|
Thuần Chính Đệ Lục Thủ
CHẾ PHÁT PHÁ THỨC
1. DẪN NHẬP
Thủ thứ sáu của Thuần Chính Thập Nhị Thủ, nguyên cố có tên là Thiên cẩu nhập nội, khi chép vào phần Vũ Kinh bộ Đông A Di Sự, Trần Nguyên Đán chép là Chế phát phá thức. Thủ gồm 12 chiêu chống lại đối thủ khi đối thủ nắm tóc, nắm tai.
Các chiêu có tên là:
Chiêu thứ 1, 9 : Tả Thủ Chế Đỉnh
Chiêu thứ 2, 8 : Hữu Thủ Chế Đỉnh
Chiêu thứ 3, 12 : Song Thủ Chế Đỉnh
Chiêu thứ 4, 11 : Song Thủ Tao Đỉnh
Chiêu thứ 5, 10 : Song Thủ Chấp Nhĩ
Chiêu thứ 6, 7 : Chế Phát Tả Biên, Hữu Biên
Khi đối thủ nắm tóc, nắm tai, là có ý khinh thường, không chú ý. Rất dễ phản công. Cho nên phải áp dụng triệt để các nguyên tắc về nhu:
Dĩ nhu chế cương,
Dĩ nhược thắng cường,
Động trung cầu tĩnh,
Tĩnh trung cầu động,
Cương nhu phối triển,
Cương nhu hiệp nhất,
Xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị.
Ở Thủ thứ nhất, nhì, thì một chiêu rất đơn giản. Càng về sau, các chiêu càng phức tạp. Mỗi chiêu bao gồm từ 5 tới 7 thức gồm đủ cả cương nhu. Cho nên khi huấn luyện không nên chọn những chiêu phức tạp huấn luyện cho người mới học. Phải đi thứ tự từ ít tới nhiều.
Về tốc độ, sang Thủ thứ sáu bắt đầu cần nhanh hơn, nghĩa là tốc độ không còn chậm chạp nữa mà phải chuyển sang trung bình. Chân tay xử dụng cũng phải thuần thục, vì có thể một lúc xử dụng cả chân lẫn tay, mà chân cương, tay nhu, hoặc ngược lại. Nếu không luyện tập phát lực quen thì có thể biến thành cương hoặc nhu cả, sẽ gây ra những sai lầm căn bản, nguyên lý bị tuyệt, bại vong trong chớp mắt xẩy ra vậy.
2. NỘI CÔNG, KHÍ CÔNG ÁP DỤNG
2.1. NỘI CÔNG ÁP DỤNG
Ôn lại toàn bộ nội công đã học,
2.2. KHÍ CÔNG ÁP DỤNG
Vận khí theo vòng Tiểu Chu-thiên. (xem phụ lục ở cuối thủ này)
3. CÁC CHIÊU THỨC
3.1. CHIÊU THỨ NHẤT
TẢ THỦ CHẾ ĐỈNH
TƯ THỨC
Đối thủ dùng tay trái đứng trước nắm tóc.
Trường hợp thứ nhất :
GIẢI THOÁT
– Tay phải biến thành trảo chụp lấy bối chưởng tay trái đối thủ.
– Tay trái chụp hổ khẩu vào bắp tay trái đối thủ.
– Tay phải đẩy, tay trái kéo, bẻ gập tay đối thủ lại.
– Chân trái đúng nguyên, chân phải bước về trước trái một bước.
– Đối thủ bị đau, buông tay, tay phải nhân đó giật tay trái đối thủ khỏi tóc.
PHẢN CÔNG
– Vặn tay trái đối thủ theo chiều thuận một vòng, đối thủ đau, nghiêng người về phía phải ta.
– Chân phải đưa đầu gối đỡ lưng đối thủ, tay phải quặp cổ đối thủ. Hai tay, chân phải tung đối thủ lên cao, rồi vật xuống đất. (Nếu đối thủ đau quá dỡ chân trái lên thì tay trái chụp chân trái đối thủ, cùng tay phải dộng đầu đối thủ xuống đất).
Trường hợp thứ nhì :
GIẢI THOÁT
– Mượn đà đối thủ giật tóc, tiến sát tới đối thủ. Tay trái biến thành chưởng chụp lấy cườm tay trái đối thủ. Ngón xen vào chưởng tâm bẻ trở ra.
– Tay phải chụp khuỷu tay trái đối thủ đẩy xéo lên trên sang phía tay phải.
– Đối thủ đau nghiêng mình về phải, và buông tay ra. Tay trái giật mạnh tay trái đối thủ khỏi tóc.
PHẢN CÔNG
Chân phải tiến về trước một bước :
a. Cùi chỏ phải đánh Bình Đông, người quay về trái 90 độ.
b. Bắt tay trái đối thủ qua vai phải, dùng lưng, và hai tay quật đối thủ qua đầu (có thể chỉ dùng a, b, cũng có thể dùng cả hai).
3.2. CHIÊU THỨ NHÌ
HỮU THỦ CHẾ ĐỈNH
TƯ THỨC
Đối thủ dùng tay phải đứng trước nắm tóc.
Trường hợp thứ nhất :
GIẢI THOÁT
– Tay trái biến thành trảo chụp lấy bối chưởng tay phải đối thủ.
– Tay phải chụp hổ khẩu vào bắp tay phải đối thủ.
– Tay trái đẩy, tay phải kéo, bẻ gập tay đối thủ lại.
– Chân phải đứùng nguyên, chân trái bước về trước chân phải một bước.
– Đối thủ bị đau, buông tay, tay trái nhân đó giật tay phải đối thủ khỏi tóc.
PHẢN CÔNG
– Vặn tay phải đối thủ theo chiều thuận một vòng, đối thủ đau, nghiêng người về phía trái ta.
– Chân trái đưa đầu gối đỡ lưng đối thủ, tay trái quặp cổ đối thủ. Hai tay, chân trái tung đối thủ lên cao, rồi vật xuống đất. (Nếu đối thủ đau quá dỡ chân phải lên thì tay phải chụp chân phải đối thủ, cùng tay trái dộng đầu đối thủ xuống đất).
Trường hợp thứ nhì :
GIẢI THOÁT
– Mượn đà đối thủ giật tóc, tiến sát tới đối thủ. Tay phải biến thành chưởng chụp lấy cườm tay phải đối thủ. Ngón xen vào chưởng tâm bẻ trở ra.
– Tay trái chụp khuỷu tay phải đối thủ đẩy xéo lên trên sang phía tay trái.
– Đối thủ đau nghiêng mình về trái, và buông tay ra. Tay phải giật mạnh tay phải đối thủ khỏi tóc.
PHẢN CÔNG
Chân trái tiến về trước một bước :
a. Cùi chỏ trái đánh Bình Đông, người quay về phải 90 độ.
b. Bắt tay phải đối thủ qua vai trái, dùng lưng, và hai tay quật đối thủ qua đầu (có thể chỉ dùng a, b, cũng có thể dùng cả hai).
3.3. CHIÊU THỨ BA
SONG THỦ CHẾ ĐỈNH, TIỀN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước dùng hai tay nắm tóc.
GIẢI THOÁT
– Tiến về phía trước một bước.
– Hai tay chụp lấy lưng hai bàn tay đối thủ.
– Tay phải chụp tay trái.
– Tay trái chụp tay phải.
– Kiềng người lên bẻ gập 2 bàn tay đối thủ theo chiều âm.
– Đối thủ đau, nới rộng tay. Nhân đó giật mạnh hai tay đối thủ khỏi đầu.
– Bắt chéo hai tay đối thủ, kề vai phải vào ngực đối thủ. Chân phải tiến về trái một bước, người qyày về trái 180 độ. Quật đối thủ qua vai trái, dộng đầu xuống đất.
PHẢN CÔNG
– Phóng cước phải vào mặt, thái dương đối thủ.
3.4.CHIÊU THỨ TƯ
SONG THỦ TAO ĐỈNH, TIỀN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt ta, dùng hai tay xoa đầu hoặc đè đầu ta xuống.
GIẢI THOÁT
– Người trầm xuống một chút, để giảm bớt áp lực tay đối thủ. Cả hai chân đi về trước một bước.
– Chân phải xen, án ngay sau hai chân đối thủ về phía trái đối thủ. Người quay về trái 90 độ.
– Tay phải xuyên qua ngực đối thủ vòng sang trái, gạt đối thủ ngã về sau.
– Đối thủ ngã nằm ngửa trên đùi phải ta, hai chân chĩa lên trời, tay trái vòng xuống bốc hai chân đối thủ. Đùi phải nâng lưng đối thủ lên cao, rồi vật xuống đất.
PHẢN CÔNG
Nếu đối thủ chưa bị thương nặng, phóng cước vào các yếu lộ trên người đối thủ cho ngất luôn.
3.5. CHIÊU THỨ NĂM
SONG THỦ CHẤP NHĨ, TIỀN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt ta, dùng hai tay bẹo tai mà giật tới, đẩy lui.
GIẢI THOÁT
– Trường hợp tuy nhẹ nhàng, nhưng rất khó giải thoát, lý do hai tai bị chế ngự. Nếu không khéo giải thoát thì có thể rách tai.
– Tiến tới một bước để giảm bớt sức kéo của tay đối thủ.
– Đầu húc vào giữa mặt đối thủ thúc mạnh. Hai tay chụp vào huyệt Kiên Tĩnh móc mạnh.
– Đối thủ đau buông hai tay.
PHẢN CÔNG
– Người quay 180 độ về trái. Chân phải đánh Hậu Thiên Cước vào hạ bộ đối thủ.
GHI CHÚ
Lý thuyết như thế, nhưng thực tế chúng tôi đã xử dụng, chỉ cần hai tay biến thành trảo chụp vào huyệt Kiên Tĩnh, đối thủ cũng choáng váng ngã rồi.
3.6. CHIÊU THỨ SÁU
CHẾ PHÁT, HỮU BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng bên phải, dùng tay trái túm tóc ta.
GIẢI THOÁT
– Tay trái biến thành trảo chụp lên lưng bàn tay trái đối thủ. Tay phải chụp cổ tay phải đối thủ bẻ theo chiều âm.
– Giật mạnh tay đối thủ ra khỏi tóc, kéo sang trái.
– Chân phải bước xéo sang phải trấn trước hai chân đối thủ.
– Đối thủ mất trọng tâm ngã chúi về trước.
PHẢN CÔNG
– Hai tay vặn tay trái đối thủ một vòng.
– Chân phải phóng cước vào mặt đối thủ.
3.7. CHIÊU THỨ BẢY
CHẾ PHÁT, TẢ BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng bên trái, dùng tay phải túm tóc ta.
GIẢI THOÁT
Đối thủ đứng bên trái, dùng tay phải túm tóc ta, hơi khác bên phải một chút vì tay trái ta yếu hơn.
– Tay phải biến thành trảo chụp lên lưng bàn tay phải đối thủ. Tay trái chụp cổ tay đối thủ bẻ theo chiều âm.
– Giật mạnh tay đối thủ ra khỏi tóc, người quay về trái 90 độ. Hai tay vặn tay đối thủ một vòng theo chiều dương.
– Đối thủ đau, chúi người úp sấp xuống. Chân phải dẫm lên vai phải đối thủ. Buông tay đối thủ ra.
ĐỐI THỦ BỊ KHÓA TAY PHẢI BẰNG CHÂN
PHẢN CÔNG
– Chân trái trấn Hậu Thiên Cước vào các huyệt Á Môn, Phong Trì, Não Hộ đối thủ.
3.8. CHIÊU THỨ TÁM
HỮU THỦ CHẾ ĐỈNH, HẬU
TƯ THỨC
Đối thủ đứng sau dùng tay phải túm tóc.
GIẢI THOÁT
– Tay trái biến thành trảo chụp lưng bàn tay đối thủ.
– Tay phải nắm cườm tay trái đối thủ : 4 ngón vào trong, ngón cái ra ngoài.
– Chân phải lùi lại một bước, hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm.
PHẢN CÔNG
– Tay trái giật tay phải đối thủ về trước, tay phải xuyên qua vai trái đối thủ chụp gáy kéo đối thủ về trước, chân phải quét hai chân đối thủ.
– Đối thủ ngã ngửa.
– Khóa tay phải đối thủ lại.
3.9. CHIÊU THỨ CHÍN
TẢ THỦ CHẾ ĐỈNH, HẬU
TƯ THỨC
Đối thủ đứng sau dùng tay trái túm tóc.
GIẢI THOÁT
– Tay phải biến thành trảo chụp lưng bàn tay đối thủ.
– Tay trái nắm cườm tay phải đối thủ : 4 ngón vào trong, ngón cái ra ngoài.
– Chân trái lùi lại một bước, hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm.
PHẢN CÔNG
– Tay phải giật tay trái đối thủ về trước, tay trái xuyên qua vai phải đối thủ chụp gáy kéo đối thủ về trước, chân trái quét hai chân đối thủ.
– Đối thủ ngã ngửa.
– Khóa tay trái đối thủ lại.
Ghi lại một kỷ niệm thời thơ ấu, (12 tuổi)
Hồi thơ ấu, Gia-nghiêm trấn nhậm vùng Quảng-yên. Tuy là công tử, nhưng Sư-phụ cũng như Ngoại-tổ không cho tôi mặc y phục như các anh em trong nhà, mà trang phục như các thiếu niên truyền thống: Quần áo nâu, đi dép bằng cỏ, đeo túi vải đi học. Bấy giờ trong tỉnh cứ vào ngày thứ bẩy thì đội kèn của Thủy-quân Pháp vừa diễn hành vừa tấu nhạc. Nhạc trong tiếng Pháp là Musique, nhưng dân chúng phát âm là Bú-dích. Đội kèn được gọi là đội kèn Bú-dích. Sau khi diễn hành trên phố chính thì đội kèn tới công viên chính tấu nhạc. Dân chúng, trẻ con đứng xem rất đông đảo. Đám trẻ con rắn mặt cứ đứng trước các nhạc công, tay cầm trái khế, trái sấu, trái bứa làm bộ đưa lên miệng ăn. Các nhạc công bị chảy nước miếng tấu nhạc không còn đúng âm diệu nữa. Vì vậy, lúc nào cũng có hai ba ông đội xếp (tức Cảnh sát) Việt Nam cầm roi đánh đám trẻ này.
Hôm ấy, đi học về, như thường lệ, tôi cũng đứng lẫn trong đám đông nghe tấu nhạc, đám trẻ rắn mặt lại trêu các nhạc công. Ông đội xếp cầm roi quất túi đuổi chúng. Thuận tay ông quất vào đầu tôi. Phản ứng tự nhiên tôi trầm người xuống, chờ roi qua đầu, chuyển tay phải nắm bàn tay ông ta, vặn một vòng. Tay trái đoạt roi ông ta quẳng xuống đất rồi thản nhiên bỏ đi.
Ba hôm sau, trên đường đi học về, chân nhảy cà xơn như con sẻ, thình lình bị ái đó túm tóc. Lập tức tôi xử dụng chiêu này. Khi đối thủ ngã, thay vì khóa tay y, tôi phóng một cước, vào sườn phải đối thủ. Bấy giờ tôi mới nhận ra rằng người túm tóc mình là thầy đội xếp đánh tôi hôm trước.
Ngay chiều hôm sau thầy đội xếp lên chùa xin trị vết thương. Hôm đó là ngày trực của sư tỷ Diệu Tuyền. Trong chín bà sư tỷ thì bà Diệu Tuyền thương tôi nhất. Chỉ xét vết thương tay, sườn, chị biết ngay thầy đội túm tóc người ta rồi bị phản công bằng Thuần Chính Thập Nhị Thủ. Nhưng thầy đội xếp lại khai rằng đi bắt trộm rồi bị đánh. Sau khi băng vết thương, dán cao cho thầy đội xếp, chị nói:
"Thầy khai bị trộm đánh, e không đúng. Tôi đoán thầy đi sau người ta, rồi dùng tay túm tóc người ta, bị người ta phản công. Này thầy đội, những người học được võ công này trong tỉnh nhà không nhiều. Họ đều có đạo đức, không ai đi ăn trộm đâu".
Thầy đội đành thú nhận. Dù thương em vô cùng, nhưng chị Diệu Tuyền cũng phải trình lên sư phụ (cũng là bản sư). Thế là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Tôi được miễn tội đánh người không biết võ, vì tự vệ bất khả kháng. Nhưng bị kết tội: Không chế chỉ tâm thần, đá vào sườn khi đối thủ ngã. Hình phạt: Kể từ lúc thỉnh chuông ban mai, phải xách nước dưới suối lên đỉnh đồi, đổ đầy hai cai chum (lu); sao hoàn tất trước giờ Ngọ.
Cũng nên nhắc để độc giả biết, luật lệ của các chùa ngoài Bắc là tăng ni phải ăn cơm trước giờ Ngọ. Vì vậy các tăng ni khi phạm lỗi thương bị mắng "Quá Ngọ". Sau này người ta đọc trại đi thành Bá Ngọ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu thơ:
Đầu sư há phải gì bà cốt,
Bá Ngọ con ong bé cái lầm.
Tuy là đệ tử tục gia, nhưng khi lên chùa tôi cũng phải chịu kỷ luật chung. Lúc thi hành lệnh phạt, thùng nước cuối cùng vừa đổ đầy chum, thì chuông Ngọ đổ. Thế là tôi tiu ngỉu như mèo cụt đuôi, xách thùng xuống dưới đồi, yên tâm bị nhịn đói. Vừa xuống sân thì thấy sư tỷ Diệu Hòa đi ngược chiều với tôi, chị nói bâng quơ: Không được vào phòng ăn, thì lên Bảo-điện thiếu gì thức ăn. Tôi tỉnh ngộ, lên bảo điện lấy oản, chuối, bánh chay ăn thả dàn.
3.10. CHIÊU THỨ MƯỜI
SONG THỦ CHẤP NHĨ, HẬU
TƯ THỨC
Đối thủ đứng sau, dùng hai tay bẹo tai mà giật tới đẩy lui.
GIẢI THOÁT
– Hai tay nắm lấy hai lưng bàn tay đối thủ ép sát vào đầu, lùi xéo về trái một bước. Người trầm xuống chân phải trấn sau hai chân đối thủ.
– Tay phải đánh cùi chỏ Bình Nam, gạt đối thủ ngã về sau.
PHẢN CÔNG
– Khi đối thủ ngã, ta ngã theo, hai tay chụp hai tay đối thủ bẻ chéo vào nhau. Nếu bẻ mạnh thì hai tay đều gẫy.
3.11. CHIÊU THỨ MƯỜI MỘT
SONG THỦ TAO ĐỈNH, HẬU
TƯ THỨC
Đối thủ đứng sau, dùng hai tay xoa đầu hoặc đè đầu ta xuống.
GIẢI THOÁT
– Chân trái đứng nguyên, trầm người xuống, chân phải bước về sau một bước, người quay về phải 90 độ. Trong khi quay cùi chỏ phải đánh Bình Đông vào huyệt Cữu Vĩ, Đản Trung, Thần Đường đối thủ.
– Người quay về phải 90 độ nữa, cúi xuống, hai tay bốc chân đối thủ tung qua đầu, dộng đầu đối thủ xuống đất.
PHẢN CÔNG
Quay nhanh lại sau, hai tay quay chân đối thủ đi một vòng, ném ra xa.
3.12. CHIÊU THỨ MƯỜI HAI
SONG THỦ CHẾ ĐỈNH, HẬU
TƯ THỨC
Đối thủ đứng sau, dùng hai tay túm tóc.
GIẢI THOÁT
– Hai tay chụp hai bắp tay đối thủ ghì xuống đất : tay trái chụp tay trái, tay phải chụp tay phải, người cúi theo.
– Hai chân dang ra, hai tay buông hai tay đối thủ, xen vào giữa hai chân chụp chân đối thủ giật mạnh về trước.
– Đối thủ ngã, sẽ buông tay ra để chống.
– Ta ngã theo, thuận tay vặn chân đối thủ từ 360 đến 480 độ. Đối thủ bị lật sấp.
PHẢN CÔNG
Bẻ ngược chân đối thủ khóa lại, tay trái đè chặt, tay phải chém Bình Nam Đao vào gáy đối thủ.
PHỤ LỤC THỦ THỨ SÁU
Khi bắt đầu phổ biến Thuần Chính Thập Nhị Thủ, tôi biết chắc sẽ gặp nhiều công kích vì lý do tôi từ chối trả lời những thắc mắc, vì tôi còn nhiều việc ưu tiên phải hoàn tất trước khi gối mỏi, trí mờ. Tôi đã nói rõ rằng nếu tôi chú giải chi tiết pho võ công sơ đẳng này, cho những vị khác môn phái thì phải mất 6 năm, viết ít nhất 6000 trang giấy. Biên tập cho người học võ đời nay, tôi sẽ phải giải thích trên dưới ngàn câu hỏi. Tỷ như câu hỏi Vòng Tiểu Chu Thiên (VTCT) là gì? Thế rồi đọc VTCT, có người sẽ lại hỏi Âm Dương là gì? Lại phải giảng về học thuyết này khoảng 70 trang A4! Nay tôi thử phổ biến VTCT để chứng minh cho điều đó.
Khí Công
LUYỆN VÒNG TIỂU CHU THIÊN
1.-DẪN NHẬP
Vòng Tiểu-chu-thiên vừa là một tư thức luyện khí công độc lập, vừa là một đoạn khởi đầu để luyện các thức khí công khác. Luyện độc lập, cũng có nhiều hiệu năng trong khoa trị bệnh và tăng cường chân khí, nội lực. Còn dùng làm khởi đầu cho các thức khác, nó có công dụng điều hòa khí huyết, khiến cho cơ thể thăng bằng, khi luyện công khí huyết mới không nghịch loạn, gây phản ứng tai hại.
Cho đến nay, khoa khí-công ra đời có trên hai nghìn năm, lưu truyền trong các quốc gia Á-châu rất rộng rãi. Mỗi gia, mỗi phái đều thủ đắc sở trường, sở đoản cùng mục đích riêng, nhưng có một điểm gần như thống nhất là họ đều luyện vòng Tiểu-chu-thiên. Lấy vòng Tiểu-chu-thiên làm căn bản để luyện các tư thức khác. Phép luyện vòng Tiểu-chu-thiên tuy các gia, các phái đó đôi khi có chi tiết khác nhau, nhưng đều giống nhau ở những điểm sau đây:
1. Luyện nội lực trong võ học.
2. Luyện thể lực trợ giúp các môn thể dục, thể thao.
3 Làm căn bản cho sự vận khí từ trong ra ngoài (lý ra biểu) và từ ngoài vào trong (biểu vào lý).
4. Luân lưu chân khí từ trên xuống dưới (do thượng giáng hạ) và từ dưới lên trên (do hạ hướng thượng).
5. Điều hòa chân khí từ phải sang trái ( do hữu lai tả ) và từ trái sang phải (do tả hồi hữu).
6. Chữa trị khí huyết nghịch loạn khi bị ngã, bị đánh đập, bị tai nạn, hoặc luyện Thiền, Yoga sai gây ra (tiểu thuyết gọi là tẩu hỏa nhập ma). Nhất là trị di chứng não xuất huyết đưa đến bán thân bất toại.
7. Thăng bằng âm dương, khí huyết, giúp cho khoa trị bệnh.
Chúng tôi sưu tầm tất cả phương pháp của các gia, các phái, rồi thử nghiệm lại trong hai mươi năm. Những chi tiết rườm rà vô ích, cũng như có hại đã được tước bỏ. Sau đây là phương pháp được giữ lại.
Vòng Tiểu-chu-thiên là một thức khí-công thuộc loại cao cấp. Người mới tập, tự luyện, với thời lượng mỗi ngày một giờ, thì ít ra phải trên sáu tháng mới đả thông được kinh mạch. Sau đó luyện thêm một tháng mới có kết quả. Tuy nhiên những loại người sau đây, tùy theo ngộ tính cao hay thấp, chỉ cần một ngày hay mười ngày là thành công ngay:
1. Những người đã luyện khí-công, thiền, yoga từ một năm trở đi.
2. Những người đã tập võ như Thiếu-lâm, Thái-cực, Đường-lang, Túc-quyền, Hiệp-khí, Không-thủ, Kiếm-thuật, Nhu-thuật, Việt-võ đạo từ một năm trở đi.
3. Những thể tháo gia chuyên nghiệp.
4. Các thầy thuốc châm cứu.
5. Các vũ công,
6. Các huấn luyện viên thể dục, thể thao,
7. Nhưng người làm việc bằng chân tay: nông dân, thợ sơn, thợ nề, thợ mộc v.v.
2.- ĐỊNH NGHĨA
Theo quan niệm y học Á-châu, thì một cơ thể là một thái cực, một vũ trụ. Cơ thể có mười hai chính kinh, và kỳ kinh bát mạch. Khi chân khí khởi hành từ bất cứ huyệt nào, kinh nào, tạng nào, phủ nào, chiều nào, sau khi luân lưu hết mười hai kinh, qua ngũ-tạng, lục phủ, rồi trở về điểm khởi hành thì gọi là đại-tuần-du nghĩa là đi hết một vòng Đại-chu-thiên. Khi chân khí khởi hành từ bất cứ , tạng nào, phủ nào, thông ra Nhâm-mạch, Đốc-mạch, hoặc bất cứ huyệt nào trên Nhâm-mạch, Đốc-mạch, sau khi luân lưu một vòng theo Nhâm-mạch, Đốc-mạch rồi trở về điểm khởi hành thì gọi là tiểu-tuần du, nghĩa là đi hết một vòng Tiểu-chu-thiên.
Vòng Tiểu-chu-thiên là đường dẫn khí khởi từ điểm nào đó đi một vòng:
– Từ Nhâm-mạch sang Đốc mạch.
– Hoặc từ Đốc-mạch sang Nhâm-mạch.
– Rồi trở điểm khởi hành.
3.- HỆ THỐNG KINH-LẠC
Vậy vòng Tiểu-chu-thiên là gì? Tiểu là nhỏ, chu là một vòng, thiên là trời. Tiểu-chu-thiên có nghĩa là vận chân khí đi một phần nhỏ, nhưng khắp cơ thể. Còn vòng Đại-chu-thiên là vận chân khí đi hết toàn cơ thể.
Vòng Tiểu-chu-thiên bao gồm Nhâm-mạch và Đốc-mạch cùng một số lạc mạch của chúng. Trước hết, hãy khảo về hai mạch này.
3.1. Nhâm-mạch
Nhâm-mạch là một trong Kỳ-kinh bát mạch. Tất cả các kinh âm đều rót về nhâm-mạch như các sông ngòi đổ vào một cái hồ. Cho nên trong phép luyện khí-công, không thể không dùng đến mạch này.
3.11. Đường di chuyển kinh mạch
Có hai tuyến rõ ràng:
– Khởi từ huyệt trung-cực (VC3) ở bụng dưới, đi theo trung tuyến của bụng, ngực; qua rốn, lên ngực, tới cổ, hầu, cằm, vòng quanh mép, rồi trực thượng nhập vào hai mắt.
– Từ bụng dưới (nữ là bào cung tức ultérus, nam là trung điểm tuyến nối rốn với huyệt mệnh-môn) nhập vào đầu xương sống, đi giữa xương sống lên, tỏa ra lưng.
3.12. Các huyệt trực thuộc
VÙNG DƯỚI RỐN
Hội-âm (VC1), Khúc-cốt (VC2), Trung-cực (VC3), Quan-nguyên (VC3), Thạch-môn (VC5), Khí-hải (VC6), Âm-giao (VC7), Thần-khuyết (VC8), Thủy-phân (VC9),
VÙNG TRÊN RỐN
Hạ-uyển (VC10), Kiên-lý (VC11), Trung-uyển (VC12), Thượng-uyển (VC13), Cự-khuyết (VC14),
VÙNG NGỰC
Cữu-vỹ (VC15), Trung-đình (VC16), Đản-trung (VC17), Ngọc-đường (VC18), Tử-cung (VC19), Hoa-cái (VC20), Thi-cơ (VC21),
VÙNG CỔ, MẶT
Thiên-đột (VC22), Liêm-tuyền (VC 23), Thừa-tương (VC 24).
3.13. Giao hội huyệt
– Giao-hội với túc dương minh vị kinh tại huyệt Thừa-khấp (E1)
– Giao hội với Đốc-mạch tại huyệt Ngân-giao (VG 28).
3.2. Đốc-mạch
Đốc-mạch là nơi tổng hội các kinh dương. Các kinh dương dù đi theo chiều nào, rồi cũng phải thông với đốc-mạch. Cho nên phàm trong phép luyện khí-công không thể không xử dụng đến mạch này.
3.21. Đường di chuyển của kinh mạch
Đường di chuyển của đốc-mạch có bốn lạc-tuyến:
– Khởi từ bụng dưới, tới huyêt Hội-âm (VC1), chạy theo xương sống, tới ót, tại huyệt Phong-phủ (VG16), nhập vào não, lên đỉnh đầu, rồi chuyển xuống sống mũi.
– Khởi từ bụng dưới, tới bộ phận sinh dục, đến huyệt Hội-âm (VC1), qua xương cụt, phân phối vào mông, đi giữa hai tuyến bên trong của túc thiếu-âm thận kinh, rồi chạy trở lên gặp túc thái dương bàng quang kinh, lại nhập vào giữa xương sống, tới thận.
– Cùng với Túc thái dương bàng quang kinh, khởi từ khóe trong mắt, lên trán, giao hội với đoạn ở đỉnh đầu, một lạc mạch vào não, xuyên ra hai u đầu, xuống cần cổ, đi hai bên xương sống, tới vùng thận, thì nhập thận.
– Từ hai bên bụng dưới trực thượng, qua vùng rốn, hướng thượng lên tâm, lên hầu, qua hai cằm, rồi nhập hai đồng tử.
3.22. Các huyệt trực thuộc
VÙNG MÔNG, THẮT LƯNG
Trường-cường (VG1), Yêu-du (VG2), Dương-quan (VG3), Mệnh-môn (VG4), Huyền-xu hay khu (VG5), Tích-trung (VG6),
VÙNG LƯNG, LỒNG NGỰC
Trung-xu hay khu (VG7), Tiết-túc (VG8), Chí-dương (VG9), Linh-đài (VG10), Thần-đạo (VG11), Thân-trụ (VG12), Đào-đạo (VG13), Đại-trùy (VG14),
VÙNG ĐẦU, CỔ
Á-môn (VG15), Phong-phủ (VG16), Não-hậu (VG17), Cường-gian (VG18), Hậu-đỉnh (VG19), Bách-hội (VG20), Tiền-đỉnh (VG21), Thông-hội (VG22), Thượng-tinh (VG23), Thần-đình (VG24), Tố-liêu (VG25), Thủy-cấu (VG26), Đoài đoan (VG27), Ngân-giao (VG28).
3.23. Giao hội huyệt
– Giao hội với túc thái dương bàng quang kinh tại huyệt Phong-phủ (VG16).
– Giao hội với Nhâm-mạch tại huyệt Hội-âm (VC1).
3.3. Khảo sát
Thuật ngữ của khoa khí-công gọi:
– Xương cụt (huyệt Trường-cường VG1),
– Xương sống,
– Ngọc chẩm (huyệt Phong-phủ VG16),
là tam quan, tức ba cái cửa để dẫn khí nhập cơ thể. Vòng Tiểu-chu-thiên chạy qua tam quan và tam điền :
– Thượng điền tức huyệt Ấn-đường,
– Trung điền tức tỳ-vị,
– Hạ điền tức huyệt Khí-hải VC6).
Vòng Tiểu-chu-thiên tuy dễ luyện, nhưng vì có nhiều sai lầm do tam sao thất bản, nên nhiều người chỉ biết những gì do sư phụ truyền dạy, rồi khăng khăng cho rằng cái của mình học mới đúng. Chúng tôi trình bầy rõ cái bất đồng này.
3.31. Sự khác biệt nhau
Độc giả thấy đường di chuyển của nhâm-đốc mạch trên đây có rất nhiều chi tiết, khác hẳn với một số sách y khoa thuộc loại “viết cho có viết”. Tại sao lại có hiện tượng đó? Xét về nguyên do ta thấy có ba:
– Một là, đa số các châm cứu-gia chỉ học tính chất huyệt đạo thực mau để trị bệnh, mà không để ý đến chi tiết đường di chuyển kinh mạch, nên họ lướt qua nhâm, đốc. Có rất nhiều sách y-khoa không khảo sát tường tận. Dĩ chí, khi học khí-công, điều căn bản phải thông thạo kinh mạch, lạc mạch, người học tìm hiểu nhâm-Đốc trong y-thư, thì y-thư không đủ.
– Hai là, những sách viết về y-khoa, đa số dịch từ loại sách giản yếu của Trung-quốc, mà trong những sách này cũng chỉ lướt qua nhâm-đốc mà thôi. Khi đã thuộc loại lướt qua, thì sao đầy đủ mọi lạc mạch, phân lạc?
– Ba là, giai đoạn 1949-1980, khoa khí-công tại Trung-quốc gần như không được giảng dạy, vì vậy các gia, các phái tuy biết rất rõ, mà lại phải dấu kín, vì sợ tai vạ. Từ sau 1981, khoa khí-công được trọng dụng, các khí công gia mới đem mật quyết của gia phái mình ra giảng dạy, căn cứ vào trí nhớ, nên không tránh khỏi tam sao, thất bản.
Gần đây, trong bộ Châm-cứu học của Trung-y học viện Thượng-hải (1979), phần kinh lạc, mới biên chép đầy đủ. Rồi từ đó, một số thư tịch khí-công mới trình bầy hết những gì cổ nhân đã luyện tập.
3.32. Vận khí theo vòng Tiểu-chu-thiên
Xét đường di chuyển của nhâm, đốc-mạch, ta thấy hai mạch này thông với nhau:
– Ở khu mặt: mũi, mắt, môi trên.
– Ở khu bụng dưới, hậu môn, bộ phận sinh dục, xương sống.
Vì vậy những người được đả thông kinh mạch, có thể vận khí chu lưu suốt vòng Tiểu- chu-thiên nghĩa là từ nhâm-mạch sang đốc-mạch và ngược lại.
Đốc-mạch là nơi tất cả kinh dương tụ hội về. Nhâm-mạch là nơi tất cả các kinh âm hội hợp. Nhâm, Đốc lại thông với tất cả các mạch âm-kiêu, dương-kiêu, âm-duy, dương-duy, xung-mạch, đới-mạch. Cho nên chỉ cần vận khí một vòng Tiểu-chu-thiên là coi như đã tuần lưu qua khắp cơ thể, vì vậy mới có tên “một vòng nhỏ vũ trụ”.
4. CÔNG DỤNG
Vòng Tiểu-chu-thiên là một trong những thức khí công căn bản, cũng như thu công. Luyện khí công mà không qua vòng Tiểu-chu-thiên thì không thể gọi là khí công. Có thể nói vòng Tiểu-chu-thiên như ngưỡng cửa để bước vào ngôi nhà khí công, hoặc như chìa khóa, mở cửa vào nhà. Công dụng của vòng Tiểu-chu-thiên rất rộng.
Không nên lầm lẫn vòng Tiểu-chu-thiên với một thức động công Tiểu-chu-thiên sẽ trình bầy ở chương sau. Vòng Tiểu-chu-thiên chỉ là đường di chuyển của kinh mạch để luyện khí công. Còn Tiểu-chu-thiên công là một thức động công dùng để luyện lực, điều trị bệnh khí hư, bồi bổ sức khoẻ cho người già, chứng kiến bò trong bắp thịt (Fourmiement), spasmophilie, tăng cường hiệu năng thực-vật thần-kinh và trị di chứng não xuất huyết (bán thân bất toại).
Công dụng của vòng Tiểu-chu-thiên rất nhiều:
4.1. Hiệu năng
– Điều hòa khí huyết cơ thể: trên, dưới; phải, trái; trong, ngoài.
– An thần, dưỡng trí.
– Trợ giúp tiêu hóa.
– Gia tăng vệ khí, chân khí.
– Tăng cường hiệu năng tạng phủ, bộ máy tiêu hóa và bộ máy sinh dục.
– Làm căn bản cho các thức khí công.
– Tạo thần lực trợ ngoại công trong võ học.
|