Xem bài viết đơn
  #1  
Old 07-04-2008, 08:48 PM
tarta12a's Avatar
tarta12a tarta12a is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Feb 2008
Bài gởi: 1,035
Thời gian online: 2140
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 35 Times in 18 Posts
Thái độ Khẳng định Triều đại Tây Sơn Của Nho Sĩ - Nguyễn đức Thăng

Thái độ băn khoăn của nho sĩ khi họ đến với Tây Sơn, nhưng băn khoăn để khẳng định triều đại này, là một đặc điểm cần được ghi nhận trong vẻ đẹp của hình tượng nho sĩ mà văn học Tây Sơn thể hiện. Tuy nhiên, thơ văn Tây Sơn diễn tả nỗi lòng băn khoăn, trăn trở của kẻ sĩ khi bỏ triều Lê về với Tây Sơn là một vấn đề rất tế nhị và những bộc lộ của nho sĩ thường là gián tiếp. Trong thơ văn, họ thể một hiện một nỗi buồn, một tâm trạng nhớ quê cũ xa xôi hay họ triết lý, bàn luận về đạo lý, thời cuộc để bày tỏ, khẳng định lập trường.

Phan Huy Ích, một tác gia tiêu biểu của văn học Tây Sơn, một trọng thần nhà Tây Sơn, nhưng đến với Tây Sơn ông cũng không khỏi băn khoăn. Phan Huy Ích và Đoàn Nguyễn Tuấn cùng cộng tác với Tây Sơn vào năm 1788, chỉ khác ở chỗ: Năm ấy, Đoàn Nguyễn Tuấn và một số người khác vào Phú Xuân yết kiến Nguyễn Huệ và nhậm chức, còn Phan Huy Ích được tiến cử một lượt với Vũ Huy Tấn, Trần Bá Lãm, nghĩa là Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ cộng tác với Tây Sơn trước Phan Huy Ích một thời gian rất ngắn. Thế mà trước đó, Phan Huy Ích cũng có thơ gửi Đoàn Nguyễn Tuấn với hàm ý chê trách Đoàn Nguyễn Tuấn cộng tác với Tây Sơn, trong đó có câu “Hoa ổ phi cư phụ cố sáo” (vườn hoa không ở đành phụ với tổ xưa.

Trong thơ của Phan Huy Ích, người đọc cũng gặp tâm trạng buồn của nhà thơ: Tây trình lữ muộn (Nỗi buồn trên đường đi về phía Tây) là một bài thơ như thế. Bài thơ được tác giả chú: Đầu thu tôi phụng mệnh vào Phú Xuân, đến đầu mùa đông ra Bắc thành ứng đáp văn thư với triều đình phương Bắc. Giữa mùa đông thì quan Thanh đưa Lê Chiêu Thống về phục quốc. Vì thế, tôi phải lánh về chốn lâm dã có làm tập Vân sơn khiển hứng lược ghi vào đây. Bài thơ Tây trình lữ muộn như sau (dịch nghĩa):

Trông vời đô thành những đám mây đẹp bềnh bồng,

Tìm đường quanh co trên cánh đồng hoang vu.

Chẳng quản gió bụi nhuốm đầy mái tóc,

Chỉ nhờ nhật nguyệt soi tấm lòng thành,

Sông Lô làn nước mênh mông gọi đò sang gấp,

Thạch thất khói mây dày đặc, guốc bước nhẹ nhàng.

Không có gì ràng buộc như hạc ngoài nội, âu trên bãi cát,

Nhân gian bao kẻ đã làm vướng vào giải mũ bụi.

Trong bài thơ đáng chú ý là hai câu thực. Một câu tả cảnh đi đường gian khổ mà con người không ngại khó khăn “Bất quản phong ai xâm đoàn mấn”. Một câu tả tâm trạng “Đãn bằng nhật nguyệt giám cô thành”. Câu sau đầy ắp tâm trạng của một người từng học hành, đỗ đạt và làm quan dưới triều Lê - Trịnh. Trước cảnh đất nước lâm vào cuộc dâu bể, vua Lê long đong rồi dựa vào ngoại bang trong ý định phục quốc, cảnh ấy tình này lòng tác giả tránh sao khỏi nỗi băn khoăn? Tác giả chỉ biết “nhờ nhật nguyệt soi tấm lòng thành” và tìm một sự cảm thông thật xa xôi, thật mông lung, mà ý thơ, tình thơ rõ nhất là một nỗi buồn! Phải chăng đối mặt với tình cảnh long đong của vua Lê, tự thẳm sâu cõi lòng tác giả day dứt một nỗi buồn, một tâm sự?

Không chỉ là những cảm xúc buồn mà nỗi lòng băn khoăn của kẻ sĩ còn được bộc lộ một cách kín đáo hơn qua những suy tư có tính chất triết lý và chính những suy tư triết lý ấy kẻ sĩ dường như được an lòng, vững bước mà hăng say cộng tác với triều đại mới. Tiêu biểu cho nỗi lòng ấy, được thể hiện trong những sáng tác, là Ngô Thì Nhậm. Là người học rộng, biết nhiều, ông là một nhà văn, nhà tư tưởng, đã có những đóng góp nhất định cho xã hội. Ngô Thì Nhậm đã chọn lựa một con đường đúng là đi theo Tây Sơn, nhờ đó ông đã lập được một sự nghiệp lớn, trở thành nhân vật nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. Những suy tư sâu sắc và bản lĩnh vững vàng của ông chẳng những được bộc lộ trong những luận bàn về thơ ca, về giáo dục, về những triết lý thâm sâu của Phật giáo, mà ngay trong những tình huống cấp bách. Lời của Ngô Thì Nhậm nói với Ngô Văn Sở khi Ngô Văn Sở có phần tự mãn và hỏi Ngô Thì Nhậm:

- Quan thị lang thật giỏi về nghề văn học, còn việc cung kiếm có thông thạo gì không? Ngô Thì Nhậm đáp:

- Có văn tất phải có võ, văn võ không phải chia làm hai đường, nhưng người xưa dùng binh gặp việc thì lo, sao ngài lại lấy việc binh làm trò chơi mà coi thường như thế? Tôi trộm nghe bọn người nước ta chạy sang Trung Hoa, trong đó có nhiều người định xúi họ mở mang bờ cõi, gây ra binh biến. Ngài chịu sự ký thác ở cõi ngoài, e rằng không phải một phen bạc đầu vì lo lắng, đến lúc ấy ngài nên nhớ lấy lời của tôi.

Quả vậy, khi quân Thanh tràn vào nước ta, tình thế cấp bách, Ngô Văn Sở tỏ ra lúng túng. Kế hoạch rút quân của Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở cho là đúng. Nhưng Phan Văn Lân nói: Quân không cứ nhiều, nước không cứ lớn, nay ta làm tướng cầm quân ở ngoài, giặc đến chưa từng đón đánh, chỉ mới nghe dọa hão đã vội rút lui, thì còn làm tướng làm gì nữa? Ngô Văn Sở cũng cho là phải. Chỉ khi Phan Văn Lân một mình một ngựa thoát chết chạy về, còn một ngàn quân tinh nhuệ không còn một ai thì Ngô Văn Sở kinh sợ giấu kín việc này rồi rút quân theo kế hoạch của Ngô Thì Nhậm.

Câu đối bất hủ của Ngô Thì Nhậm với Đặng Trần Thường thêm một lần nữa khẳng định trí tuệ và nhân cách của ông. Tương truyền hai người là bạn học thân của nhau. Sau Ngô Thời Nhậm làm quan với nhà Tây Sơn, còn Đặng Trần Thường vào Nam theo Nguyễn Ánh. Một lần Đặng Trần Thường bị Tây Sơn bắt, nghĩ tình bạn học Ngô Thời Nhậm đã xin tha cho. Khi Nguyễn Ánh kéo quân ra Bắc diệt Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm bị bắt, để nói lên sự đắc thế của mình Đặng Trần Thường ra câu đối:

- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?

Không chịu khuất phục, Ngô Thì Nhậm khảng khái đối lại:

- Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!

Phải chăng Ngô Thì Nhậm đã hiểu đúng chữ “thời” và nỗi lòng băn khoăn của ông khi cộng tác với Tây Sơn ông cũng dùng chữ “thời” để soi sáng? Trong thư Đáp lại Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thì Nhậm viết: Ra hoạt động là gánh vác cái trách nhiệm lớn lao của bậc thánh. Về nghỉ ngơi cũng chính là mang tâm hồn của bậc thánh nhân. Bọn ta chẳng phải là đồ đệ của bậc thánh nhân thì còn ai? Tâm sự như thế là giãi bày nỗi lòng của mình, nhưng đồng thời cũng là sẻ chia cùng bạn. Bởi vì, dù Đoàn Nguyễn Tuấn không làm quan với triều Lê, chỉ cộng tác với Tây Sơn, ông vẫn chịu tiếng đời mai mỉa “hay lại quên tình với vườn cũ!”. Còn Ngô Thì Nhậm từ nơi lánh nạn ra cộng tác với Tây Sơn, tránh sao lòng khỏi băn khoăn! Cũng trong dòng suy nghĩ ấy, Ngô Thì Nhậm viết tiếp: Người ta chỉ lo không biết oán giận và suy nghĩ mà thôi. Nếu oán giận mà vẫn ôn hoà, suy nghĩ mà vẫn ngay thẳng, cốt để phù hợp với chữ “thời” thì Khổng Tử đã từng không nói như thế hay sao? Một lần nữa ông mượn lời của thánh nhân để an ủi bạn và khẳng định con đường của mình.

Quan niệm của Ngô Thì Nhậm quả là tiến bộ, cái nhìn của ông trước thời cuộc sáng suốt và con người ông luôn thể hiện một bản lĩnh trước cuộc đời. Những suy nghĩ ấy không nằm ở lý thuyết và gắn với cuộc đời hoạt độõng của đời ông. ông quan niệm: Biết cái đang đến mà làm cho nó tiến triển, có thể gọi là đạt đến chỗ cơ trí. Biết cái đang kết thúc mà làm cho nó kết thúc đi, có thể gọi là đạt đến chỗ bảo tồn chữ “nghĩa”. Xúc tiến cái đang phát triển và đẩy nhanh cái đang kết thúc, đạo chính là ở đấy.

Như thế, lập trường của Ngô Thì Nhậm dứt khoát, rõ ràng, nhưng đồng thời ông cũng rất thông cảm với những băn khoăn, trăn trở của những người bạn, bởi vì đó là tiếng lòng đồng điệu ở một mức độ nào đó mà chính ông cũng từng cảm nhận. Những thuyết giải của ông vừa giúp cho mình vững bước để phục vụ một triều đại mới, vừa có giá trị soi sáng, định hướng cho những người bạn cùng thời. Với cống hiến đó cùng với sự nghiệp văn thơ đồ sộ, Ngô Thì Nhậm xứng đáng là nhà văn lớn trong văn học Tây Sơn và nhà tư tưởng của thời đại Tây Sơn.

Đến những áng thơ Nôm, mà tiêu biểu là thơ Nôm của Nguyễn Hữu Chỉnh, trong Ngôn ẩn thi tập, nỗi suy tư, băn khoăn của kẻ sĩ cũng được thể hiện rõ. Trong tập thơ, nhiều câu thơ tác giả nói đến lòng trung, nói đến chữ “ái quân”

Nọ người nối cửi, kẻ nhai cần

Còn nghĩ trong niềm chữ ái quân

(Ngôn ẩn thi tập, bài 1)

Thời cuộc có nhiều biến động, nhiều thế lực nổi lên, trong tình cảnh ấy tác giả lại gặp cảnh “lợi danh dở bước”, dù vậy lòng tác giả vẫn nghĩ đến một chữ trung:

Nẻo lợi danh tuy dở bước,

Lòng trung hiếu hãy bền cầm.

(Ngôn ẩn thi tập, bài 4)

Mặc dù có nhiều băn khoăn, trăn trở nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã đến với Tây Sơn và có thời ông là cộng sự đắc lực của phong trào Tây Sơn.

Có thể nói, nỗi lòng băn khoăn của kẻ sĩ trong văn học Tây Sơn có nội dung phong phú và tế nhị, nó thường không được bộc lộ một cách trực tiếp, vì đó là nỗi lòng sâu kín mà bất cứ nho sĩ nào cũng gặp phải khi họ từ bỏ triều Lê - Trịnh để đến với Tây Sơn. Phản ánh điều đó, văn học Tây Sơn vừa phản ánh được chiều sâu,sự tế nhị và những phức tạp trong tâm hồn của kẻ sĩ Việt Nam đương thời, vừa phản ánh được bản lĩnh của họ trong những chọn lựa có tính quyết định đối với cuộc đời, thời đại và lịch sử. Những băn khoăn, thao thức và cả những nỗi đau, những mất mát của con người, có lẽ đó là cái giá mà con người phải trả cho lịch sử để tìm đến một sự hoà hợp, thống nhất và phát triển của đất nước, dân tộc. Đó cũng là nét độc đáo trong đời sống tinh thần của các nho sĩ, văn học Tây Sơn góp phần làm phong phú đời sống tâm hồn của kẻ sĩ Việt Nam trong hành trình lịch sử.

N.Đ.T
Tài sản của tarta12a

Trả Lời Với Trích Dẫn