|
Thuần Chính Đệ Bát Thủ
ANH THƯ BẢO QUỐC
1. DẪN NHẬP
Thủ thứ tám trong Thuần chính thập nhị thủ mang tên là Anh Thư Bảo Quốc. Kể từ khi sáng chế cho đến nay vẫn giữ nguyên một tên duy nhất.
Thủ này có mười hai chiêu mang tên như sau:
Chiêu thứ nhất, nhì : Thoát Hoan hồi bắc,
Chiêu thứ ba : Sanh cầm ô mã,
Chiêu thứ tư, năm : Lưỡng hồi thạch mã,
Chiêu thứ sáu, bảy : Hoành sáo giang san,
Chiêu thứ tám, chín : Tỳ hổ thôn ngưu,
Chiêu thứ mười, mười một : Phàn tiếp đảo địa,
Chiêu thứ mười hai : Sơn hà thiên cổ.
Khác với các thủ trước, các chiêu thức, do tác giả nhân mô tả động tác đặt ra. Những chiêu thức ở thủ này do hoàn cảnh lịch sử mà tác giả ứng biến xử dụng, rồi dùng ngay hoàn cảnh đó mà đặt tên.
Đây là những chiêu thức thuộc loại khó xử dụng, phức tạp nhất của nhu quyền. Không còn nằm trong thức tự vệ thông thường mà đi vào việc bảo quốc
Những nguyên lý căn bản:
Dĩ nhu chế cương
Dĩ nhược chế cường
Tá lực đả lực
Cương nhu phối triển
Cương nhu hiệp nhất.
Vẫn giữ nguyên không đổi. Bao giờ cũng nhân đối thủ ra đòn trước, ta nhân đó phản kích lại
Chỉ cần luyện thực tinh thục thủ thứ 7, thứ 8 cũng có thể chế ngự được các loại thủ pháp.
Thủ này mang dấn vết lịch sử nhiều, những chiêu thức tuy tầm thường nhưng người xưa đã luyện tập tinh, thần, khí đến mức độ tòng tâm xử dụng, nên đã là chứng nhân lịch sử võ đạo Việt Nam.
Về chiêu số không cần mau cho lắm. Mà cần nhất phải dùng lực đúng mức. Nhanh quá, chậm quá thì cũng hỏng. Mạnh quá thì trái nguyên tắc dĩ nhu chế cương. Mà yếu quá thì không đủ chế ngự đối thủ. Cho nên cần phải luyện tập thực cẩn thận. Vì chỉ cần sai lạc một chút là sự sống chết đến ngay tức khắc
2. NỘI CÔNG, KHÍ CÔNG ÁP DỤNG
2.1. Nội công áp dụng
Thủ thứ nhất đã dạy cách xử dụng về nguyên tắc:
- Dĩ nhu chế cương, lấy mềm thắng cứng.
- Dĩ nhược chế cường: lấy yếu thắng mạnh.
- Xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị : ra chiêu bất thần, đánh vào chỗ địch không phòng bị.
- Dĩ bỉ chi đạo, hoàn thi ư bỉ thân : lấy cái sở trường của địch mà trị địch. Tức đối thủ nắm tay cậy mạnh thì tấn công ngay vào tay đối thủ.
Bây giờ cần giảng chi tiết về bốn nguyên tắc này.
2.2. Khí công áp dụng
Giảng chi tiết về vòng Đại Chu Thiên.
3. CÁC CHIÊU THỨC
3.1.CHIÊU THỨ NHẤT
THOÁT HOAN HỒI BẮC (HỮU BIÊN)
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt, lưng quay về phía ta, sử dụng thủ pháp: Bình Nam, Thái cực dương đánh vào tiền lộ ta.
Chiêu này chính là chiêu mà Thủy Tiên công chúa theo phu quân là danh tướng Phạm Ngũ Lão đón đường rút binh của Thoát Hoan vào năm 1285 tại Vạn Kiếp. Thoát Hoan bị Phạm Ngũ Lão đánh bại bỏ chạy, bà rượt theo. Thoát Hoan dụng thủ pháp Bình-nam phản công. Bà đã sử dụng chiêu thức đặc biệt chống lại. Chiêu này sau mang tên Thoát Hoan hồi Bắc, nghĩa là Thoát Hoan bỏ chạy về Bắc.
GIẢI THOÁT
- Tiến sang phải một bước, người trầm xuống, tay trái co lại cho cùi chỏ làm thành góc 45độ.
- Dùng khúc gập tay phong bế cườm tay phải đối thủ, đẩy theo chiều thuận. Bàn tay trái biến thảnh trảo chụp huyệt Kiên-tĩnh điểm mạnh.
- Tay phải xuyên qua vai phải đối thủ, luồn qua ngực. Chụp cằm trái đối thủ bỏ về phải.
- Đối thủ bị khóa tay, khóa cổ chế ngự vai.
PHẢN CÔNG
- Tay trái đẩy mạnh trở lên, tay phải kéo mạnh sang phải. Cổ và tay đối thủ thành phế tật.
3.2 CHIÊU THỨ NHÌ
THOÁT HOAN HỒI BẮC (TẢ BIÊN)
TƯ THỨC
Đứng trước mặt, quay lưng về phía ta, tay trái sử dụng thủ pháp Bình-nam, Thái-cực dương đánh vào tiền lộ ta.
GIẢI THOÁT
- Tiến sang trái một bước.
- Người trầm xuống, tay phải co lại cho cùi chỏ lên thành góc 45 độ.
- Dùng khúc gập tay phong bế cườm tay trái đối thủ , đẩy theo chiều thuận. Kẹp chặt tay đối thủ. Bàn tay phải biến thành chảo chụp huyệt Kiên-tĩnh điểm mạnh.
- Tay trái xuyên qua vai trái, luồn qua ngực. Chụp cằm phải đối thủ bẻ về trái.
- Đối thủ bị khóa tay, khóa cổ, chế ngự vai.
PHẢN CÔNG
- Tay phải đẩy mạnh trở lên, tay trái kéo mạnh sang trái. Cổ và tay đối thủ thành phế tật.
3.3 CHIÊU THỨ BA
SANH CẦM Ô MÃ
TƯ THỨC
Đối thủ dùng cường lực xử dụng thủ pháp Lục-hợp vào Thái-dương ta.
Tháng ba năm Mậu-tí (1288), Trần Quốc Toản được gọi về tham dự trận Bạch-đằng để bắt Ô Mã Nhi. Trong trận này ông giết bảy đại tướng Mông-cổ, bắt sống các đại tướng Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc, cuối cùng ông giao đấu với đệ nhất danh tướng Mông-cổ là Ô Mã Nhi. Sử chép Ô Mã Nhi to lớn kềnh càng. Trần Quốc Toản nhỏ bé, nên phải lấy mau thắng chậm. Nhưng giao đấu với địch nửa ngày trên thuyền, ông lùi mãi cuối cùng ông lùi tới mạn thuyền Ô Mã Nhi dùng Lục-hợp đao chặt vào Thái-dưđng, với hy vọng giết chết, hoặc ông bị rớt xuống sông. Ông đã dùng Thiết-kình phi cước bắt sống y. Chiêu này như sau:
GIẢI THOÁT (1)
- Lao người vào đối thủ. Hai tay biến thành chảo, chụp lên cườm tay đối thủ.
- Mượn đà đánh của đối thủ, nương theo sức của đối thủ, chống hai tay vào tay đối thủ, uốn cong người bay qua đầu đối thủ, lúc rơi xuống dùng hai gót chân điểm vào huyệt Á-môn, Mệnh-môn, Phong-phủ đối thủ.
- Đối thủ ngất xỉu.
Chiêu này cực kỳ khó xử dụng, chiêu số, tốc độ, phương pháp phát lực chép trong Lĩnh-nam bảo quốc thập bát lộ, một pho quyền cước siêu đẳng nhất.
Phương pháp thứ nhì:
Sau khi thắng trận Bạch-đằng, Trần Quốc Toản diễn lại chiêu thức trên cho các danh tướng xem. Trần Khánh Dư cũng đưa ra một chiêu thức phản công dựa vào một chiêu của Thiết-kình phi cước như sau:
GIẢI THOÁT (2)
- Lao đầu vào hai bàn tay đối thủ.
- Hai tay từ dưới chụp vào cườm tay đối thủ: Hai ngón cái ra ngoài, các ngón vào trong.
- Mượn sức đối thủ, giật mạnh hai tay đối thủ, cong người lên, hai chân biến thành Thiết-kình, hai gót chân điểm vào Thái-dương huyệt đối thủ.
Nhận xét:
Đây là những chiêu thức tuyệt cao của võ Việt, không nên khinh xuất xử dụng, dễ lầm vào tuyệt địa.
Đối thủ cực mạnh mà ta không lui, còn phóng sát vào đối thủ, tức là tìm cái sống trong cái chết . Xê xích một chút là vong mạng.
Đối thủ rất dũng mãnh mà hai tay chụp vào tay đối thủ. Nếu chụp hụt cũng tử ngay.
Uốn cong lên một vòng, nếu chậm một chút, đối thủ hồi sức vật xuống đất nát đầu.
Bình thường tìm các huyệt này còn khó. Nay bay lên, uốn cong lên dùng chân điểm trúng ngay càng khó thêm.
GIẢI THOÁT (3)
Thủy Tiên công-chúa cũng đề nghị một phương pháp hóa giải bằng thế nhu như sau:
- Chờ tay đối thủ gần tới, trầm người xuống.
- Chân phải tiến lên một bước đặt sau chân trái đối thủ.
- Người quay về trái 90 độ.
- Cùi chỏ phải điểm huyệt Cửu-vỹ, Thần-đường, Đản-trung của đối thủ, gạt đối thủ ngã.
- Tay trái chụp chân đối thủ nhắc lên, đùi phải nâng đối thủ lên cao, dùng lực vật đối thủ xuống đất.
PHẢN CÔNG (3)
- Hai chân phóng cước lên các yếu lộ trên người đối thủ.
3.4 CHIÊU THỨ TƯ
LƯỠNG HỒI THẠCH MÃ (HỮU BIÊN)
TƯ THỨC
Đối thủ đứng đối diện, dùng thủ pháp dũng mãnh xử dụng thức: Bình-tây, Tứ-tượng âm, Lưỡng-nghi dương tấn công vào hạ bộ bằng tay phải..
GIẢI THOÁT
Đầu tiên hóa giải kình lực đối thủ, sau đó phản công.
- Thừa lúc đối thủ tiên đánh, bình tĩnh nghiêng người ra sau tránh đòn. Tay trái chụp ngay cổ tay phải đối thủ.
- Đối thủ đánh hụt, muốn thu tay về.
- Ta dùng tay phải chống xuống đất, hai cước biến thành Phi-kình. Cước trái trấn trước bụng đối thủ, gạt đối thủ ra sau. Cước phải trấn sau hai đầu gối đối thủ gạt về trước. Hai cước thuận thế sử dụng Thiết-kình, cho đối thủ ngã ngửa.
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ ngã, dùng cánh tay phải đè ngay lên chân phải đối thủ. Hai tay túm chân phải đối thủ.
- Chân phải thọc điểm huyệt Trương-cường (nếu là nữ), dương-vật (nếu là nam)
- Chân trái đạp vào nách trái đối thủ.
Nếu không muốn phản công, chỉ muốn bắt đối thủ thì:
- Chân phải đạp vào đạp vào huyệt Âm-cốc, Khúc-tuyền, Ủy-trung trái đối thủ.
- Chân trái đạp vào huyệt Thiếu-hải, Khúc-trạch, Thông-linh phải đối thủ.
3.5 CHIÊU THỨ NĂM
LƯỠNG HỒI THẠCH MÃ (TẢ BIÊN)
TƯ THỨC
Đối thủ đứng đối diện, xử dụng thủ pháp dũng mãnh Bình-tây, Tứ-tượng âm, Lưỡng-nghi dương tấn công vào hạ bộ bằng tay trái.
GIẢI PHÁP
Đầu tiên hóa giải kình lực đối thủ, sau đó phản công.
- Thừa lúc đối thủ tiến đánh, nghiêng người ra sau tránh đòn. tay phải chụp cổ tay trái đối thủ.
- Đối thủ nhân đánh hụt muốn thu tay về.
- Ta dùng tay trái chống xuống đất, hai cước biến thành Phi-kình: Cước phải Trấn trước bụng đối thủ, gạt đối thủ ra sau. Cước trái trấn sau hai đầu gối đối thủ gạt về trước. Hai cước thuận thế, sử dụng Thiết-kình gạt đối thủ ngã ngửa;
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ ngã, dùng cánh tay trái đè ngay lên chân trái đối thủ. Hai tay túm ngay chân trái đối thủ.
- Chân trái thọc điểm huyệt Trương-cường (nếu là nữ), dương-vật (nếu là nam).
- Chân phải đạp vào nách phải đối thủ.
Nếu không muốn phản công, chỉ muốn bắt sống đối thủ thì:
- Chân trái đạp vào huyệt Âm-cốc, Khúc-tuyền, Ủy-trung phải đối thủ.
- Chân phải đạp vào huyệt Khúc-trạch, Thiếu-hải, Thông-linh trái đối thủ.
Nhận xét:
Chiêu này lấy ý trong thơ của vua Trần Nhân Tông. Nguyên sau khi thắng giặc Mông-cổ, vua mang các tướng giặc bị bắt đến lăng làm lễ Hiến-phù, nhận thấy ngựa đá ở lăng miếu đầy đất ở chân mới làm hai câu thơ cảm thán như sau:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ diện kim âu
Dịch nghĩa:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông thiên cổ, vững âu vàng.
Vì vậy Thủy-Tiên công-chúa mới lấy ý mà đặt cho chiêu thứ tư và năm trong thủ thứ tám và chiêu thứ mười hai là Lưỡng hồi thạch mã và Sơn hà thiên cổ.
3.6 CHIÊU THỨ SÁU
HOÀNH SÁO GIANG SƠN (TẢ BIÊN)
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước dúng tay phải sử dụng thủ pháp Trấn-tây, Lưỡng-nghi âm, Tứ-tượng dương tá tá xuyên địa trấn vào trung lộ ta.
GIẢI THOÁT
- Nhoài người xéo về phía trước trái, hai tay chống xuống đất.
- Đối thủ đánh hụt tất vung tay đổi chiều thu về.
- Hai chân sử dụng Thiết-kình mượn sức thu lực đối thủ:
* Chân phải trấn sau hai đầu gối đối thủ.
* Chân trái trấn trước ống quyển đối thủ.
* Dùng Thiết-kình vặn cho đối thủ ngã sấp.
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ ngã sấp, ta chuyển người vòng sang phải, ngồi dậy.
- Đầu gối trái trấn sau đầu trái đối thủ.
- Hai tay chụp cổ chân phải đối thủ khóa theo chiều âm
3.7 CHIÊU THỨ BẢY
HOÀNH SÁO GIANG SAN (HỮU BIÊN)
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước dùng tay trái sử dụng thủ pháp Trấn-tây, Tứ-tượng dương, Lưỡng-nghi âm tà tà xuyên địa chấn vào trung lộ ta.
GIẢI THOÁT
- Nhoài người xéo về phía trước phải, hai tay chống xuống đất.
- Đối thủ đánh hụt, tất vung tay đổi chiều thu về.
- Hai chân sử dụng Thiết-kình mượn sức thu lực đối thủ:
*Chân trái trấn sau hai đầu gối đối thủ.
*Chân phải trấn trước ống quyển đối thủ.
*Dùng Thiết-kình vặn đối thủ ngã sấp.
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ ngã sấp, ta chuyển người vòng sang trái ngồi dậy.
*Đầu gối phải trấn vào sau đầu gối trái đối thủ.
*Hai tay chụp cổ chân trái đối thủ khóa theo chiều âm.
Ghi chú:
Chiêu thứ 6 và7 lấy ý trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão, nguyên văn như sau:
Hoành sáo giang sơn cáp kỳ thu
Nghĩa là:
Ngọn giáo giang sơn trải mấy thu
Nguyên thủy chiêu này có tên là Thủy-Tiên tịch tà, nghĩa là Thủy-Tiên công-chúa bắt tà. Nguyên năm 1287 Thoát Hoan mang quân sang đánh Việt Nam lần thứ ba, có mang theo một tên Đại võ sư tên Nguyễn Nhan tự Bá Linh. Cha của Linh, người Trung-hoa sang Việt Nam buôn bán, lấy vợ người Việt Nam. Nhan đã theo học với võ sư danh tiếng bấy giờ là Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc, sau bỏ về Trung-hoa, học võ Trung-hoa, thi đậu tiến-sĩ. Vì vậy y rất thông thạo đường lối trong thành Thăng-long. Nhân biết có con đường hầm đi từ đáy hồ Tây vào đến giữa cung vua. Y lẻn vào cung toan ám sát Nhân Tông. May vua cũng là võ sư có tài nên cầm cự được. Luật thời bấy giờ cấm không cho các quan vào trong cung, nên các võ tướng không giám xông vào cứu giá. Các cung nga, được Khâm Từ hoàng-hậu điền động chống đội ám sát. May Thủy Tiên công-chúa tới kịp bao vây bắt Nhan. Thủy Tiên công-chúa dùng chiêu này đánh cho Nhan ngã, rồi:
*Hai tay bà chụp chân phải đối thủ bẻ ngược.
*Chân phải đạp vào huyệt Khúc-trì, Tiễu-hải, Thiên-tĩnh, Trực-giao phải đối thủ.
*Chân trái điểm huyệt Trương-cường.
Nhan mê man bị bắt sống. Từ đấy về sau, khi bà mất rồi, các nơi thờ Hưng Đạo vương cũng thờ bà, khi lên đồng, người ta thường diễn lại tích Thủy Tiên công-chúa tịch tà.
Tương truyền khi Nhan bị mang ra chém, y xin được đặt ân là ăn thịt gấu no. Phạm Ngũ Lão chửi: "Cho mày ăn đồ của đàn bà...". Tương truyền khi Nhan chết thường hiện thường hiện hồn lên mà nhập vào quần phụ nữ phơi ngoài nắéééng. Người nào vô tình mặc vào sẽ bị hữu sinh, vô dưỡng. Bởi vậy khi quần áo khô, phụ nữ VN thường cầm hai ống quần dốc ngược xuống giũ mấy cái, diễn lại chiêu này để đuổi Nhan. Đây l một huyền thoại võ học VN.
3.8 CHIÊU THỨ TÁM
TỲ HỔ THÔN NGƯU, TẢ BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ dùng tay phải xử dụng thủ pháp : Tiên Thiên, Thái Cực âm, Lưỡng Nghi âm đánh vào tiền lộ ta.
GIẢI THOÁT
- Ngửa người ra sau tránh đòn đối thủ.
- Chân phải bước lên một bước.
- Người té nhào vào đối thủ, tay phải xuyên qua đùi phía ngoài chân phải đối thủ, chụp vào bắp chân đối thủ. Tay trái túm gót chân đối thủ.
- Dùng sức bả vai, nách phải đẩy đối thủ ngã ngồi.
PHẢN CÔNG
- Chụp hai chân đối thủ đứng dậy :
a. Giật mạnh, quật đầu đối thủ xuống đất.
b. Cặp hai chân đối thủ vào nách. Hai tay ta nắm vào nhau trước bụng cho chắc. Đối thủ vùng vẫy chuyển động, giật cho đối thủ úp sấp. Ngồi lên trên mình đối thủ, bẻ gập hai bàn chân đối thủ theo chiều âm khóa lại.
3.9. CHIÊU THỨ CHÍN
TỲ HỔ THÔN NGƯU, HỮU BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ dùng tay trái xử dụng thủ pháp : Tiên Thiên, Thái Cực âm, Lưỡng Nghi âm đánh vào tiền lộ ta.
GIẢI THOÁT
- Ngửa người ra sau tránh đòn đối thủ.
- Chân trái bước lên một bước.
- Người té nhào vào đối thủ, tay trái xuyên qua đùi phía ngoài chân trái đối thủ, chụp vào bắp chân đối thủ. Tay phải túm gót chân đối thủ.
- Dùng sức bả vai, nách trái đẩy đối thủ ngã ngồi.
PHẢN CÔNG
- Chụp hai chân đối thủ đứng dậy :
a. Giật mạnh, quật đầu đối thủ xuống đất.
b. Cặp hai chân đối thủ vào nách. Hai tay ta nắm vào nhau trước bụng cho chắc. Đối thủ vùng vẫy chuyển động, giật cho đối thủ úp sấp. Ngồi lên trên mình đối thủ, bẻ gập hai bàn chân đối thủ theo chiều âm khóa lại.
Ghi chú :
Ý nghĩa chiêu này lấy trong câu thơ thứ nhì của bài thơ CẢM HOÀI, mà tác giả là Phạm Ngũ Lão. Câu đầu đã dùng cho chiêu thứ 6 và 7. Câu này nguyên văn như sau :
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu.
Nghĩa là:
"Ba quân hùng hổ (như cọp, như gấu), khí nuốt cả sao Ngưu".
3.10. CHIÊU THỨ MƯỜI
PHÀN TIẾP ĐẢO ĐỊA, TẢ BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt, tay phải dùng thủ pháp : Hậu Thiên, Thái Cực đương vào mặt ta.
GIẢI THOÁT
- Thừa lúc quyền phải đối thủ đánh tới. Trầm người xuống tránh :
- Tay trái xòe thành chưởng, đỡ vào cườm tay phải đối thủ, và hạ tay xuống theo lực đối thủ.
- Khi quyền đối thủ đánh đến Vỹ Lực, tay phải đẩy tay phải đối thủ vòng sang trái theo chiều âm, kéo giật về trước cho đối thủ mất trọng tâm.
- Chân phải tiến đến trước chân phải đối thủ, người quay 180 độ về trái.
- Tay phải chụp khuỷu tay phải đối thủ, chân trái lùi lại ngang với chân phải.
- Quật đối thủ qua đầu.
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ rớt ngửa xuống, khóa lại :
a. Đầu gối phải trấn vào ngực, nách đối thủ. Hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm, khóa lại, ngã theo đối thủ.
b. Hoặc chân trái xuyên qua cổ trấn vào cổ đối thủ đè xuống đất.
- Hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm.
- Bàn chân phải đạp vào sườn phải đối thủ.
3.11. CHIÊU THỨ MƯỜI MỘT
PHÀN TIẾP ĐẢO ĐỊA, HỮU BIÊN
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt, tay trái dùng thủ pháp : Hậu Thiên, Thái Cực đương vào mặt ta.
GIẢI THOÁT
- Thừa lúc quyền trái đối thủ đánh tới. Trầm người xuống tránh :
- Tay phải xòe thành chưởng, đỡ vào cườm tay trái đối thủ, và hạ tay xuống theo lực đối thủ.
- Khi quyền đối thủ đánh đến Vỹ Lực, tay trái đẩy tay trái đối thủ vòng sang phải theo chiều âm, kéo giật về trước cho đối thủ mất trọng tâm.
- Chân trái tiến đến trước chân trái đối thủ, người quay 180 độ về phải.
- Tay trái chụp khuỷu tay trái đối thủ, chân phải lùi lại ngang với chân trái.
- Quật đối thủ qua đầu.
PHẢN CÔNG
- Khi đối thủ rớt ngửa xuống, khóa lại :
a. Đầu gối trái trấn vào ngực, nách đối thủ. Hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm, khóa lại, ngã theo đối thủ.
b. Hoặc chân phải xuyên qua cổ trấn vào cổ đối thủ đè xuống đất.
- Hai tay bẻ tay đối thủ theo chiều âm.
- Bàn chân trái đạp vào sườn trái đối thủ.
Ghi chú :
Khi sáng chế ra chiêu thức nầy, Thủy Tiên Công Chúa có trình bày cho Trần Quốc Toản xem, nên khi đánh trận Bạch Đằng, Trần Quốc Toản đã dùng để bắt sống Phàn Tiếp. Vì vậy mới đặt tên là "Phàn Tiếp đảo địa" có nghĩa là Phàn Tiếp bị lộn xuống đất.
3.12. CHIÊU THỨ MƯỜI HAI
SƠN HÀ THIÊN CỔ
TƯ THỨC
Đối thủ đứng trước mặt. Tay phải xử dụng thủ pháp Trấn Đông, Bình Tây, Lưỡng Nghi dương vào Thái Dương trái ta.
GIẢI THOÁT
- Ngửa người ra sau, nghiêng sang trái tránh sức mạnh đối thủ.
- Khi trầm người xuống, tiến lên một bước, chân phải trấn sau gót chân phải đối thủ.
- Tay phải xuyên vai trái vòng qua gáy đối thủ, đầu xuyên ra sau vai phải đối thủ. Hai bàn tay nắm lấy nhau.
- Ngửa người, nghiêng về trái làm đối thủ ngã ngửa.
PHẢN CÔNG
- Khi ngã chân phải đối thủ dơ lên cao, vì vướng chân phải ta.
- Tay phải xuyên qua sau chân phải đối thủ chụp phía sau đầu gối. Đối thủ bị nằm ngửa trên lưng ta.
- Dộng đầu đối thủ xuống đất...
Ghi chú :
Chiêu này rất khó xử dụng, nhưng xử dụng đúng mức thì mãnh lực phi thường. Khi tập luyện phải cẩn thận nếu không rất dễ vỡ đầu hoặc gẫy cổ. Khi đối đầu vơí địch thủ, vạn bất đắc dĩ mới xữ dụng, vì có thể đưa đến thảm khốc vô cùng.
Về ý nghĩa, chiêu này lấy ý trong thơ của vua Trần Nhân Tông cảm thán đề tại lăng miếu khi làm lễ hiến phù :
"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã",
"Sơn hà thiên cổ diện kim âu".
Nghĩa là : Xã tắc hai lần chinh chiến làm ngựa đá cũng phải mệt. Nhưng đất nước ngàn xưa đến giờ này vẫn vững như cung điện bằng vàng.
|