lời dối trá, rằng tất cả mọi người, ai cũng biết rõ điều đó?
Rồi ông chỉ vào một phiến đá nằm dưới chân chúng tôi như một tấm lát giữ cho chiếc ghế băng được thăng bằng trên bờ vách đá :
- Cô hãy đọc những dòng dối trá dưới này đi.
Chỗ tôi ngồi chỉ có thể đọc được những chữ ở mặt sau, nhưng ngồi ở chỗ Lucy thì có thể đọc được hết. Thấy tôi bảo, Lucy cúi xuống đọc :
Tôn kính tưởng nhớ George Canon, người đã chết vào ngày 29 tháng 7 năm 1873 khi ngã từ đỉnh núi xuống biển, trong một hy vọng phục sinh xương thịt vẻ vang. Ngôi mộ này được dựng nên bởi mẹ anh, người suốt đời đau đớn khôn nguôi vì mất một đứa con trai yêu dấu. Arth là đứa con trai duy nhất và bà mẹ là một người vợ góa.
- Đúng là cháu chẳng thấy có gì lạ lùng ở đây cả, - Lucy nói - già Swales ạ.
Cô bạn tôi nhận xét bằng một giọng thực sự nghiêm túc.
- Cô không thấy có gì lạ ư... Ha! Ha! Cũng phải thôi, bởi vì cô đâu có biết bà mẹ khốn khổ đó... một con mụ ác quỷ ghét cay ghét đắng thằng con trai của mình chỉ vì nó yếu đuối, còn thằng con trai thì cũng rất căm thù người mẹ vì bà ta không thể đảm bảo được cuộc sống cho hắn. Hắn đã tự nã vào óc mình bằng một khẩu súng cũ kỹ mà hắn vẫn dùng để dọa mấy con quạ con. Hôm đó, hắn đã không dùng súng để dọa qua nữa... Và cái mà người ta vẫn bảo là ngã từ trên các mỏm đá... Tất nhiên là hắn bị rơi... còn .cái gọi là hy vọng phục sinh vẻ vang các xác chết gì đó, tôi vẫn thường nghe kể hắn muốn chui xuống địa ngục, vì mẹ hắn, một kẻ rất sùng bạo, chắc chắn sẽ lên thiên đàng, mà hắn đâu có muốn chết gì ở trên thiên đàng với mẹ hắn... Bây giờ thì các cô cứ nói tấm đá này không phải đã ghi những lời dối trá đi?
Tôi định đáp lời thì Lucy đứng bật dậy và lái câu chuyện sang một hướng khác :
- Ôi! Tại sao già lại cứ kể cho bọn cháu toàn những chuyện không đâu vào đâu như vậy? Đây là chiếc ghế cháu vẫn thường tới ngồi, và cháu sẽ không bao giờ từ bỏ cái thói quen ấy đâu, còn giờ cháu sẽ luôn tự nhủ rằng mình đang ngồi trên nấm mồ của một kẻ tự tử!
- Điều đó sẽ không làm cô khó chịu đâu, cô gái xinh đẹp ạ! Còn cái anh chàng George tội nghiệp kia hẳn sẽ rất vui khi thấy có một cô gái rất duyên tới ngồi trên gối hắn... Không, điều đó sẽ chẳng làm cô khó chịu... Từ khi còn chưa đầy hai mươi tuổi, tôi đã ra đây ngồi rồi, và từ đó đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy khó chịu cả? Đừng nên nghĩ quá nhiều về những người đang nằm dướí chân mình, hoặc những người chẳng hề nằm dưới đó. Rồi các cô sẽ có khối thời gian để mà sợ khi thấy tất cả các ngôi mộ lần lượt bị mang đi và nghĩa địa thì cứ trơ ra như một cánh đồng chỉ còn những gốc rạ... Nhưng thôi, lại đến giờ rồi, tôi phải về đây. Chào các cô nhé?
Ông già lê bước đi xa dần.
Chúng tôi còn ngồi thêm một lúc nữa. Phong cảnh đẹp quá Lucy lại kể cho tôi nghe về Arthur và đám cưới sắp tới của họ. Tôi bỗng thấy chạnh lòng, đã hơn một tháng rồi tôi không nhận được tin tức gì của Jonathan.
* * * * *
Cùng ngày
Tôi trở về đây mà lòng buồn rười rượi. Vẫn không thấy người đưa thư xuất hiện chiều tối nay. Hy vọng đừng có chuyện phiền phức gì xảy ra với Jonathan. Đồng hồ đã điểm chín giờ. Thành phố lên đèn từ lâu, những ánh đèn lấp lánh như sao sa, lúc thì lẻ loi đơn chiếc, lúc lại cùng sang bừng lên thành một hàng nối tiếp nhau đều đặn trên các đường phố. Ở bên trái tôi, cảnh vật bị che khuất hẳn bởi những mái nhà cổ mọc nhấp nhô gần tu viện. Những chú cừu non còn đang cất tiếng kêu be be ở những cánh đồng đằng sau. Và phía dưới kia, tôi nghe rõ những bước chân lộp cộp chậm chạp của một chú lừa. Ban nhạc bến cảng đang chơi một điệu van buồn. Xa hơn một chút, dưới sân cảng, trên con đường nhỏ nằm hơi khuất, là một đội quân cứu thế đang đứng tập trung. Hai ban nhạc bỗng cùng cất lên những giai điệu inh tai nhức óc, chẳng bên nào nghe bên nào. Tuy nhiên, đứng ở đây, tôi có thể nghe rõ cả hai, nhưng trong lòng tôi lúc này vẫn là hình bóng của Jonathan. Anh đang ở đâu? Anh có còn nghĩ đến tôi hay không? Sao tôi muốn lời khỏi đây đến thế.
Nhật ký của bác sĩ Seward
Ngày 5 tháng 6
Trường hợp của Renfield ngày càng trở nên thú vị hơn khiến tôi càng ngày càng hiểu rõ về con người. Trong con người hắn nổi bật nhất là những tính cách: ích kỷ, khéo vờ vĩnh và ngoan cố. Hy vọng tôi sẽ hiểu được tại sao hắn lại cứng đầu cứng cổ đến thế. Tôi thấy dường như hắn đang nung nấu một ý đồ rất cụ thể, nhưng là ý đồ gì? Tuy nhiên, hắn rất yêu các con vật, dù trong cái tình cảm được thể hiện theo đủ cách ngu ngốc ấy vẫn có một cái gì đó tàn bạo đến kỳ lạ. Đến bây giờ; sự gàn dở của hắn lại được thể hiện ở cái thú bắt ruồi. Tôi thấy chẳng cần thiết phải quan sát mãi về cái kiểu xử sự kỳ quặc này, bởi hành động dở hơi của hắn không phải là ít. Có một điều làm tôi rất ngạc nhiên là chẳng bao giờ thấy hắn nổi giận, như tôi vẫn lo ngại, mà sau khi suy nghĩ giây lát, hắn chỉ hỏi cô cũng một giọng khá nghiêm túc: “Ông có đồng ý để cho tôi ba ngày không? Trong vòng có ba ngày, tôi sẽ làm cho chúng biến mất”. Tất nhiên là tôi trả lời: “Đồng ý”, rồi ngây người ra nhìn hắn như chưa bao giờ được nhìn vậy.
* * * * *
Ngày 18 tháng 6
Bây giờ hắn chỉ còn nghĩ tới mấy con nhện, những con nhện rất to được hắn cho vào trong một cái hộp. Hắn nuôi nhện bằng những con ruồi bắt được. Số ruồi đã giảm đi rất nhiều sau những lần bị hắn chộp. Hắn ta bắt ruồi bằng cách lấy một nửa khẩu phần ăn làm mồi như trên gờ cửa sổ.
* * * * *
Ngày 1 tháng 7
Đàn nhện ngày càng đông cùng với số ruồi bị bắt. Tôi tức mình bắt hắn phải quẳng hết đi. Nhưng nhìn vẻ mặt sầu não của hắn, tôi lại đâm ra động lòng. Tôi bảo hắn ít nhất cũng phải vứt đi một phần. Hắn hứa sẽ làm như vậy. Trong lúc ngồi với hắn, tôi bỗng thấy ghê cả người khi thấy một con ruồi to tướng bay nhanh vào trong phòng; hắn chộp vội con vật, rồi cầm giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ ngắm nghía với vẻ mặt rất hớn hở. Và khi tôi còn chưa kịp đoán ra sự việc tiếp theo, thì hắn bỗng đút tỏm con ruồi vào miệng mà nhai ngấu nghiến. Tôi không ngần ngại nói về suy nghĩ kinh tởm của mình, song hắn chỉ thản nhiên đáp lại rằng ăn ruồi rất ngon, ràng con ruồi tràn đầy sức sống ấy sẽ tiếp thêm sức sống cho hắn. Trong đầu tôi chợt lóe lên một ý nghĩ, hay đúng hơn là một sự ngờ vực: cần phải biết hắn định xử lý mấy con nhện kia như thế nào. Chắc chắn là là phải có một điều gì đó khá nghiêm túc làm hắn phải bận tâm, vì hắn đang viết lia lịa vào một cuốn sổ bỏ túi. Các trang giấy đều viết kín những con số, dường như hắn đang làm tính thì phải.
* * * * *
Ngày 8 tháng 7
Trong lúc lên cơn điên, hắn đã làm theo một phương pháp thật sự, và nhận xét ấy cứ định hình rõ đần trong suy nghĩ của tôi. Phương pháp ấy hoàn toàn sáng tỏ. Ôi hoạt động của trí tuệ vô thức? Rồi người cũng phải nhường bước trước một trí tuệ có ý thức. Tôi cố tình không gặp bệnh nhân của mình trong mấy ngày, tôi tin chắc trong hắn đang diễn ra một sự thay đổi trạng thái đáng chú ý Hắn có thể bắt được một con chim sẻ và thuần hóa nó bằng một cách rất đơn giản mà tôi chợt đoán ra: đàn nhện trong hộp đã vơi đi rất nhiều. Tuy nhiên, những con nhện còn lại đều rất béo tốt, vì hắn vẫn chịu khó bắt ruồi hàng ngày với một phần thức ăn đặt trên gờ cửa sổ.
* * * * *
Ngày 19 tháng 7
Chúng tôi đã đạt được tiến bộ trong việc nghiên cứu ca bệnh. Bây giờ Renfield đã có cả một đàn chim sẻ, trong khi đàn ruồi và đàn nhện gần như đã biến mất hoàn toàn. Thấy tôi bước vào phòng, hắn vội sán đến và nói rằng hắn muốn xin tôi một ân huệ lớn, rất lớn; vừa nói hắn vừa vuốt ve lên người tôi như một con chó liếm lưỡi vào người chủ. Tôi hỏi thực ra hắn cần gì, hắn ngây ngất trả lời: Tôi muốn có một con mèo, một con mèo con xinh xắn để làm bạn. Tôi sẽ dạy dỗ và cho nó ăn... Ôi! Vâng... tôi sẽ cho nó ăn.
Quả thực là tôi hơi bất ngờ về điều này, bởi tôi nhận thấy càng ngày hắn càng có vẻ thích những con vật to hơn.
Tôi thật không thể chấp nhận được chuyện cái gia đình chim sẻ xinh xắn đã thuần hóa lại biến mất theo cái kiểu biến mất của đàn ruồi và đàn nhện; vì vậy tôi trả lời rằng tôi còn phải suy nghĩ. Tuy nhiên, trước khi rời khỏi phòng, tôi có hỏi hắn bằng một giọng rất dửng dưng rằng tại sao hẳn lại thích một con mèo con mà không phải là một con mèo to.
- Ôi! vâng, - Hắn hớn hở trả lời - một con mèo tôi. Tôi rất thích có một con mèo to! Nếu như tôi xin ông một con mèo con, thì đó là do tôi sợ ông từ chối tôi một con mèo to? Chẳng ai lại đi từ chối tôi một cơn mèo nhỏ, đúng không ạ?
Tôi lắc đầu và trả lời rằng tôi nghĩ điều đó là không thể được, ít nhất là trong lúc này, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng sẽ... Mặt hắn tối sầm lại, và tôi đọc được ngay trên nét mặt ấy một lời cảnh cáo nguy hiểm, vì ánh mắt hắn chợt lóe lên những tia tàn ác như ánh mắt của một kẻ giết người.
Không còn nghi ngờ gì nữa, bệnh nhân này đúng là một kẻ giết người hung bạo. Rồi tôi sẽ được thấy sự ám ảnh của quỷ dữ sẽ dẫn hắn đi tới đâu.
* * * * *
10 giờ tối
Khi quay trở lại, tôi thấy hắn đang ngồi ủ rũ ở một góc phòng.
Vừa nhác thấy tôi, hắn đã vội quỳ xuống nài nỉ tôi, mang mèo đến. Tôi trả lời ngay rằng điều đó là không thể được. Nghe tôi bảo vậy, hắn hầm hầm trở về chỗ cũ, vừa đi vừa nắm chặt hai nắm đấm. Tôi sẽ gặp lại hắn vào sáng sớm hôm sau.
* * * * *
Ngày 20 tháng 7
Tôi gặp Renfield từ rất sớm, sớm hơn cả khi người giám thị đi đánh thức các bệnh nhân ở các phòng. Hắn đang đứng hát lầm rầm một giai điệu nào đó, trong khi hai tay vẫn rắc từng hạt đường xuống bậu cửa sổ làm mồi bắt ruồi. Công việc làm hắn vui ra mặt. Tôi đảo mắt tìm lũ chim sẻ, nhưng chẳng thấy con nào cả. Thấy tôi hỏi, hắn không thèm quay mặt lại và trả lời là chúng đã bay đi hết. Tôi để ý thấy dưới đất có mấy nhúm lông, và trên gối hắn nằm còn có một vết máu. Khi ra về, tôi cố làm ra vẻ như không có vấn đề gì xảy ra, song vẫn dặn người làm vườn phải đến báo cho tôi biết nếu như có chuyện gì không bình thường trong ngày.
* * * * *
11 giờ sáng
Chẳng phải đợi lâu, người giám thị đã hộc tốc chạy đến báo cho tôi biết rằng Renfield đang rất mệt, rằng hắn đã nôn ra một đống toàn lông chim là lông chim. “Thưa bác sĩ,” tay giám thị bảo tôi - “tôi tin rằng hắn đã ăn tươi nuốt sống cả đàn chim của hắn?”
* * * * *
11 giờ tối
Tối hôm nay, tôi đã cho Renfield uống thuốc ngủ, rồi lấy trộm cuốn sổ bỏ túi của hắn ra xem. Quả là tôi đã không nhầm với các giả thiết của mình: tay bệnh nhân giết người này đúng là một loại người rất đặc biệt. Tôi phải xếp hắn vào loại chưa từng có bao giờ, và gọi hắn là một kẻ điên thú vật, một thằng điên chỉ muốn sinh tồn bằng cách ăn các sinh vật sống. Đầu óc hắn luôn thường trực một nỗí ám ảnh là cần phải ăn thật nhiều cơ thể sinh vật sống mà hắn thèm. Hắn đã cho một con nhện ăn không biết bao nhiêu ruồi, đã nuôi một con chim bằng rất nhiều nhện, và rồi hắn còn muốn có một con mèo để giết chết cả đàn chim. Sau đó hắn còn định làm gì nữa? Tôi rất muốn đi đến cùng cuộc thử nghiệm của mình. Nhưng để làm vậy thì phải có một lý do đầy đủ. Người ta sẽ nhổ vào mặt tôi nếu tôi nới về cách mổ xẻ vấn đề này, song dẫu sao tôi cũng không thể tránh khỏi thực trạng hiện nay. Tại sao không làm cho khoa học tiến bộ hơn trong một vấn đề khó khăn hơn nhưng cũng có tính chất sống còn hơn sự hiểu biết về bộ não, về cơ chế lý trí của con người kia chứ? Nếu như tôi thấy hiểu được sự bí ẩn của bộ não, nếu như tôi tìm được chìa khóa mở vào sự tưởng tượng của một bệnh nhân tâm thần độc nhất ấy, thì chắc chắn tôi sẽ đạt được một bước tiến dài trong chuyên môn của mình, và điều này sẽ cho phép tôi có thể so sánh ngang hàng với nhà sinh lý học Burđon Sanderson, hoặc nhà giải phẫu học Ferrier.
Chỉ cần một lý do xác đáng thôi? Nhưng tôi cũng chẳng cần phải nghĩ quá nhiều về điều đó, bởi sự cám dỗ cũng rất đơn giản một lý do đầy đủ có thể làm tôi nghĩ tới trạng thái cân bằng từ phía mình, bởi theo bẩm sinh, tôi chẳng phải là kẻ có bộ óc đặc biệt đó là gì?
Quả thực gã bệnh nhân đã có cách suy luận đúng của riêng hắn! Đúng thế, những kẻ điên luôn có những suy luận đúng khi họ theo đuôi ý kiến của họ. Tôi tự hỏi không hiểu hắn đã đánh giá một con người bằng bao nhiêu sinh vật sống, hoặc phải chăng hắn đã đánh giá một mạng người chỉ bằng duy nhất một sinh vật sống? Hắn đã kết thúc các phép tính một cách rất chính xác, và ngày hôm nay, hắn lại bắt tay vào các con tính mới. Ai trong số chúng ta không bắt đầu một ngày bằng những phép tính mới? Về phần mình, tôi thấy dường như chỉ hôm qua thôi, cuộc đời tôi đã thực sự chìm nghỉm cùng với ước vọng trẻ trung của mình, và tôi cũng có cảm giác đời mình đã bắt đầu bằng một con số không. Dường như Chúa đang sắp gọi tôi lên đó và đóng sập cuốn sổ lớn ghi rõ sự cân bằng giữa những cái được mất của tôi vào. Ôi! Lucy, Lucy! Tôi không thể oán trách em về điều đó, cũng như không thể oán trách người bạn đã may mắn được chia sẻ hạnh phúc với em. Nhưng tôi không nên trông chờ gì nhiều ở một sự tồn tại không có hy vọng, một sự tồn tạĩ mà chỉ còn công việc là điều quan trọng duy nhất đối với mình. Vâng, công việc, chỉ còn công việc thôi?
Chỉ cần tìm ra được một lý do cấp thiết như lý lẽ của gã bệnh nhân kia và sau đó, lý do ấy có đủ sức thúc đẩy tôi lao vào công việc, thì chắc chắn tôi sẽ tìm ra một hình thái hạnh phúc nào đó.
Nhật ký của Mina Jurray
Ngày 26 tháng 7
Càng ngày tôi càng cảm thấy lo lắng, và viết nhật ký chính là một việc làm tôi nhẹ lòng đi phần nào, nó giống như việc mình tự bộc bạch cho chính mình nghe vậy. Hơn nữa, viết nhật ký bằng chữ tốc ký còn tạo cho tôi một cảm giác khác lạ hơn so với chữ viết thường. Tôi cảm thấy lo lắng cho Lucy cũng như cho Jonathan. Đã lâu rồi tôi không nhận được tin của anh ấy, nhưng hôm qua, ngài Hawkins, người lúc nào cũng rất tử tế, đã gửi cho tôi một lá thư mà ông đã nhận được của Jonathan. Lá thư chỉ vẻn vẹn có vài dòng ngắn ngủi thông báo chuyến trở về của anh từ lâu đài Dracula. Điều này không giống Jonathan một chút nào? Không hiểu có chuyện gì xảy ra... sao tôi lại muốn được yên lòng đến thế! Còn đối với Lucy, mặc dù cô nàng trông có vẻ đã khỏe lên rất nhiều, nhưng ít bữa nay, cô lại rơi vào tình trạng mộng du hay còn gọi là miên hành như các bác sĩ vẫn gọi. Mẹ cô đã kể cho tôi biết, và chúng tôi đã quyết định từ nay trở đi, cứ tối đến là tôi sẽ đóng chặt cửa lại. Bà Westenra luôn mường tượng trong đầu rằng những kẻ bị miên hành thường trèo lên mái nhà, lững thững bước ra tới mép tường cheo leo nhất để rồi bừng tỉnh và giật mình rơi xuống đất cùng với một tiếng kêu thê thảm tuyệt vọng mà người ta có thể bắt gặp ở mọi nơi. Bà mẹ tội nghiệp đã nhiều lần run sợ khi nghĩ tới một thảm cảnh như vậy có thể xảy ra với Lucy của bà. Tôi được nghe bà kể ngày trước, chồng bà, bố của Lucy, cũng đã phải hứng chịu những chứng bệnh tương tự: ông thường xuyên thức dậy vào giữa đêm, mặc quần áo vào rồi lững thững ra khỏi nhà nếu không có người chặn lại. Lucy phải làm đám cưới vào mùa thu này, cô đã chuẩn bị xong váy cưới, nhà cửa và một đống quần áo mang thơ. Ngài Holmwood - ngài Arthur Holmwood đáng kính là con trai của huân tước Godalming và chính là chồng chưa cưới của Lucy chắc chắn sẽ sớm tới đây, anh sẽ tới ngay sau khi có thể rời thành phố, bởi bố anh đang lâm bệnh. Lucy lặng lẽ bấm từng ngày, từng giờ... Cô nói rằng cô rất muốn ngồi bên anh trên chiếc ghế đá ngoài nghĩa địa và chỉ cho anh thấy phong cảnh tuyệt mỹ của Whitby. Theo tôi nghĩ, sự mòn mỏi chờ đợi của cô sẽ ảnh hưởng không tất tới sức khỏe. Hy vọng cô sẽ mãn nguyện khi được gặp người chồng chưa cưới của mình ở đây.
* * * * *
Ngày 27 tháng 7
Vẫn chưa có tin gì thêm về Jonathan... Tại sao anh ấy không viết thư cho tôi, dù chỉ là một lời? Dạo này, càng ngày Lucy càng hay trở dậy hơn vào buổi tối, và cứ mỗi lần chợt tỉnh giấc là tôi lại thấy cô đi đi lại lại trong phòng. Cũng may tiết trời còn nóng, nếu không cô sẽ bị cảm lạnh là cái chắc. Về phần mình, nỗi lo lắng của tôi cứ lớn dần lên, và những đêm bồn chồn, trằn trọc gần như thức trắng đã làm tôi rất căng thẳng. Ngược lại, ơn Chúa, Lucy vẫn khỏe mạnh. Holmwood vừa nhận được điện phải về Ring ngay lập tức, tình trạng sức khỏe của huân tước Godalming đang trở nên rất nghiêm trọng. Tất nhiên là Lucy rất lấy làm buồn vì không được gặp người chồng chưa cưới ngay như cô vẫn nghĩ, đôi lúc cô còn tỏ ra bực bội cáu gắt, nhưng sức khỏe của cô vẫn không hề có vấn đề gì, đôi má cô có lúc còn ửng hồng hơn mọi khi.
Cầu mong sao cho điều này mãi kéo dài.
* * * * *
Ngày 3 tháng 8
Lại thêm một tuần nữa trôi qua mà tôi vẫn không nhận được một tin tức nào của Jonathan! Lần này, thậm chí anh ấy còn không viết cho cả ngài Hawkins. Ôi! hy vọng là anh đừng ốm đau gì Nhưng nếu vậy thì chắc chắn anh ấy sẽ phải gửi thư chứ. Đọc lá thư cuối cùng của anh, tôi cứ thấy nghi nghi. Tôi không còn nhận ra anh trong những gì anh ấy nói trong thư! Lần này, Lucy không còn bị mộng du nhiều như trước, song bây giờ trong con người cô ấy lại có một điều gì đó thật kỳ lạ khiến tôi ít nhiều lo ngại: ngay cả trong lúc cô đang ngủ, tôi vẫn có cảm giác là cô đang quan sát tôi. Cô thử mở cửa mấy lần, nhưng khi nhận ra rằng mình đã bị khóa, cô biết đi tìm chìa khóa khắp phòng.
* * * * *
Ngày 6 tháng 8
Lại ba ngày nữa trôi qua, Jonathan vẫn biệt vô âm tín.
Sự chờ đợi đối với tôi bây giờ đã trở thành một sự lo âu thực sự khủng khiếp. Lúc này, tôi chỉ cần biết mình có thể viết gửi cho ai hoặc có thể tìm ai thôi thì cũng đủ yên lòng lắm rồi. Nhưng trong số bạn bè của Jonathan, không có bất cứ một ai nhận được một lời nào của anh. Tôi chỉ còn biết cầu Chúa ban cho tôi sự kiên nhẫn để chờ đợi thêm. Lucy thực sự dễ cáu gắt hơn bao giờ hết, mặc dù cô vẫn khỏe mạnh. Đêm nay có giông, mấy ngư dân nói rằng sắp sửa có bão. Chỉ cần nhìn qua trời đất, tôi cũng có thể nhận ra các dấu hiệu báo bão. Bầu trời hôm nay xám xịt; trong lúc tôi ngồi viết những dòng này, ông mặt trời đã bị che kín bởi những đám mây chở nặng hơi nước từ phía mũi đất ùn ùn kéo đến. Tất cả đều một màu xám xịt, hoàn toàn xám xịt, trừ bãi cỏ là còn một chút màu xanh đen... Ánh mặt trời lúc này chỉ còn hắt hiu những tia sáng yếu ớt qua các đám mây xám xịt xuống mặt biển cũng xám xịt, nơi thỉnh thoảng có nhô ra các đồi cát chạy dài như những ngón tay thâm đen. Những cơn sóng bạc đầu liên tục xô nhau vỗ ầm ầm vào bờ, nhưng sự ồn ào của biển dường như đã bị bóp nghẹt bởi những đám mây mù đang cùng một lúc bị dồn về phía đất liền. Tất cả tạo nên một cảm giác mênh mông. Các đám mây chồng chất lên nhau như những tảng đá khổng lồ trong một không gian ầm ầm vô tận của biển cả. Đây đó trên bãi biển, người ta có thể bắt gặp những bóng người lờ mờ bị cuộn tròn giữa lớp mây mù khiến ai trông thấy cũng tưởng là mình được nhìn thấy “những bóng cây biết đi”. Các con tàu đánh cá đang vội vàng trở về cảng để tránh tai họa của biển cả... Kia rồi, già Swales kia rồi, dường như ông lão đang muốn đến nói chuyện với tôi thì phải...
Ông lão khốn khổ đã thay đổi nhiều từ mấy ngày hôm nay, làm tôi không khỏi ngạc nhiên. Vừa ngồi xuống cạnh tôi, ông nói luôn, giọng rất khẽ :
- Tôi muốn hỏi cô một điều, cô gái ạ...
Thấy ông có vẻ lúng túng, tôi vội cầm lấy bàn tay già nua nhăn nheo của ông và bảo rằng xin ông cứ nói. Ông lão giải thích, tay vẫn để nguyên trong tay tôi :
- Con gái ạ, hy vọng ta sẽ không làm con bị sốc khi nói với con về tất cả những điều liên quan tới cái chết... Thực lòng mà nói, ta đã đi xa hơn cả những ý nghĩ của mình và ta muốn rằng con sẽ nhớ tất cả khi ta không còn ở đây nữa... Bọn ta, những kẻ già nua, thường hay lẩm cẩm. Bọn ta đều đã cập kè miệng lỗ, và chẳng ai muốn nghĩ quá nhiều đến cái chết cũng như muốn mình phải sợ cái định mệnh đó! Về phần mình, ta đã quyết định nói đôi chút về cái chết để phần nào tự trấn an được mình. Tuy nhiên, con gái ạ, có Chúa chứng giám cho, ta không hề sợ chết... không hề sợ chút nào... Chỉ có điều, giá như nó đừng vội nhằm vào ta, bởi ta còn muốn sống thêm một chút nữa. Nhưng số ta chắc chắn cũng sắp đến hạn rồi, bởi con người ta khi đã đến tuổi bách niên, thì hy vọng cũng chẳng còn được bao nhiêu. Như con thấy đấy, ta không thể nhịn được những lời báng bổ... ừ, Thần Chết chắc cũng sẽ sớm gióng lên hồi kèn gọi ta về... Song cũng đừng buồn bã mà làm gì con gái ạ? - Ông lão vừa nói vừa nhìn tôi lau nước mắt. - Thậm chí kể cả Ngài gọi ngay trong đêm nay đi, thì ta cũng sẵn lòng đáp lời. Bởi vì nói cho cùng, sống có nghĩa là chờ đợi một điều gì đó khác với cái mà chúng ta đang có, một cái gì đó khác với cái chúng ta đang làm. Cái chết là điều duy nhất mà chúng ta có thể tính đến trong hoàn cảnh đó. Ừ, con gái bé bỏng ạ, nó có thể đến và đến rất nhanh, thực ra, ta rất hài lòng! Có lẽ cơn gió của biển cả kia đã cuốn theo cùng nó tất cả những con tàu oan nghiệt cũng như những mảnh đời đơn côi khốn quẫn... Thấy chưa? Thấy chưa con. - Ông lão chợt thấy lên. - Trong ngọn gió ấy, trong lớp mây mù ấy, dường như đang lẩn khuất một cái gì đó giống như cái chết vậy? Nó đang lơ lửng trong cơn gió nguội lạnh! Nó tới đấy, nó tới đấy, ta biết mà... Chúa ơi! Hãy làm cho con đáp lại tiếng gọi ấy mà không phải nuối tiếc đi!
Ông lão sùng kính giơ hai tay lên trời rồi kính cẩn cởi mũ ra. Đôi môi ông mấp máy liên tục như đang cầu nguyện. Sau một lát im lặng, ông lão từ từ đứng đậy nắm chặt lấy hai bàn tay tôi, cầu phúc lành cho tôi rồi lặng lẽ bỏ đi với cái dáng dấp cực nhọc quen thuộc. Tôi ngây người như tượng đá, đầu óc chẳng còn biết nghĩ gì cả... Sự xuất hiện của người Tuần biển đã làm tôi sực tỉnh. Ông ta kẹp một cái ống nhòm dài ngoằng dưới nách. Theo thói quen, ông dừng lại nói nhăng cuội với tôi vài lời, trong khi ánh mắt vẫn nhìn ra biển, nơi có một con tàu hình như đang gặp khó khăn.
- Rõ là một con tàu ngoại quốc. - Người tuần biển nói. - Chắc là tàu của người Nga... Nhưng sao nó lại loay hoay kỳ quặc thế kia nhỉ? Cứ như là nó không biết mình muốn gì? như... như là cảm thấy có bão đến đít rồi mà vẫn không thể quyết định hoặc là quay mũi về hướng bắc hoặc là chạy vào cảng này ấy. Cô cứ thử nhìn mà xem! Đúng là chẳng có ai cầm lái rồi? Nó đổi hướng liên tục mỗi khi có một trận gió lồng lên! Cứ tin tôi đi, vào cái giờ này ngày mai, thế nào chúng ta cũng sẽ được nghe nói về con tàu quỷ quái này cho mà xem!
Xem tiếp chương 7