- Ông có mê tín không, ông cảnh sát trưởng?
Maigret cưỡi ngựa trên chiếc ghế tựa, hai chân dạng hai bên, hai khuỷu tay tì trên ghế, bắt đầu một cái bĩu môi. Viên bác sĩ không ngồi.
- Thực ra, có một lúc nào đấy, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều thế cả, hay là nếu anh muốn khi mà chúng ta bị ám chỉ?
Anh ho vào trong một chiếc khăn tay, nhìn vào đấy một cách lo lắng, rồi nói tiếp:
- Tám hôm trước, tôi đã trả lời ông rằng tôi không tin những lời sấm truyền.
Ấy thế mà… Có lẽ đã năm năm rồi, chúng tôi và mấy người bạn với nhau cùng ăn tối ở nhà một nữ diễn viên hài ở Paris. Ở quầy cà phê, một người nào đấy đã đề xuất bói bài. Ông có biết người ấy đã nói gì với tôi không? Ông hãy để ý khi tôi cười! Tôi đã cười, và kỳ lạ nhất là điệp khúc quen thuộc: con đầm xòe tóc hoe, ông già muốn đem về điều lành cho anh, bức thư từ xa đến, v.v…và v.v… Về phần tôi, người ta đã nói rằng: “Anh sẽ gặp một điều đau khổ. Một điều đau khổ quá đáng. Anh hãy dè chừng những con chó vàng”.
Ernest Michoux chưa chú ý đến người cảnh sát trưởng, người mà anh đã nhìn trong một lát. Maigret vẫn bình thản.
- Điều này không làm ông ngạc nhiên chứ? Suốt nhiều năm tôi không bao giờ nghe nói đến con chó vàng. Ngày thứ sáu, một thảm kịch xảy ra. Một người bạn của tôi là nạn nhân của thảm kịch. Tôi cũng đã hoàn toàn có thể như bạn tôi ẩn náu trên thềm cửa và bị dính đạn. Rồi bỗng một con chó vàng hiện ra! Một người bạn khác biến mất trong những tình tiết hết sức lạ lùng… Và con chó vàng lai tiếp tục lượn quanh! Hôm qua đến lượt Le Pommeret. Con chó vàng! Và ông muốn tôi không xúc động sao được?
Anh ta không bao giờ có can đảm nói chừng ấy bằng một câu hỏi và càng nói anh càng lấy lại được can đảm. Thay cho hành động khích lệ, người cảnh sát trưởng thở dài:
- Tất nhiên… Tất nhiên…
- Bối rối ư… Tôi nhận thấy rằng có lẽ tôi đã gây cho ông ấn tượng của một tên hèn nhát. Quả đúng thế! Tôi đã sợ hãi, một sự sợ hãi mơ hồ chặn ngang cổ họng ngay từ thảm kịch đầu tiên và nhất là khi có vấn đề của con chó vàng.
Anh vừa bước từng bước ngắn trong phòng giam vừa nhìn xuống đất, nét mặt linh hoạt hẳn lên.
- Tôi đã định xin ông che chở cho, nhưng tôi sợ phải thấy ông mỉm cười. Tôi còn sợ sự khinh miệt của ông nhiều hơn, bởi vì những người đầy nghị lực coi thường những kẻ hèn nhát.
Giọng nói của anh trở nên the thé.
- Và tôi thú nhận điều ấy, ông cảnh sát trưởng ạ, tôi là một kẻ hèn nhát. Thế là tôi đã sợ mất bốn ngày, bốn ngày tôi đau khổ vì sợ hãi. Đấy không phải là lỗi của tôi. Tôi đã phải khám bệnh để biết rõ một cách chính xác tình trạng sức khỏe trong trường hợp của tôi. Khi mới sinh ra, tôi đã phải đặt trong một cái lồng ấp nhân tạo. Và tuổi thơ của tôi, đã phải chịu đựng tất cả các bệnh của trẻ con. Rồi khi chiến tranh nổ ra, các thầy thuốc khám bệnh mỗi ngày năm trăm người đã tuyên bố sức khỏe tôi tốt và đã gửi tôi ra mặt trận. Thế mà không những tôi bị yếu phổi với những vết sẹo của thương tổn cũ, mà hai năm trước đây, người ta đã lấy của tôi đi một quả thận. Tôi rất sợ… Sợ, vì thế mà trở thành điên. Các y tá đã nâng tôi lên khi tôi bị vùi lấp trong một cái hố của quả đại bác. Và cuối cùng người ta đã nhận thấy rằng tôi không đủ khả năng phục vụ trong quân đội.
- Điều tôi kể cho ông có lẽ chẳng hay ho gì. Nhưng tôi đã quan sát ông. Tôi có cảm tưởng là ông có thể hiểu được. Thật dễ hiểu, sự khinh miệt của những người quả cảm đối với một kẻ hèn nhát. Có lẽ người ta còn lo lắng để biết được những nguyên nhân sâu xa của sự hèn nhát.
- Ông xem! Tôi hiểu rằng ông nhìn nhận cái nhóm ở quầy cà phê Amiral của chúng tôi không được thiện cảm. Người ta đã nói với ông rằng tôi chăm lo việc bán đất đai… Là con trai của một cựu nghị sĩ, bác sĩ y khoa… Rồi những buổi tối xung quanh chiếc bàn cà phê với những kẻ bất đắc chí khác.
- Nhưng tôi có thể làm được gì? Cha mẹ tôi đã hao tổn rất nhiều tiền của, tuy nhiên ông bà không phải là giàu có. Điều ấy, ở Paris không phải là hiếm. Tôi đã được nuôi dạy trong sự xa hoa. Rồi cha tôi qua đời, còn mẹ tôi bắt đầu buôn chứng khoán, dùng mánh khóe, vẫn là nguời đàn bà quý phái như trước, vẫn kiêu hãnh, nhưng hay bị các chủ nợ quấy rầy.
- Tôi đã giúp đỡ bà! Đấy là những gì mà tôi có thể làm được. Việc phân lô đất, chẳng có gì là lạ lùng. Và cuộc sống ấy từ nay… Những người có địa vị… Nhưng có cái gì đấy không được bền chặt.
- Bỗng nhiên trong ba hôm, ông quan sát tôi và tôi đã muốn nói thật, cởi mở với ông. Tôi đã cưới vợ. Vợ tôi đã xin li dị vì cô ấy muốn một người đàn ông sôi nổi có nhiều tham vọng hơn.
- Thiếu mất một quả thận, cứ ba đến bốn ngày một tuần tôi ốm khật khừ, mệt mỏi, kéo lê từ giường đến ghế bành.
Anh ngồi xuống chán nản:
- Emma, có lẽ đã nói với ông rằng tôi là tình nhân của cô ấy. Dại dột, có phải không? Vì rằng đôi khi người ta cần một người đàn bà. Không thể giải thích những chuyện ấy với mọi người được.
- Ở quầy cà phê Amiral, có thể rồi tôi cũng trở thành điên mất. Con chó vàng… Servières biến mất. Những vệt máu trong chiếc xe hơi của anh ấy, và nhất là cái chết hèn hạ của Le Pommeret.
- Tại sao lại là anh ấy. Tại sao không phải là tôi? Trước đấy hai giờ chúng tôi còn ngồi cùng bàn với nhau trước những chiếc cốc. Và tôi, tôi đã linh cảm rằng nếu tôi ra khỏi nhà thì đấy là đến lượt tôi. Rồi tôi cảm thấy rằng cái vòng tròn xiết lại, ngay cả ở khách sạn dù tôi có ngồi trong phòng đóng chặt cửa thì mối nguy hiểm vẫn cứ đeo đuổi tôi…
- Tôi đã vui mừng đến run lên khi tôi trông thấy ông ký lệch bắt tôi. Thế nhưng…
Anh nhìn những bức tường xung quanh anh, cửa sổ có ba thanh sắt mở ra sân.
- Tôi cần phải thay đổi ghế nằm, cần phải đẩy nó vào góc kia. Làm sao, phải, làm sao người ta có thể nói với tôi về một con chó vàng cách đây năm năm, trong khi con chó ấy dĩ nhiên chưa đẻ? Tôi sợ, ông cảnh sát trưởng ạ! Thú thật với ông, điều mà nhiều người sẽ biết tôi bị tù, với tôi chẳng có hệ trọng gì. Điều mà tôi không muốn, đấy là chết! Và người nào đấy rình rập tôi, người nào đấy mà tôi không quen biết đã giết Le Pommeret, có thể hắn đã giết Goyard, đã bắn vào Mostaguen. Tại sao? Ông nói cho tôi biết điều ấy đi! Tại sao, chắc là một thằng điên. Và người ta chưa giết được hắn. Hắn còn tự do! Có lẽ hắn đang lảng vảng xung quanh chúng tôi. Hắn biết rằng tôi đang ở đây. Hắn sẽ đến cùng với con chó ghê tởm của hắn, con chó có cái nhìn của con người.
Maigret từ từ đứng lên, gõ cái tẩu vào gót giầy. Và người bác sĩ nhắc lại bằng một giọng thảm hại:
- Tôi biết tôi đã gây cho ông ấn tượng là một tên hèn nhát. Thế đấy. Tôi chắc đêm nay tôi sẽ đau khổ như một kẻ bị sa địa ngục vì quả thận của tôi.
Maigret đã đứng vững ở đấy như sự phản diện của tên tù, của sự phiến động, của bệnh hoạn, của sự sợ hãi không lành mạnh và ghê tởm ấy.
- Anh có muốn tôi gửi đến cho anh một thầy thuốc không?
- Không. Nếu tôi biết là người nào đấy phải đến đây, thì tôi còn sợ hơn. Tôi ngờ những gì đã xảy ra khi người ấy đến, người đàn ông và con chó, tên điên rồ, kẻ giết người - Anh ta còn lập bập thêm - Ông nghĩ rằng ông sẽ bắt được hắn, hay hạ sát hắn như một con vật hung dữ à? Nhưng hắn hung dữ thật? Người ta không giết hắn như thế, không có lí do gì…
Còn ba phút nữa và đấy sẽ là một cơn khủng hoảng thần kinh. Maigret định bước ra trong khi người bị giam đưa mắt nhìn theo ông, đầu rụt lai, mi mắt đỏ ngầu.
------
- Ông đã hiểu rõ tôi nói rồi chứ, ông đội trưởng. Không được để ai vào trong buồng giam, trừ ông ra. Ông là người tự mang thức ăn cho anh ta và những thứ anh ta yêu cầu. Trái lại đừng đem vào thứ gì mà anh ta có thể dùng được để làm vũ khí tự sát. Ông hãy tước hết dây buộc giày, cà vạt. Ngoài sân phải được giám sát kỹ đêm cũng như ngày. Phải chú ý, hết sức chú ý.
- Một con người hết sức đặc biệt - Người đội trưởng thở dài - Ông tin là chính anh ta là… ?
- Anh ta là nạn nhân trực tiếp… Ông phải chịu trách nhiệm với tôi về cuộc sống của anh ta!
Rồi Maigret đi dọc theo đường phố hẹp, lội bì bõm trong các vũng nước.
Toàn thành phố đã biết ông. Những tấm màn che run rẩy khi ông đi qua. Những chú bé ngừng chơi đùa nhìn ông với sự cung kính sợ sệt.
Khi đi qua chiếc cầu rút nối liền thành phố cũ với thành phố mới thì gặp thanh tra Leroy đang đi tìm ông.
- Có gì mới chưa, Người ta chưa đặt tay lên con người thô lỗ của tôi chứ, ít ra là như vậy có phải không?
- Người thô lỗ nào cơ?
- Người có đôi bàn chân lớn.
- Chưa! Ông thị trưởng đã ra lệnh ngừng những cuộc truy lùng làm khích động dân chúng. Ông đã để vài người lính mật thám làm nhiệm vụ canh gác ở những địa điểm chiến lược, nhưng không phải việc ấy, mà tôi đang định nói với ông về… Đấy là vấn đề của anh nhà báo Goyard tức là Jean Servières. Một người khách buôn biết anh ta. Ông này vừa mới đến và khẳng định ngày hôm qua đã gặp anh ta ở Brest… Goyard đã giả vờ như không gặp ông và quay đầu đi nơi khác.
Viên thanh tra ngạc nhiên về sự điềm đạm của Maigret, và nhờ vậy mà ông ta đã nhận được tin này.
- Ông thị trưởng nghĩ là người khách buôn đã nhầm. Những người đàn ông thấp và mập có nhiều khắp đây đó ở các thành phố. Và ông có biết điều gì mà tôi đã nghe ông ấy nói thầm với người phó của ông ấy không, giọng nói có vẻ như muốn để tôi nghe được, nguyên văn là: “Ông sẽ thấy ông cảnh sát trưởng lao theo dấu vết giả này kể từ Brest và để lại tên giết người thật trên lưng của chúng ta!”
Maigret im lặng bước. Trên bãi chợ, người ta đã tháo dỡ các lán tạm.
- Tôi suýt trả lời ông ấy là…
- Là sao?
Leroy đỏ mặt, quay đầu đi.
- Đúng! Tôi không biết. Tôi cũng vậy, tôi có cảm giác là ông không cho việc bắt tên du đãng là quan trọng nhất có phải không ạ?
- Sức khỏe của Mostaguen ra sao rồi?
- Tốt hơn. Ông ta không giải thích được cuộc tấn công mà ông ta là nạn nhân. Ông ấy đã xin lỗi vợ, xin lỗi đã ở lại muộn tại quầy cà phê, xin lỗi là đã quá chén. Ông ấy đã khóc và thề là không còn uống một giọt rượu nào nữa.
Maigret dừng lại trước cảng, cách khách sạn Amiral năm mươi mét. Các thuyền bè trở về thả chùng những lá buồm nâu xuống, vòng qua đê chắn sóng và từ từ đẩy mái chèo, lướt đi.
Nước triều xuống, để lộ ra những bãi bùn quánh lại có lẫn những chiếc xoong cũ và rác rưởi dưới chân các bức tường thành của thành phố. Người ta phỏng đoán mặt trời nấp sau vòm mây một màu đơn điệu.
- Cảm tưởng của anh thế nào, Leroy?
Viên thanh tra càng bối rối hơn.
- Tôi không biết. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta bắt người đàn ông ấy. Ông để ý là con chó vàng vẫn còn biến mất đấy thôi. Có thể làm được gì trong biệt thự của tay bác sĩ? Ở đấy chắc phải có thuốc độc. Tôi suy ra như vậy.
- Đúng, dĩ nhiên! Nhưng tôi thì không bao giờ suy diễn.
- Dù sao, tôi cũng tò mò muốn thấy được tên du đãng thật gần. Những dấu vết chứng tỏ rằng đấy là một tên khổng lồ.
- Đúng!
- Ông muốn nói gì cơ.
- Chẳng nói gì cả.
Maigret không nhúc nhích, đường như ông vui thích khi ngắm nhìn toàn cảnh cái cảng nhỏ bé, mũi Cabélou ở bên trái cùng với rừng cây lãnh sam và những mỏm đá nhô ra, những cọc tiêu đỏ đen, những phao tiêu màu hồng điều đánh dấu lạch đi đến quần đảo Glénan mà vẻ âm u không đễ gì cho phép ta nhìn thấy được.
Viên thanh tra đang có nhiều điều cần nói:
- Tôi đã gọi điện về Paris để có được những thông tin về Goyard, vì y đã sống ở đấy.
Maigret nhìn anh với vẻ mỉa mai trìu mến, Leroy chạm tự ái, nói một thôi rất nhanh:
- Những thông tin rất tốt hoặc cũng rất xấu. Tôi có đầu mối, một ông đội trưởng mật thám cũ ở Mondaine đích thị quen biết anh ta. Có vẻ như anh ta đã hoạt động lâu ngày bên lề của giới báo chí. Thoạt đầu là người viết tin vặt, rồi làm thư ký của một nhà hát nhỏ, rồi giám đốc một tiệm hát ở Montmartre. Hai lần phá sản. Chủ bút trong hai năm của một tờ báo tỉnh, ở Nevers. Tôi nghĩ là… Cuối cùng thì anh ta đứng đầu một hộp đêm. Một con người tháo vát. Đấy là những lời lẽ mà người đội trưởng đã dùng. Ông ta còn nói thêm: “Một anh chàng tử tế. Anh ta nhận thấy rằng chung quy anh chỉ đến ăn trong vòng bốn xu của mình hay sáng tạo ra những câu chuyện, anh ta ưa vùi đầu ở tỉnh lẻ hơn”.
- Rồi sao nữa?
- Khi ấy tôi tự hỏi tại sao anh ta lai bịa ra vụ tấn công này. Vì tôi đã xem lại chiếc ô tô, có những vệt máu, những vệt máu thật. Và nếu có cuộc tấn công, thì tại sao lại không đưa ra dấu hiệu là còn sống, vì bây giờ anh ta đang dạo chơi ở Brest?
- Khá lắm.
Viên thanh tra nhìn thẳng vào Maigret để biết ông có nói đùa không. Nhưng không! Ông cảnh sát trưởng rất nghiêm trang, ánh mắt dán chặt vào một vệt nắng hiện lên rất xa trên biển.
- Còn về Le Pommeret.Anh có những tin gì?
- Người anh của anh ta có đến khách sạn để nói chuyện với ông. Ông ấy không có thì giờ chờ đợi. Ông ấy đã hết lời nói xấu người chết với tôi… Nhưng ít ra trong đầu óc của ông ấy có cái rất nghiêm trọng: một kẻ lười biếng. Hai điều đam mê: những người đàn bà và săn bắn… Còn nữa là sính vay nợ và làm ra vẻ hào phóng… Của có ít xít ra nhiều. Người anh, gần như là nhà công nghiệp lớn của miền đã nói với tôi rằng: “Tôi bằng lòng may quần áo ở Brest, không xa hoa nhưng bền, thoải mái. Yves đến Paris thửa quần áo. Và đôi giày của chú ấy phải có đóng dấu là xưởng làm giày nổi tiếng! Chính vợ tôi cũng chẳng đi giầy đo chân thửa đóng”.
- Chết cười thật… - Maigret ngơ ngác nói, nếu không vì sự phẫn nộ của người đồng hành.
- Tại sao?
- Tuyệt vời, nếu anh thích! Theo như anh nói lúc nãy thì đấy là sự lặn ngụp thực sự vào cuộc sống tỉnh thành mà chúng ta đánh giá. Biết Le Pommet đi giày đóng sẵn hay đi giày đo chân. Như vậy không có vẻ gì cả. Này, anh hãy tin tôi nếu anh muốn, nhưng đấy hoàn toàn là cái nút của thảm kịch. Nào, ta đi làm tí khai vị cái đã, Leroy… Những con người kia ngày nào cũng uống cả… Đến quầy cà phê Amiral nhé!
Viên thanh tra lại thêm một lần nữa quan sát cấp trên của mình và tự hỏi có phải ông ấy đang chế giễu mình phải không. Anh đã trông chờ những lời khen ngợi về sự hoạt bát của anh sáng nay và cả những sáng kiến nữa. Còn Maigret thì có vẻ coi là chuyện đùa.
------
Dù sao cũng vẫn có sự lộn xộn khi thầy giáo bước vào một lớp học của trường tiểu học mà học sinh đang nói chuyện riêng. Những sự bàn cãi chưa ngừng hẳn. Các nhà báo đổ xô đến trước viên cảnh sát trưởng.
- Chúng ta đã có thể thông báo việc bắt giữ ông bác sĩ chưa? Ông ấy đã thú nhận rồi phải không?
- Chẳng có gì cả đâu.
Maigret ra hiệu cho họ giãn ra rồi nói với Emma:
- Hai ly Pernod, cô bé!
- Nhưng cuối cùng thì ông đã bắt ông Michoux.
- Các ông muốn biết sự thật à?
Họ đã cầm sẵn giấy bút trong tay, họ chờ để chiếc bút của họ bắt đầu ngoáy lia lịa trên giấy.
- Ấy chưa có sự thật đâu. Có lẽ một ngày nào đấy mới có được. Có thể là chưa…
- Người ta khẳng định là Jean Goyard.
- Còn sống! Càng hay cho anh ta!
- Tuy nhiên có một người đàn ông đang ẩn nấp người ta truy nã nhưng vô hiệu…
- Cái ấy chứng tỏ sự bất lực của kẻ đi săn đối với con mồi.
Maigret nắm ống tay áo của Emma giữ lai dịu dàng nói:
- Cô cho tôi ăn sáng trong phòng của tôi.
Ông uống một hơi hết rượu khai vị rồi đứng dậy.
- Một lời khuyên tốt cho các ông. Không có những kết luận sớm hơn được.
Và nhất là không có những lời suy diễn.
- Nhưng người phạm tội?
Ông so đôi vai rộng, thốt lên:
- Ai mà biết được?
Ông đã ở chân cầu thang. Thanh tra Leroy liếc ánh mắt dò hỏi về phía ông.
- Không, anh bạn thân mến, anh hãy ăn ở bàn của khách. Tôi cần phải nghỉ ngơi.
Người ta nghe tiếng bước chân nặng nề leo lên cầu thang. Mười phút sau, đến lượt Emma bước lên với một mâm đầy những món ăn nhập bữa. Rồi người ta nhìn thấy cô mang lên một vỏ chai Saint-Jacques, một đĩa thịt bê quay và rau ê-pi-na.
Trong phòng ăn, cuộc đàm thoại trở nên thiếu sinh động. Một nhà báo có điện thoại gọi đã nói:
- Đến bốn giờ, vâng… Tôi hy vọng sẽ ra cho các ông một bài báo gây được ấn tượng mạnh. Chưa đâu. Cần phải chờ…
Một mình sau chiếc bàn, Leroy ăn uống với cách của những chàng trai có giáo dục, mỗi lúc lại lau mép bằng góc của chiếc khăn ăn. Những người ở chợ quan sát mặt trước của quầy cà phê Amiral chờ đợi có chuyện gì xảy ra ở đấy không.
Một lính mật thám dựa lưng vào góc đường hẻm, nơi tên du đãng biến mất.
- Ông thị trưởng gọi điện thoại cho ông cảnh sát trưởng Maigret!
Leroy hối hả bảo Emma:
- Cô lên trên ấy báo cho ông cảnh sát trưởng.
Nhưng cô hầu phòng đã trở lại, nói:
- Ông ấy không còn trên ấy nữa!
Viên thanh tra leo lên cầu thang bốn bậc một, trở lại mặt tái mét, cầm ống điện thoại.
- Alô! Vâng, thưa ông thị trưởng. Tôi không biết ạ. Tôi, tôi rất lo. Ông cảnh sát trưởng không còn ở đây nữa. Alô!… Không! Tôi không thể nói được gì với ông. Ông ấy đã ăn trưa trong phòng riêng. Tôi không thấy ông ấy đi xuống… Tôi… Lát nữa tôi sẽ gọi lại cho ông.
Và Leroy không bỏ chiếc khăn ăn ra, dùng nó để lau trán.
Chỉ sau đấy nửa giờ, viên thanh tra leo lên phòng mình. Anh thấy trên bàn một mảnh giấy đầy ký hiệu bằng chữ moóc.
“Mười một giờ tối nay, anh trèo lên nóc nhà, đừng để ai trông thấy. Anh sẽ thấy tôi ở đấy. Chú ý không gây ra tiếng động. Mang theo vũ khí. Hãy nói rằng tôi đã đi Brest và ở đấy, tôi sẽ gọi điện về cho anh. Không được rời khỏi khách sạn.
- Maigret”.
Trước mười một giờ một chút, Leroy cởi giầy rồi xỏ chân vào đôi giầy nhẹ bằng dạ phớt mà anh đã mua hồi chiều với mục đích của công việc này. Nó có thể làm cho anh nhạy cảm hơn.
Sau khi lên hết lầu hai, không còn bậc thang nữa nhưng, một chiếc thang gắn cố định vào mép cửa sập ở trần nhà. Ở phía kia là một vựa thóc lạnh giá do gió lùa. Đến đây, thám tử đánh liều quẹt một que diêm.
Một lát sau, anh vượt qua cái cửa sổ con nhưng không dám tụt xuống mái đua ngay. Tất cả hoàn toàn lạnh lẽo. Khi tiếp xúc với những tấm kẽm, các ngón tay của anh dừng lai. Và Leroy không muốn bị vướng vì chiếc áo pác-đờ-xuy.
Khi đôi mắt đã quen với bóng tối, anh phân biệt được một khối sẫm, lùn thấp như một con vật to lớn đang rình. Hai lỗ mũi của anh nhận biết được những luồng hơi của cái tẩu. Anh huýt sáo ra hiệu rất khẽ.
Lát sau, anh đã nấp trên mái đua cạnh Maigret. Lúc này không nhìn thấy biển nữa và cũng chẳng nhìn thấy thành phố. Anh đã ở trên đốc mái đối diện với bến cảng, với mép của một con hào đen ngòm, không khác nào một đường hẻm; nơi ấy tên du đãng có đôi bàn chân lớn đã chạy thoát.
Tất cả bố cục không theo quy củ gì cả. Có những mái nhà rất thấp và những cái khác lại cao đến hai đầu người. Đây đó, nhiều khung cửa sổ còn sáng, một số có che rèm. Trong một gian phòng khá xa, một người đàn bà đang tắm cho một đứa bé trong một cái chậu tráng men.
Ông cảnh sát trưởng động đậy, nói đúng hơn là đang bò, cho đến khi miệng ông áp sát vào lỗ tai của người đồng hành:
- Cẩn thận! Không được có hành động liều lĩnh. Mái đua không được chắc và phía dưới chúng ta có một cái ống của máng thoát nước chỉ chực lao xuống với tiếng động ầm ầm. Các nhà báo đâu?
- Họ đều ở dưới, chỉ trừ một người đi tìm ông ở Brest, tin rằng ông đang bám theo dấu vết Goyard…
- Còn Emma?
- Tôi không biết… Tôi không thể để ý đến cô ấy. Chính cô ấy đã pha cà phê cho tôi sau bữa cơm tối.
Kể ra cũng dễ hoang mang, không biết gì cả khi ở trên nóc một ngôi nhà mà dưới kia có nhiều người đi lại trong nóng bức, trong ánh sáng không cần phải giữ gìn, nói nhỏ.
- Được. Cậu khẽ quay mặt về phía ngôi nhà bán hàng kia, khẽ thôi.
Đấy là ngôi nhà thứ hai ở bên phải, một trong những ngôi nhà hiếm có chiều cao bằng khách sạn. Nó ở trong một vạt tối hoàn toàn, thế nhưng viên thanh tra cảm giác có một tra sáng lờ mờ được phản chiếu trên một cửa kính không có rèm che của lầu hai.
Dần dần anh nhận thấy rằng đấy không phải ánh phản chiếu từ bên ngoài mà là một ánh sáng yếu ớt của không gian thì những sự vật lại càng lần lượt hiện lên rõ nét. Một sàn ván đánh xi. Một ngọn nến cháy heo hắt mà ngọn lửa hoàn toàn thẳng đứng, xung quanh có quầng…
- Nó ở kia - Bỗng nhiên anh cất lên tiếng nói bất đắc dĩ.
- Suýt! Đúng đấy.
Có người nằm ở ngay sàn ván, nửa người phơi ra dưới ánh sáng của ngọn nến, còn nửa người trong chỗ tranh tối tranh sáng. Có thể nhìn thấy một chiếc giày rất lớn, một thân người phía trên nở nang, cân đối trong chiếc áo thuỷ thủ.
Leroy biết có một mật thám đang ở cuối đường hẻm, một người khác trên bãi, còn một người nữa đi bách bộ trên bến cảng.
- Ông có định bắt hắn không?
- Chẳng biết nữa. Vậy là hắn đã ngủ được ba giờ đồng hồ!
- Hắn có vũ khí không?
- Sáng nay thì không.
Anh có thể đoán được các âm tiết mới phát ra. Đấy là một lời thì thầm khó phân biệt lẫn với hơi thở.
- Chúng ta còn chờ gì?
- Không rõ nữa. Tôi muốn biết vì sao trong khi bị vây dồn thì hắn lại ngủ và lại thắp nến. Cẩn thận!
Một ô vuông màu vàng hiện lên trên một bức tường.
- Người ta đã thắp sáng trong phòng của Emma ở phía dưới chúng ta. Đấy là ánh phản chiếu.
- Ông chưa ăn tối à, ông cảnh sát trưởng?
- Tôi có mang theo bánh mì và xúc xích. Cậu không lạnh à?
Cả hai người đều rét cóng. Họ nhìn thấy ánh sáng chiếu trên bầu trời của ngọn hải đăng từng lúc một rất đều đặn.
- Cô ta đã tắt.
- Ừ… suýt!
Im lặng chừng năm phút… Rồi, bàn tay của Leroy tìm kiếm bàn tay của Maigret và bóp mạnh một cách có dụng ý.
- Dưới kia…
- Tôi thấy rồi.
Trên tường trát vôi ngăn cách khu vườn của ngôi nhà trống với con đường hẻm hiện lên một cái bóng. Leroy không chịu được sự im lặng đã thốt lên:
- Cô ấy sẽ đến gặp hắn.
Trên kia, gã đàn ông vẫn ngủ gần ngọn nến. Một cây phúc bồn tử bị nhàu lá trong vườn. Có một con mèo trốn chạy dọc máng nước.
- Cậu có cái bật lửa bùi nhùi nấm đấy không?
Maigret không dám châm lại tẩu thuốc. Ông do dự khá lâu. Cuối cùng ông phải lấy thân mình làm màn che cùng với chiếc áo vét-tông của người đồng hành để quẹt một que diêm làm cho viên thanh tra phải hít mùi nồng nặc của thuốc lá.
- Trông kìa!
Họ không nói thêm gì nữa. Bất thình lình, gã đàn ông bật dậy đến nỗi suýt làm đổ cây đèn nến, Gã lùi lại trong bóng tối, trong khi ấy cửa mở ra, Emma hiện ra trong ánh sáng, lưỡng lự, đáng thương như một người đàn bà phạm tội.
Cô mang vật gì dưới cánh tay: một cái chai và một gói rồi đặt xuống sàn. Tờ báo mở ra để lộ một con gà quay.
Cô đang nói. Đôi môi mấp máy. Cô chỉ nói vài lời, vẻ buồn buồn.
Cô mặc một chiếc váy liền áo màu đen của cô gái hầu phòng, đội một chiếc mũ Bonnê. Cô chỉ cởi chiếc tạp dề trắng ra và như thế làm cho cô có một cái dáng lệch người hơn ngày thường.
Có lẽ cô vừa khóc vừa nói… Cô thốt lên những lời đứt quãng. Và chứng cứ là bất thình lình cô dựa lưng vào khung cửa, gục đầu vào khuỷu tay gập lại. Vai của cô nâng lên nâng xuống theo nhịp không đều.
Gã đàn ông khi mới đứng lên, cả khuôn cửa sổ hình chữ nhật đen ngòm vì bóng đáng của hắn và sau đấy giãn ra xa khi hắn bước đến phía cuối của gian phòng. Bàn tay to bè của hắn hạ xuống vai của cô gái làm Emma phải lệch hẳn người suýt ngã để lộ ra bộ mặt khốn khổ, tái mét; cặp môi của cô mọng lên vì những tiếng nấc.
Nhưng đấy cũng chỉ lờ mờ, không rõ lắm như một cuốn phim chiếu trên màn ảnh khi những ngọn đèn đã bật sáng. Và còn thiếu thứ khác: những tiếng ồn, giọng nói…
Vẫn như chiếc bóng: chiếu bóng không có âm nhạc.
Thế nhưng người đàn ông lại nói. Có lẽ hắn nói to. Đấy là một con người thô lỗ. Đầu rụt xuống sát vai, nửa thân trên cân đối bởi chiếc áo xăng-đay làm nổi lên các cơ ngực; tóc hắn cắt ngắn như tóc của một tên tù khổ sai; hai nắm tay chống nạnh; hắn hét lên những lời trách móc, những lời chửi bới, hay là những lời đe nẹt?
Có lẽ hắn sẵn sàng đánh đập cô gái. Đến nỗi Leroy tìm cách chạm vào Maigret mạnh hơn như để tự trấn tĩnh. Emma vẫn khóc, chiếc mũ của cô đã lệch đi; búi tóc sắp sổ ra. Một cánh cửa sổ khép lại và cuốn phim bị gián đoạn trong giây lát.
- Ông cảnh sát trưởng… có phải chúng ta…
Mùi thuốc lá bao bọc lấy hai người và tạo cho họ một cảm giác ấm cúng.
Tại sao Emma chắp hai tay lại với nhau?… Cô lại nói… Mặt cô đã biến dạng đi bởi một biểu hiện lờ mờ của sự sợ hãi, của sự cầu xin, của nỗi thống khổ, còn viên thanh tra Leroy thì nghe Maigret khẽ lên đạn súng ngắn.
Chỉ có mười lăm đến hai mươi mét giữa mái nhà này và cửa sổ phía bên kia.
Chỉ cần một tiếng "tách" cụt ngủn, và tên khổng lồ sẽ không làm hại được nữa.
Bây giờ hắn bước dọc bước ngang, hai tay chắp sau lưng dường như ngắn hơn và mập hơn. Chân của hắn va phải con gà giò, suýt trượt, hắn bực tức hất con gà lăn vào bóng tối.
Cô gái quỳ sụp xuống hay đúng hơn là nhào xuống đấy trên lối đi của hắn và giơ tay về phía hắn. Hắn vờ như không nhìn thấy cô, và cô gái không còn quỳ nữa và hầu như nằm xuống, giơ tay lên cầu xin… Khi thì có thể nhìn thấy được gã đàn ông, khi thì bóng tối làm tiêu tan. Lúc trở lại, hắn đứng ngay trước cô gái đang van xin, nhìn cô từ đầu đến chân.
Hắn lại bước đi, đến gần, đi xa ra nữa và khi ấy cô gái không còn sức hay không đủ can đảm duỗi tay ra phía hắn để van xin. Cô chán nản nằm dài ra trên sàn nhà, chai rượu cách bàn tay độ hai mươi centimét.
Thật bất ngờ. Tên du đãng cúi xuống, hạ một bàn tay hộ pháp xuống nắm lấy bả vai cô gái và chỉ bằng một động tác, hắn kéo Emma đứng thẳng dậy làm cô lảo đảo, không còn đứng vững được nữa. Thế nhưng, nét mặt cô không biểu lộ điều gì. Búi tóc đã rơi xuống, chiếc mũ bon-nê kéo lê trên đất.
Gã đàn ông vẫn bước. Hai lần hắn tránh người bạn gái bối rối của hắn.
Lần thứ ba hắn ôm lấy cô trong đôi tay chuối mắn của hắn, đè cô xuống, ngửa đầu cô ra. Rồi rất háu, hắn gắn cặp môi của hắn lên cặp môi của cô. Bây giờ chỉ còn thấy lưng của hắn, cái lưng không tình người với một bàn tay bé nhỏ của đàn bà đặt trên vai của hắn.
Với những ngón tay chuối mắn, tên súc sinh vuốt ve làn tóc xoã ra, vuốt ve… như chính hắn muốn làm mệt nhoài người bạn gái của hắn, cố đè sát cô hơn nữa, gắn chặt vào cặp môi của chúng không rời nhau ra.
- Khiếp! - giọng nói sững sờ, xúc động của viên thanh tra.
Còn Maigret suýt bật cười khi Leroy bất thần nắm lấy tay ông do phản ứng tức thì của anh.
------
Emma dễ chừng đã ở đấy đến mười lăm phút đồng hồ? Sự ghì chặt đã hết.
Ngọn nến sáng thêm chỉ được năm phút. Và trong bầu không khí hình như có một sự giãn ra rõ rệt.
Có phải cô gái hầu phòng không cười? Chắc là cô đã tìm được một mảnh gương soi đâu đấy. Trong ánh sáng, người ta trông thấy cô búi lại mớ tóc dài, giữ bằng một cái cặp tóc, tìm thêm dưới đất một cái khác cô đã đánh rơi, ngậm nó giữa hai hàm răng; cô đội chiếc mũ bon-nê lên.
Cô như đẹp ra. Hoàn toàn xúc động, ngay cả với thân hình bèn bẹt của cô, và chiếc váy liền áo màu đen, cặp mi đỏ mọng. Gã đàn ông nhặt lai con gà quay.
Và không rời mắt khỏi cô, hắn cắn ăn ngon lành, nhai xương rau ráu, rứt từng miếng thịt mà nhai. Hắn tìm con dao trong túi, không thấy, bèn đập vỡ cổ chai bằng cách nện gót giầy. Hắn uống. Hắn muốn cả Emma uống. Cô cười, từ chối.
Có lẽ cái chai bị vỡ lám cho cô sợ? Nhưng hắn ốp cô há miệng ra, từ từ rót rượu vào. Cô sặc sụa và ho. Thế là hắn giữ lấy vai cô, hôn cô nhưng không hôn lên môi. Hắn vui vẻ hôn lên hai má, hai mắt, lên trán và cả lên chiếc mũ bon-nê thêu ren của cô.
Cô đã sẵn sàng. Hắn đến áp mặt vào cửa sổ và một lần nữa hắn lại hầu như lấp kín toàn bộ hình chữ nhật sáng rõ ấy của khung cửa sổ. Hắn quay lại để tắt ngọn nến.
Thanh tra Leroy bực bội:
- Chúng ra đi với nhau đấy.
- Đúng.
- Chúng sẽ bị tóm cổ.
Cây phúc bồn tử trong vườn rung rinh. Rồi một bóng người vút lên đỉnh tường, Emma đã ở trong ngõ cụt, chờ tình nhân của cô.
- Cậu phải theo dõi chúng từ xa. Nhất thiết không để chúng thấy được cậu.
Cậu sẽ báo cho tôi biết khi nào cậu có thể.
Maigret giúp viên thanh tra đu lên để men theo dọc mái đá đen đến tận khung cửa sổ nhỏ giống như tên du đãng đã giúp bạn gái của hắn. Rồi ông cúi nhìn ngõ cụt, nơi chỉ còn nhìn thấy được hai cái đầu của cặp tình nhân.
Chúng do dự. Chúng thì thầm. Lúc ấy cô hầu phòng kéo tên đàn ông vào một cái lán kiểu như cái kho để dụng cụ rồi biến mất vì cửa ra vào chỉ chốt bằng một then cài. Đấy là cái lán của người bán thừng chão. Nó thông với kho hàng mà giờ này chẳng còn ai ở đấy. Một ổ khoá bị cậy và cặp trai gái đã ra đến bến cảng.
Nhưng Leroy đã ở đấy trước chúng.
------
Ngay khi tụt xuống thang khỏi lấm thóc, ông cảnh sát trưởng hiểu rằng có chuyện bất thường xảy ra. Ông nghe có tiếng ồn ào trong khách sạn. Ở dưới, điện thoại vẫn làm việc giữa nhiều tiếng đàm thoại. Có cả tiếng nói của Leroy, có lẽ là anh đang nói ở máy và anh phải nói thật to.
Maigret lao xuống cầu thang, đến tầng trệt, đụng phải một nhà báo.
- Thế nào?
- Một vụ giết người, mới, cách đây mười lăm phút. Ở thành phố… Người bị thương đã được đưa đến hiệu thuốc.
Ông cảnh sát trưởng lao ra bến cảng đầu tiên, trông thấy một lính mật thám vừa chạy vừa giơ sung ngắn ra. Ít khi bầu trời lại tối đen đến thế. Maigret đuổi kịp người lính.
- Xảy ra chuyện gì thế?
- Một cặp trai gái vừa ra khỏi cửa hàng. Tôi đi bách bộ ở phía trước. Tên đàn ông hầu như đâm sầm vào cánh tay tôi. Tội gì phải chạy nữa. Có lẽ chúng đã chuồn xa rồi!
- Anh nói đi xem nào!
- Tôi nghe có tiếng động trong quán hàng, ở đấy tối mịt, chẳng có ánh sáng.
Tôi rình, tay cầm vũ khí… Cửa xịch mở, một gã chạy ra, nhưng tôi không có thì giờ để ngắm bắn. Hắn đã tống cho tôi một nắm đấm vào mặt đến nỗi tôi lăn ra đất… Rơi súng… Tôi chỉ sợ hắn nhặt được… Nhưng không. Hắn đi tìm một con đàn bà chờ trên thềm cửa. Con đàn bà không thể chạy. Hắn bế lấy… Phải mất một phút tôi mới đứng dậy được, ông cảnh sát trưởng ạ, một nắm đấm như thế… Ông xem… Tôi chảy máu… Chúng chạy dọc bến cảng… Chắc chúng phải đi vòng qua vũng. Gần đấy có hàng lô những con đường nhỏ, rồi đến đồng ruộng…
Người mật thám thấm mũi bằng chiếc khăn tay.
- Hắn đã có thể giết được tôi, chẳng khác nào như… Nắm đấm của hắn như búa tạ…
Người ta vẫn nghe những tiếng nói ở phía khách sạn nơi các cửa sổ đang có
ánh sáng. Maigret quay người đi vòng qua góc phố, nhìn thấy cửa hàng dược.
Các cửa sổ đóng kín nhưng cửa ra vào vẫn mở, lọt ra ngoài một luồng ánh sáng mờ mờ. Có đến hai chục người tụ tập thành đám đông ở đấy. Ông cảnh sát trưởng dùng khuỷu tay gạt họ ra.
Trong phòng thuốc, một người đàn ông nằm ngửa ngay trên nền, mắt nhìn trần nhà thốt lên những tiếng rên rỉ. Vợ người dược sĩ mặc áo cánh buổi tối, nói liên hồi. Còn người chồng thì khoác chiếc áo vét-tông ngoài chiếc áo pi-gia-ma, hốt hoảng lắc những chiếc lọ thuỷ tinh và xé những nắm bong thấm nước.
Maigret hỏi:
- Ai thế?
Không chờ câu trả lời, ông đã nhận ra bộ đồng phục hải quan mà người ta đã xé rách một bên ống quần. Và bây giờ ông đã biết người mặc bộ quần áo ấy là ai.
Đấy là nhân viên hải quan, đã đứng gác trong cảng tối thứ Sáu vừa rồi. Ông đã chứng kiến từ xa thảm kịch mà Mosfaguen bị trúng đạn khi từ trong khách sạn Amiral trở về nhà.
Một bác sĩ hối hả đến nhìn người bị thương rồi nhìn Maigret và kêu lên:
- Lại còn chuyện gì nữa thế này?
Một ít máu chảy ra đất. Người dược sĩ đã lau ống chân cho người lính bằng nước xy, làm nổi lên những vệt bọt màu hồng. Một người đàn ông đứng bên ngoài kể lại có đến lần thứ mười bằng một giọng đã hết hổn hển:
- Tôi cùng vợ tôi đang ngủ thì nghe có một tiếng giống như một phát súng, rồi một tiếng kêu. Rồi không còn nghe gì nữa, có lẽ là trong năm phút! Tôi không dám ngủ lại. Vợ tôi muốn tôi đến xem… Khi ấy tôi nhận thấy có những tiếng rên hình như phát ra từ vỉa hè sát cửa nhà chúng tôi. Tôi cầm vũ khí và mở cửa ra, thì tôi trông thấy một bóng xâm xẩm đen. Tôi nhận ra bộ đồng phục bèn kêu lên để đánh thức hàng xóm và người bán hoa quả. Ông này có một chiếc ô tô có thể giúp tôi đem người bị thương này đi…
- Phát súng nổ lúc mấy giờ?
- Cách đây đúng nửa giờ.
Có nghĩa là khi tấn tuồng giữa Emma và gã đàn ông hộ pháp có đấu bàn chân to đang lúc sôi động nhất!
- Ông ở đâu?
- Tôi là thợ làm buồm. Ông đã đi qua trước nhà tôi có đến mười lần. Bên phải cảng. Xa hơn chợ cá… Nhà tôi ở chỗ khuỷu, góc tạo thành bến cảng và một con đường nhỏ. Đằng sau, nhà cửa thưa thớt và hầu như chỉ có những biệt thự.
Bốn người đàn ông khiêng người bị thương vào một phòng trong cùng, ở đấy người ta đặt ông lên một chiếc tràng kỷ. Người bác sĩ ra các chỉ dẫn. Người ta nghe tiếng hỏi của ông thị trưởng ở bên ngoài:
- Ông cảnh sát trưởng ở đây phải không?
Maigret đã đến trước ông thị trưởng, hai tay thọc trong túi áo.
- Ông cảnh sát trưởng, ông sẽ thừa nhận rằng…
Ánh mắt của người đối thoại với ông thị trưởng lạnh lùng đến nỗi làm cho ông lúng túng mất một lát.
- Chính tên đàn ông ấy bắn phải không?
- Không!
- Ông biết chuyện này như thế nào?…
- Tôi biết khi tội ác xảy ra là lúc tôi trông thấy hắn rất gần, cũng như tôi đang trông thấy ông đây.
- Và ông đã không bắt giữ chứ?
- Không!
- Người ta cũng có nói với tôi về một người lính bị tấn công.
- Đúng thế
- Ông có nhận thấy những thảm kịch như vậy có thể gây ra hậu quả như thế nào không? Chính từ khi ông có mặt ở đây thì…
Maigret nhấc ống điện thoại:
- Cô ơi, cho tôi nói chuyện với Sở mật thám. Vâng. Cảm ơn… Alô? Sở mật thám phải không? Ông là đội trưởng đấy à? Alô, đây, cảnh sát trưởng Maigret đây. Bác sĩ Michoux tất nhiên vẫn ở đấy chứ? Ông nói sao? Đúng rồi, dù sao ông cũng phải đảm bảo an toàn cho ông ấy… Thế nào? Có một người lính gác trong sân à? Rất tốt… Tôi chờ.
Ông thị trưởng hỏi:
- Ông tin là chính bác sĩ đã… ?
- Hoàn toàn không! Tôi không bao giờ tin. Thưa ông thị trưởng… A lô!…
Phải. Ông ấy không nhúc nhích chứ? Cảm ơn… Ông nói là ông ấy ngủ? Rất tốt… Alô! Không! Chẳng có gì đặc biệt…
Những tiếng rên rỉ từ phòng trong cùng dội đến, từ đấy, một tiếng gọi:
- Ông cảnh sát trưởng…
Đấy là người thày thuốc đang lau đôi bàn tay vừa rửa xà phòng xong vào một chiếc khăn trắng.
- Ông có thể hỏi chuyện ông ấy. Viên đạn chỉ sượt qua bắp chân. Ông ấy sợ hơn là đau. Cũng cần phải nói rằng máu chảy khá nhiều.
- Ông ấy hoảng sợ vì nghĩ là người ta sẽ cưa chân của ông ấy… Trong tám ngày nữa sẽ ổn thôi!
Ông thị trưởng đứng cạnh khung cửa ra vào.
Maigret vừa ngồi xuống mép tràng kỷ vừa ôn tồn nói:
- Ông hãy kể cho tôi biết sự việc xảy ra. Ông đừng sợ gì cả. Ông đã nghe bác sĩ nói rồi đấy.
- Tôi không biết.
- Nhưng còn gì nữa?
- Hôm nay tôi hết phiên gác lúc mười giờ. Tôi ở hơi xa nơi tôi bị thương.
- Vậy ông không về thẳng nhà à?
- Không! Tôi thấy ở quầy cà phê Amiral còn có ánh sáng. Tôi muốn biết ở đấy có chuyện gì không. Tôi xin thề với ông là cẳng chân của tôi làm tôi nóng ran - Không sao đâu? - Người thày thuốc khẳng định.
- Tôi muốn nói với ông rằng. Chà! Vì tôi cho rằng điều ấy chằng hề gì! Tôi uống một cốc nửa lít ở quầy cà phê. Nhưng có các nhà báo nên tôi không muốn hỏi han gì họ.
- Ai phục vụ ông?
- Một bà hầu phòng, tôi nghĩ… Tôi không trông thấy Emma.
- Sau đấy?
- Tôi định về nhà. Tôi đi qua trước đội vệ binh, nơi tôi đã châm một điếu thuốc ở cái tẩu của người đồng sự của tôi. Tôi đi theo bến cảng, chẳng có ai cả… Biển khá đẹp… Khi vừa vượt qua một góc phố, tôi cảm thấy đau nhói ở bắp chân ngay khi nghe được một tiếng nổ. Tôi ngã xuống. Có ai đấy chạy… Bàn tay tôi sờ phải một chất lỏng nóng và tôi không biết làm sao lại như thế, nhưng tôi đã bất tỉnh nhân sự… Tôi nghĩ là tôi đã chết.
- Ông không trông thay người đã bắn ông chứ?
- Tôi không thấy gì cả. Điều ấy không xảy ra như người ta tưởng. Thời gian ngã xuống… Và nhất là khi tôi rụt bàn tay đầy máu lại.
- Ông biết mình không có kẻ thù chứ?
- Không. Tôi đã ở đây hai năm. Quê tôi ở vùng khác. Và tôi không bao giờ có dịp gặp những kẻ buôn lậu.
- Ông vẫn về nhà bằng con đường này?
- Không! Như thế xa hơn. Nhưng vì không có diêm nên tôi đã đến đội vệ binh, định để châm điếu thuốc. Khi ấy đáng lẽ đi về thành phố thì tôi lại đi theo con kè chắn sóng.
- Nó gần hơn đường thành phố?
- Hơn chút ít.
- Bởi có thể ai đấy thấy ông đi ra khỏi quầy cà phê và theo những con kè chắn sóng thì mới có thì giờ phục kích ông chứ?…
- Hẳn thế. Nhưng vì sao? Tôi không bao giờ để tiền trong người. Nên không ai cố tình cướp bóc tôi. Ông cảnh sát trưởng, ông có chắc là suốt cả buổi tối khi nào ông cũng trông thấy tên du đãng ấy chứ?
Có điều gì đấy gai ngạnh trong tiếng nói của ông thị trưởng. Leroy bước vào với một mảnh giấy trên tay.
Một bức điện báo mà bưu điện vừa gọi điện thoại đến khách sạn, từ Paris.
Và Maigret đọc:
“Tổng cục an ninh gửi Cảnh sát trưởng Maigret Concarneau.
Jean Goyard tức Servières mà ông đã cho biết đặc điểm nhận dạng đã bị bắt tối ngày thứ hai lúc này tám giờ tại khách sạn Bellevue phố Lepic, Paris khi hắn đang ở trong phòng 15 đã thú nhận từ Brest đến trên chuyến tàu sáu giờ. Kháng nghị vô tội và xin khi hỏi cung có mặt của luật sư. Chúng ta hãy chờ thẩm cứu.
- Ông cảnh sát trưởng, có thể ông đồng ý là đã đến lúc chúng ta phải nói chuyện nghiêm túc.
Ông thị trưởng đã nói như thế với một vẻ lịch sự lạnh lùng, còn Leroy thì chưa đoán được cảm xúc của Maigret ra sao khi nhìn thấy ông tuôn ra một đụn khói của tẩu thuốc lá. Đôi môi của ông cảnh sát trưởng như làn chỉ mỏng màu xám từ từ hé mở, còn cặp mi của ông nhấp nháy đến hai ba lần. Rồi ông rút cuốn sổ trong túi, nhìn xung quanh, nhìn người dược sĩ, người bác sĩ, những kẻ hiếu kỳ…
- Xin tuân lệnh ông, thưa ông thị trưởng. Đây là…
Ông thị trưởng vội vàng ngắt lời Maigret:
- Mong ông vui lòng quá bộ đến nhà tôi, chúng ta cùng uống với nhau tách nước trà. Tôi có xe ở cổng, chờ cho ông ra những mệnh lệnh cần thiết.
- Lệnh nào cơ?…
- Nhưng… kẻ giết người, tên du đãng, cô gái ấy.
- À! Vâng! Chà, sở cảnh sát không có gì tốt hơn để làm, đến nỗi chỉ có giám sát các bãi đỗ thuyền quanh vùng.
Maigret có cái vẻ rất hồn nhiên:
- Còn anh, anh Leroy, anh hãy đánh điện cho Paris là mong họ chuyển Goyard về cho chúng ta, rồi anh đi ngủ đi.
Ông ngồi vào trong xe của ông thị trưởng do một người lái xe mặc chế phục màu đen cầm lái. Ở phía trước khu vực Cát Trắng một ít, người ta thấy ngôi biệt thự xây ở ngay vách đá, có dáng như một cung điện của vua chúa. Các cửa sổ đều sáng sủa. Trong khi đi đường, hai người đàn ông không trao đổi với nhau đến hai câu.
- Ông cho phép tôi dẫn đường.
Ông thị trưởng cởi chiếc áo lông, đặt lên tay một người hầu.
- Bà đi ngủ rồi chứ?
- Dạ, bà chờ ông Thị trưởng trong thư viện ạ…
Người ta đã thấy bà vợ ông Thị trưởng ở đấy. Mặc dù tuổi đã trạc tứ tuần, bà có vẻ còn rất trẻ bên cạnh người chồng đã sáu lăm. Bà gật đầu ra hiệu chào ông cảnh sát trưởng.
- Thế nào?
Là con người rất lịch thiệp, ông thị trưởng hôn tay bà, vẫn giữ nguyên bàn tay bà trong tay ông và nói:
- Bà cứ yên tâm? Một nhân viên hải quan bị thương nhẹ. Và tôi mong rằng sau câu chuyện trao đổi giữa ông cảnh sát trưởng Maigret và tôi, cơn ác mộng không thể chấp nhận được ấy sẽ kết thúc.
Bà bước ra, trong tiếng sột soạt của nhung lụa. Một tấm màn cửa bằng nhung xanh buông xuống. Phòng thư viện rất rộng, các bức tường được ốp bằng ván đẹp, trần nhà được ghép bằng những thanh xà lớn như ở các trang viên của nước Anh. Người ta nhìn thấy khá nhiều bìa sách đẹp nhưng những cuốn sách đẹp nhất để ở trong một tủ sách đang kín bao phủ cả một vạt tường.
Toàn thể là một sự lộng lấy thực sự, không thiếu vẻ trang nhã, hoàn toàn tiện nghi. Mặc dù đã có hệ thống sưởi trung tâm, vẫn có những súc củi rực cháy trong một lò sưởi lớn.
Không có một nét trùng hợp nào với sự xa hoa hão kiểu ngôi biệt thự của người bác sĩ. Ông thị trưởng chọn một điếu thuốc trong hộp xì gà đưa cho Maigret.
- Cảm ơn, nếu ông cho phép, tôi sẽ hút cái tẩu này của tôi.
- Ông ngồi xuống đi, xin mời ông… Ông dùng whisky nhé?
Ông quẹt một que diêm, châm một điếu xì gà. Người hầu đến phục vụ họ. Và Maigret có lẽ cố ý, có cái dáng vụng về của một kẻ phàm tục được đón tiếp trong một ngôi nhà quý tộc. Những nét sắc sảo của ông dường như thô hơn; cái nhìn của ông mơ hồ.
Chủ nhà chờ người đầy tớ đi rồi mới nói:
- Ông cảnh sát trưởng, ông phải hiểu rằng không thể nào để cho một loạt vụ
ám sát như vậy tiếp diễn. Đấy, chúng ta thấy… thế là năm ngày ông ở đây và trong năm ngày ấy…
Maigret rút trong túi ra cuốn sổ tay của chị thợ giặt bọc bằng vải đánh xi:
- Ông cho phép chứ? - Maigret ngắt lời - Ông nói đến một loạt vụ ám sát.
Nhưng tôi để ý rằng tất cả những nạn nhân đều sống, chỉ trừ một người chết thôi: đấy là ông Le Pommeret. Về trường hợp người nhân viên hải quan, ông sẽ thừa nhận rằng nếu một kẻ nào thực sự muốn mưu sát ông ta thì hắn đã không bắn vào bắp chân… Ông biết nơi viên đạn bắn ra. Không ai nhìn thấy kẻ tấn công. Hắn đã có đủ thì giờ. Nếu không, hắn chẳng bao giờ cầm được một khẩu súng ngắn chứ?
Ông thị trưởng ngạc nhiên nhìn Maigret, cầm chiếc cốc lên và nói:
- Thế là ông cho rằng… ?
- Người ta muốn làm cho ông ấy bị thương cẳng chân, chứng cứ chẳng có gì khác…
- Người ta cũng định bắn ông Mostaguen vào cẳng chân phải không?
Đấy là lời nói kháy. Cánh mũi của ông thị trưởng phập phồng. Ông muốn từ tốn giữ bình tĩnh, vì ông đang ở tại nhà của ông. Nhưng trong giọng nói của ông có một tiếng rít khó chịu.
Maigret bằng thái độ của một viên chức tốt, trình bày sự việc lên cấp trên, đã nói tiếp:
- Nếu ông muốn điều ấy là rõ ràng, chúng ta sẽ soát lại những cái tôi đã ghi từng điều một. “Một viên đạn bắn ra từ hộp thư của một ngôi nhà không có người ở về hướng ông Mostaguen”. Trước tiên ông sẽ nhận thấy không có ai cả, ngay cả nạn nhân là ông Mostaguen, trong một lúc nào đấy lại có ý nghĩ nấp trên thềm cửa để châm điếu thuốc. Trong thời gian ấy có gió, và tội ác chưa xảy ra được!… Nhưng, tuy vậy, có một người đàn ông cầm súng ngắn nấp sẵn sau cửa. Hoặc đấy là một kẻ điên rồ, hoặc là hắn đang chờ một người nào đến… Bây giờ ông nhớ lại giờ đã Mười một giờ đêm, toàn thành phố đang ngủ, trừ cái nhóm nhỏ ở quầy cà phê Amiral?
- Tôi không kết luận. Chúng ta hãy xét những người có thể phạm tội ác. Các ông Le Pommeret và Jean Servières cũng như cô Emma, không ai có liên quan gì vì lúc ấy họ đang ở trong quầy cà phê.
- Còn lại là bác sĩ Michoux đi ra sớm hơn mười lăm phút và tên du đãng có những đấu vết đặc biệt. Thêm một người lạ nữa mà ta tạm gọi là X. Chúng ta đồng ý chứ?
- Chúng ta ghi thêm ngoài lề là ông Mostaguen không chết và trong vòng mười lăm hôm nữa sẽ khỏi.
- Chúng ta sang thảm kịch thứ hai: “Ngày hôm sau thứ Bảy, tôi đang ở trong quầy cà phê cùng với thanh tra Leroy. Chúng tôi đang dùng rượu khai vị với các ông Michoux, Le Pommeret và Jean Servières thì ông bác sĩ nghi ngờ, nhìn vào chiếc cốc của mình. Qua phân tích xét nghiêm chứng tỏ trong chai rượu Pernod có thuốc độc”. Người có khả năng thủ phạm trong việc này là: các ông Michoux, Le Pommeret, Servières, cô gái hầu phòng và người đã có thể lọt vào quầy cà phê ngày hôm ấy mà không ai trông thấy - và cuối cùng là kẻ lạ mặt mà chúng ta gọi là X.
Chúng ta lại tiếp tục: “Sáng ngày Chủ nhật, Jean Servières biến mất. Chiếc xe con của ông ấy đã được tìm thấy không xa nhà ông ấy, chiếc xe bị vấy máu. Ngay khi sự việc được phát hiện, toà báo Hải Đăng Brest nhận được một bản trường thuật về những sự cố, cố ý để gieo rắc sự hoảng sợ ở Concarneau”.
Thế mà người ta đã gặp ông ta đầu tiên ở Brest, sau đấy ở Paris, dường như
ông ta ẩn náu ở đấy và ở đấy dĩ nhiên đối với ông ta thú vị hơn. Chỉ có một kẻ phạm tội duy nhất: đó là Servières. “Cùng ngày chủ nhật ấy, ông Le Pommeret dùng rượu khai vị với người bác sĩ, rồi về nhà ăn bữa tối và chết sau những hậu quả của một vụ trúng độc bởi strychinine”.
Những người có khả năng phạm tội: nếu ông ấy bị đầu độc ở quầy cà phê thì thủ phạm có thể là người bác sĩ hoặc Emma và cuối cùng là tên X. Ở đây, quả nhiên tên du đãng được loại trừ vì gian phòng không một lúc nào vắng vẻ và không còn cái chai nào bị nhiễm độc mà chỉ có một cái cốc duy nhất thôi.
Nếu tội ác xảy ra trong nhà của Le Pommeret, thì những người có khả năng phạm tội là: người đàn bà cho ông ấy thuê nhà, tên du đãng và tên X.
“Ông đừng sốt ruột… Chúng ta đi đến cùng… Tối hôm ấy một nhân viên hải quan lãnh một viên đạn vào cẳng chân khi ông ta đi qua một đường vắng… người bác sĩ không rời khỏi nhà tù nơi anh ta bị giám sát chặt chẽ… Le Pommeret đã chết… Servières còn ở Paris trong tay của Tổng cục An ninh… Emma và tên du đãng ngay trong giờ ấy, dưới con mắt của tôi thì chúng đang bận… ăn một con gà…”
Vậy kẻ phạm tội duy nhất có thể là: tên X. Tức là tên mà chúng ta chưa gặp trong các sự kiện. Một kẻ có thể hoàn toàn chỉ mắc phải tội ác vừa rồi…
- Tên ấy, chúng ta chưa biết. Chúng ta chưa có nhận dạng của hắn. Chỉ có một chỉ dẫn độc nhất: đêm ấy hắn có nhiệm vụ phải gây ra một thảm kịch… Một lợi ích quan trọng. Vì phát súng không phải do một tên lang thang bắn ra. Bây giờ ông đừng đòi hỏi tôi bắt hắn… Vì ông thị trưởng ạ, ông sẽ đồng ý rằng mỗi người trong thành phố, nhất là tất cả những ai biết những nhân vật chính quần tụ trong câu chuyện này và đặc biệt là những ai năng lui tới quán cà phê Amiral đều có thể là tên X này… Kể cả ông nữa…
Những lời vừa rồi được nói ra bằng một giọng nhẹ nhàng khi mà Maigret ngồi ngửa ra trên chiếc ghế bành, duỗi hai chân đến tận những khúc củi.
Ông thị trưởng rùng mình.
- Tôi mong rằng đấy chỉ là một sự trả thù vặt…
Và đột nhiên Maigret đứng đậy, rảy cái tẩu vào lò lửa, vừa bước từng bước trong thư viện vừa nói:
- Cũng chẳng phải đâu! Ông muốn có những kết luận chứ? Thôi được, thì đây… Tôi chỉ đơn giản muốn bày tỏ với ông rằng một sự việc như việc này không phải là vấn đề đơn giản của cảnh sát mà người ta chỉ ngồi trong ghế bành để chỉ huy bằng những cú điện thoại. Và thưa ông thị trưởng, với tất cả lòng kính nể mà tôi có bổn phận, tôi xin nói thêm rằng khi tôi có trách nhiệm tiến hành một cuộc điều tra, trước hết tôi chống lại những gì mà người ta xoa dịu tôi!
Thế là Maigret đã buột miệng nói ra… điều đã nhiều ngày âm ỉ. Có lẽ để trấn tĩnh lại, ông uống một hớp whisky, nhìn ra cánh cửa như người đã nói xong những điều cần phải nói và chỉ còn chờ để xin phép ra về.
Người đối thoại với ông im lặng một lúc lâu ngắm tàn thuốc lá trắng trên điếu xì gà của mình, rồi để nó rơi vào trong một cái bát sứ màu xanh, xong từ từ đứng dậy, đưa mắt tìm cái nhìn của Maigret.
- Ông hãy nghe tôi nói, ông cảnh sát trưởng… - Ông phải cân nhắc từng lời bởi vì những lời nói của ông ngắt quãng bằng những dấu lặng. - Có thể tôi đã nhầm; trong cuộc giao tiếp ngắn ngủi của chúng ta, tôi đã tỏ ra thiếu nhẫn nại chăng…
- Điều ấy thật khá bất ngờ. Nhất là trong khung cảnh ấy, khi ông già có vẻ nhã nhặn hơn bao giờ hết, với bộ tóc bạc trắng, với chiếc áo vét-tông lót lụa, chiếc quần màu xám có đường ly thẳng cứng.
- Tôi bắt đầu đánh giá cao phẩm giá thích đáng của ông… Trong vài phút, nhờ sự tóm tắt đơn giản những sự việc, ông đã làm cho tôi sờ được ngón tay đến điều bí ẩn dễ sợ, thấy được tính phức tạp mà tôi không ngờ, là gốc rễ của sự việc lôi thôi này… Tôi thừa nhận rằng sự phớt lờ của ông đối với những gì liên quan đến tên đu đãng đã làm cho tôi khó chịu mà chống lại ông.
Ông thị trưởng đến gần Maigret. Đặt tay lên vai của ông.
- Tôi đề nghị ông đừng oán giận tôi về việc này… Tôi cũng vậy, tôi có những trách nhiệm nặng nề.
Ông thị trưởng không thể đoán được tình cảm của Maigret đang bận nhồi thuốc vào tẩu bằng những ngón tay chuối mắn. Túi đựng thuốc của Maigret đã sờn. Ánh mắt ông lướt qua một cái vũng trên phạm vi rộng của biển cả. Bất thình lình ông hỏi:
- Ánh sáng nào kia?
- Đấy là ánh đèn pha…
- Không! tôi nói về ánh sáng nhỏ ở bên phải cơ…
- Nhà của bác sĩ Michoux đấy mà…
- Bà ở đã trở về rồi à?
- Không! Đấy là bà Michoux, mẹ của bác sĩ đã về chiều nay…
- Ông đã gặp bà ấy rồi chứ?
Maigret nghĩ là mình cảm nhận thấy một sự ngượng nghịu nào đấy ở người chủ nhà.
- Nghĩa là bà ấy đã ngạc nhiên khi không thấy con trai của bà. Và đã đến hỏi thăm. Tôi đã báo cho bà ấy việc bắt giữ và giải thích rằng thực ra đấy là một biện pháp để bảo vệ. Bà ấy đã xin phép tôi đến nhà tù thăm… Ở khách sạn, người ta không biết ông như thế nào… Tôi đã tự quyết định cho phép đến thăm… Bà Michoux đã trở về trước bữa cơm tối một tí để có được những tin tức mới nhất. Chính bà vợ tôi đã tiếp đón và mời bà ấy ăn bữa tối.
- Hai bà là bạn của nhau?…
- Cứ cho là như vậy? Đúng hơn, họ là quan hệ xóm giềng tốt với nhau. Mùa đông có rất ít người ở Concarneau.
Maigret lại dạo bước trong thư viện.
- Vậy là cả ba người cùng ăn tối chứ?
- Phải, việc ấy thường như thế… Tôi đã làm cho bà Michoux yên lòng như tôi đã có thể. Bà Michoux rất xúc động với sự quan tâm của Viên đội trưởng. Bà ấy đã nuôi dạy con trai bà không tốt nên sức khỏe không được tốt.
- Không phải vấn đề của Le Pommeret và Jean Servières chứ?
- Bà ấy không bao giờ yêu mến Le Pommeret. Bà lên án anh ta đã lôi kéo con bà vào rượu chè, nhậu nhẹt. Sự việc là…
- Còn Servières?
- Bà ấy ít biết anh ta. Anh ta không thuộc hạng người như thế, một nhà báo bình thường, chỉ quan hệ ở quầy cà phê, cứ cho là như vậy, nhưng cũng là một chàng trai vui nhộn… Nhưng… nguời ta không thể chấp nhận vợ anh ta mà quá khứ không được tốt cho lắm… Đây là một thành phố nhỏ, ông cảnh sát trưởng ạ! Ông cần phải chấp nhận những sự cách biệt ấy. Chúng cắt nghĩa cho ông một phần tâm trạng của tôi. Ông không biết như thế nào là cai trị một cư dân làm nghề cá là phải tính đến tính nhạy cảm, hay tự ái của những người chủ và cuối cùng là của một giai cấp tư sản nhất định đã…
- Đến mấy giờ thì bà Michoux ở đây ra đi?
- Vào khoảng mười giờ. Vợ tôi tiễn bà bằng xe con.
- Ánh sáng kia chứng tỏ rằng bà Michoux chưa ngủ.
- Đấy là thói quen của bà ấy. Tôi cũng vậy! Đến một tuổi nào đấy, người ta không cần phải ngủ nhiều. Đêm khuya tôi vẫn còn ở đây để đọc sách hoặc liếc qua các hồ sơ.
- Công việc của gia đình Michoux đã khá khẩm lên chưa?
Sự ngượng nghịu, khó chịu mới lại vừa lộ ra.
- Chưa… Phải chờ cho khu Cát Trắng có giá đã. Do chỗ quan hệ của bà Michoux ở Paris thì chẳng mấy chốc… Nhiều lô đã bán được. Mùa xuân người ta mới bắt đầu xây dựng. Trong những chuyến đi bà đã gần như thuyết phục được một chủ ngân hàng mà tôi không thể cho ông biết tên được, để xây dựng một biệt thự lộng lẫy ở mỏm cao của bờ biển.
- Xin có một câu hỏi nữa thưa ông thị trưởng… Trước đây những khoảnh đất được phân lô thuộc về ai?
Người đang nói chuyện với ông không hề do dự.
- Thuộc về tôi đấy là một tài sản của gia đình, cũng như cái biệt thự này.
Trước kia ở đấy chỉ mọc đầy cây thạch thảo và cây kim tước chi, rồi gia đình họ
Michoux mới có ý nghĩ…
Lúc này, ánh sáng ở xa đã tắt.
- Làm một ly Whisky nữa, ông cảnh sát trưởng… Dĩ nhiên tôi sẽ lái xe của tôi đưa ông về.
- Ông thật quá chu đáo. Tôi thích cuốc bộ hơn, nhất là khi tôi đang cần phải suy nghĩ.
- Ông nghĩ như thế nào về câu chuyện con chó vàng kia? Tôi cho rằng đấy có thể là điều đánh lạc hướng tôi nhiều nhất. Cái ấy và rượu Pernod bị bỏ thuốc độc. Vì chung quy thì…
Nhưng Maigret đã tìm mũ và áo măng-tô. Ông thị trưởng chỉ biết nhấn nút chuông điện.
- Delphin! Áo của ông cảnh sát trưởng!
Im lặng đến nỗi người ta chỉ nghe được tiếng trầm đục ngắt quãng của sóng dồi trên đá dùng làm móng cho biệt thự.
- Ông không muốn đi xe của tôi thật chứ?
- Vâng
- Tôi tự hỏi ngày mai tình trạng tinh thần của dân chúng sẽ ra sao? Nếu biển lặng, ít ra là chúng ta sẽ có rất ít những người đánh cá ở lại trong phố, vì họ còn tranh thủ để đi đặt những chiếc lờ của họ.
Maigret nhận chiếc áo măng-tô trong tay của người hầu, chìa bàn tay to bè của ông ra. Ông thị trưởng còn có những câu hỏi đặt ra, nhưng ông dè dặt vì lý do là có mặt của người đầy tớ.
- Ông nghĩ cần phải có bao nhiêu thời gian để …
Đồng hồ đã điểm một giờ sáng.
- Tối nay, tôi mong rằng tất cả sẽ kết thúc.
- Nhanh thế à? Mặc dù điều ông đã nói với tôi hồi nãy?… Trong trường hợp này, ông tính sao về Goyard?… trừ phi…
Đã quá muộn. Maigret bước vào trong cầu thang. Ông thị trưởng tìm một câu cuối cùng để nói. Ông không nghĩ được gì đề thể hiện tình cảm của mình.
- Tôi lấy làm ái ngại để cho ông phải đi bộ về nhà bằng những con đường ấy…
Cánh cửa khép lại. Maigret đã ở trên đường, dưới bầu trời đẹp với những làn mây dày trôi nhanh trước mặt trăng. Không trung rực rỡ. Gió từ ngoài khơi thổi vào thơm mùi tảo giạt mà người ta đoán đã có những đống lớn trên bãi cát.
Người cảnh sát trưởng bước đi chậm rãi, hai tay thọc vào túi, chiếc tẩu ngậm giữa hai hàm răng. Ông ngoảnh mặt lại. Ánh đèn đã tắt trong thư viện, rồi những ánh sáng khác đã thắp lên ở lấu hai mà những tấm màn che đã lám cho chúng mờ đi.
Ông không qua thành phố mà đi dọc theo bờ biển như người nhân viên hải quan đã đi, dừng lại một lát ở góc nơi người đàn ông bị thương. Tất cả đều yên tĩnh. Từng quãng lại có một cột đèn. Concarneau đã ngủ.
Khi ông đến trên bãi rộng chợ, ông thấy những lỗ cửa của quầy cà phê còn sáng đèn và chúng khuấy động sự yên bình của đêm khuya từ quầng sáng độc hại của chúng.
Ông đẩy cửa. Một nhà báo đang đọc vào máy điện thoại: “… Người ta không còn biết nghi ngờ ai. Nhiều người trên đường phố nhìn nhau kinh hoàng. Có thể người này là tên giết người? Có thể người kia? Chưa bao giờ bầu không khí bí ẩn và sợ hãi lại dày đặc đến thế…”
Người chủ khách sạn buồn rầu đứng bên cái két. Khi nhìn thấy người cảnh sát trưởng, ông định nói. Người ta đoán trước những lời tố cáo của ông.
Quầy cà phê bừa bãi. Có những tờ báo trên tất cả các bàn; những ly, cốc không, và một người nhiếp ảnh đang bận rộn sấy những ảnh in thử trên lò sưởi?
Thanh tra Leroy bước đến gần cấp trên của mình. Anh vừa nói thầm vừa chỉ một người đàn bà béo tròn đang rủ xuống trên chiếc ghế dài.
- Bà Goyard đấy.
Bà đứng dậy dụi mắt.
- Kìa, ông cảnh sát trưởng! Có đúng thế không? Tôi không còn biết tin ai. Có vẻ như Jean còn sống chứ? Nhưng không thể như thế được, có phải không?… Làm gì đến nỗi phải chơi cái trò hề này! Anh ấy đáng lẽ không nên làm điều đó với tôi! Không để cho tôi phải lo âu như thế! Hình như tôi điên lên mất rồi Anh ấy đến Paris để làm gì cơ chứ?… Ông nói đi!. Và không có tôi!
Bà khóc. Bà khóc như một số người đàn bà biết khóc; những giọt nước mắt lăn trên má. Bà dùng tay ép lên ngực đầy thịt. Rồi bà sịt mũi. Bà tìm khăn tay.
Bà lại muốn nói thêm:
- Tôi thề với ông rằng như thế là không thể được! Tôi biết rõ anh ấy là một con người hơi lăng nhăng chim chuột. Nhưng đáng lẽ anh ấy không nên làm như vậy! Khi nào về anh ấy sẽ xin lổi tôi. Ông có hiểu không? Họ nói… - Bà chỉ các nhà báo - Họ nói rằng chính anh ấy đã bôi những vết máu trong xe, để cho người ,ta tin đấy là vụ ám sát. Nhưng như vậy là chính anh ấy không có ý định trở về. Tôi biết, ông nghe đây, tôi chắc rằng anh ấy sẽ trở về!… Anh ấy sẽ không bao giờ chơi bời, rượu chè trác táng nếu những người khác không lôi kéo anh ấy. Ông Le Pommeret, ông bác sĩ. Và ông thị trưởng, và tất cả, họ cũng không chào hỏi tôi ngay trên đường phố vì rằng tôi đã có nhiều chuyện về họ! Người ta nói cho tôi biết anh ấy đã bị bắt. Tôi không tin điều ấy. Anh ấy đã làm điều gì xấu đâu? Anh ấy đã kiếm được khá, đảm bảo cho cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi sung sướng mặc dù những chầu nhậu nhẹt đôi khi do anh ấy bỏ tiền ra bao đãi.
Maigret nhìn bà, thở dài, nhấc một chiếc ly trên bàn, uống cạn một hơi rồi thầm thì:
- Bà thứ lổi cho, thưa bà… Tôi phải đi ngủ.
- Ông cũng vậy à, ông tin là anh ấy phạm tội, ở chỗ nào?
- Tôi không bao giờ tin gì cả. Bà hãy làm như tôi, thưa bà. Ngày mai, còn rộng ngày cơ mà.
Rồi ông leo lên cầu thang bằng những bước chân nặng nề, trong khi ấy, anh nhà báo không rời máy điện thoại, tranh thủ đọc nốt câu cuối cùng: “Tin cuối cùng, ấy là ngày mai, cảnh sát trưởng Maigret định làm sáng tỏ hẳn điều bí ẩn…”
Anh nói thêm bằng giọng khác:
- Thế là hết, cô ạ. Nhất thiết cô hãy nói với ông chủ đừng thay đổi một dòng nào ở bài báo của tôi… Ông ấy không thể hiểu… Cần phải có mặt tại những nơi…
Khi đã treo lại ống nghe, anh vừa bỏ tập giấy bút vào vừa gọi:
- Cho một ly gơ-rốc, ông chủ… Cho nhiều rum vào và ít nước nóng thôi.
Lúc này bà Goyard nhận lời đề nghị của một phóng viên tiễn bà về. Và trong khi đi đường bà bắt đầu nói chuyện riêng của bà:
- Trừ việc anh ấy có chút hơi lăng nhăng… Nhưng anh hiểu cho, anh ạ. Tất cả mọi người đàn ông đều thế cả!
Maigret đang trong tâm trạng vui vẻ nên ngày hôm sau trong khi thanh tra Leroy đi theo ông, anh mới dám mạnh dạn gợi chuyện. Anh đã đặt ra nhiều câu hỏi.
Kể ra không phải không có lý khi người ta nói vì sao sự nghỉ ngơi thư giãn lại có thể đem lại trạng thái vui vẻ. Điều ấy có lẽ cũng do thời tiết bất ngờ đẹp lên. không trung dường như được lau chùi sạch sẽ. Bầu trời lồng lộng một màu xanh phơn phớt, nhưng rung rinh, lấp lánh những làn mây nhẹ. Thực ra, chân trời mở ra rộng hơn như thể người ta đã đào hõm thêm vào cái chỏm trời hình bán cầu. Biển hoàn toàn phẳng lặng, lấp lánh, được cắm những cánh buồm nhỏ giống như những ngọn cờ đính.
Chỉ cần có một tia nắng mặt trời để làm biến đổi Concarneau, vì khi ấy những bức thành của thành phố cổ thảm thê, ảm đạm dưới mưa sẽ lấy lại màu trắng chói chang, rực rỡ.
Các nhà báo sau ba ngày qua bận rộn, chạy đi chảy lại mệt nhừ, bây giờ ngồi nhấm nháp tách cà phê và cùng nhau chuyện trò vui vẻ. Một trong số họ mặc quần áo ngủ, chân xỏ dép đi trong nhà, bước xuống.
Maigret bước vào phòng của Emma, đúng hơn là vào một kiểu tầng hầm có cửa sổ rất hẹp mở ra đường hẻm, còn trần thì dốc nghiêng, chỉ có ở giữa phòng mới có thể đứng thẳng người được. Cửa sổ vẫn mở. Không khí mát lạnh, nhưng ở đấy người ta cảm thấy được sự vuốt ve mơn trớn của mặt trời. Một người đàn bà lợi dụng ánh nắng để phơi quần áo lên cửa sổ ở phía bên kia ngõ hẻm. Trong một khoảnh sân của trường tiểu học, lên tiếng ồn ào của giờ ra chơi.
Và Leroy ngồi trên mép của chiếc giường nhỏ bằng sắt nhận xét:
- Tôi chưa hoàn toàn hiểu hết những phương pháp của ông, ông cảnh sát trưởng ạ, nhưng tôi tin rằng tôi đã bắt đầu đoán được…
Maigret nhìn anh bằng đôi mắt cười cợt, phả vào trong nắng một ngụm khói lớn.
- Anh gặp may đấy, anh bạn thân mến ạ! Nhất là đối với những gì liên quan đến việc này, trong ấy chẳng có phương pháp gì của tôi đâu… Nếu anh muốn có một lời khuyên tốt, nếu anh nắm chắc được tiến trình, thì nhất thiết anh đừng lấy theo khuôn mẫu của tôi, mà cũng đừng cố để rút ra những lý thuyết của những việc anh thấy tôi làm…
- Thế mà bây giờ tôi nhận thấy ông đang đạt tới những chỉ tiêu cụ thể, sau khi…
- Đúng, sau đấy! Sau hết! Nói cách khác tôi điều tra ngược lại những gì có thể không cản trở tôi tiến hành cuộc điều tra sắp tới ở nơi… Vấn đề là không khí. Vấn đề là những cái đầu. Khi tôi đến đây, tôi đã đụng phải một cái đầu mua chuộc tôi nhưng tôi đã không chịu thả lỏng cuộc điều tra này.
Nhưng ông không nói cái đầu ấy là của ai. Ông vén một tấm ga trải giường cũ che một cái giá treo áo. Trên giá có một bộ quần áo Bretague bằng nhung đen mà có lẽ Emma dành cho những ngày lễ.
Trên bàn trang điểm, có một chiếc lược đã gãy nhiều răng, những chiếc kẹp tóc và một hộp bột phấn hồng. Trong ngăn kéo, ông đã thấy được cái mà có lẽ ông muốn tìm: một chiếc hộp khảm trai óng ánh mà người ta thường bán trong tất cả các cửa hàng tạp hoá ven biển. Chiếc hộp có thể đã được mười năm và nó đã chu du khắp nơi có mà Trời biết bằng con đường nào, được ghi những chữ:
"Kỷ niệm ở Ostende".
Từ trong đấy, bốc ra một mùi của bìa các-tông cũ, của bụi bặm, của chất thơm và của giấy đã vàng khè. Maigret ngồi ở mép giường gần người bạn đồng nghiệp, kiểm kê những vật nhỏ bé bằng những ngón tay dùi đục của mình.
Có một dây tràng hạt băng những viên thuỷ tinh xanh hình khối lục lăng xâu bằng sợi dây mảnh bằng bạc, một ảnh tượng trong lễ ban thánh thể đầu tiên, một lọ nước hoa đã dùng hết, có lẽ Emma giữ lại chỉ vì hình dáng của nó rất đẹp và có thể cô đã thấy nó trong phòng của một bà thuê nhà…
Một bông hoa bằng giấy, kỷ niệm của một buổi khiêu vũ hay một ngày lễ còn giữ được màu sắc đỏ tươi.
Bên cạnh, một cây thánh giá nhỏ bằng vàng là vật độc nhất ít nhiều có giá trị.
Trong đống bưu ảnh có một cái in hình một khách sạn lớn ở Cannes. Mặt sau có chữ viết của một người đàn bà:
“Tốt nhất nà cô tến tây hơn nà cô ở nại trong cái nỗ bẩn thỉu của cô mà thời gian lào cũng có mưa. Chúng ta sẽ kiếm ra tiền. Chúng ta muốn ăn gì tuỳ thích, Tôi ôm hôn cô. - Louise”
Maigret đưa tấm bưu thiếp cho viên tranh tra, rồi chăm chú nhìn một trong những bức ảnh của hội chợ mà người ta có được khi thi bắn bia trúng hồng tâm.
Qua việc tì khẩu súng các bin lên vai, người ta thấy người đàn ông nheo một bên mắt. Hắn có một khổ vai rộng, đội chiếc mũ lưỡi trai. Còn Emma thì mỉm cười nhìn về phía mục tiêu, công khai cầm lấy cánh tay hắn. Dưới tấm bưu ảnh, có ghi: “Quimper”.
Một bức thư bằng giấy nhàu nát, có lẽ cô đã đọc đi đọc lại nhiều lần:
“Em yêu quý. "Đã ước là được: anh đã có một con tàu rồi. Tên của nó sẽ là: Emma - xinh đẹ" . Cha xứ Quimper đã hứa với anh là làm lễ đặt tên cho nó vào tuần tới với nước thánh, những hạt lúa mì, muối và tất cả,và có cả sâm banh, vì anh muốn đấy là một cái lễ mà người ta nói đến mãi ở trong xứ. Điều ấy lúc đầu sẽ hơi gay go là phải trả tiền bởi anh phải rót vào nhà băng mười lnghìn phơ răng một năm. Nhưng anh có ý định là phải chở đến một trăm cái nhào nhựa đường hình vuông bằng vải và bện cho nó mười cái nơ. Gần như chắc chắn trúng quả lớn khi chở hành tây đến nước Anh. Điều ấy nói cho em biết là chúng ta cần nhanh chóng cưới nhau. Anh đã tìm, được cách để chở chuyến hàng đầu tiên nhưng người ta đã lừa anh vì anh là người mới. Bà chủ của em rất có thể nghĩ rằng em có hai ngày nghĩ cho lễ đặt tên bởi vì mọi người sẽ say sưa và em không thể trở về Concarneau. Anh đã phải, trả tiền những chầu đãi trong các tiệm cà phê vì lý do là con tàu đã ở trong cảng và nó có một lá cờ rất mới. "Anh sẽ chụp ảnh và gửi cho em. Anh ôm hôn em vì anh rất yêu em trong khi chờ đợi em là vợ yêu quý của anh. - Léon ***
Maigret bỏ lá thư vào trong túi, mơ màng nhìn số quần áo phơi ở phía bên kia ngõ cụt. Không còn gì nữa trong cái hộp khảm vỏ trai ngoại trừ một chiếc quản bút bằng xương cắt gọt đã tìm được trong một cái lăng trụ bằng thuỷ tinh, biểu trưng hầm mộ của Nhà thờ Đức bà ở Lourdes.
Người cảnh sát trưởng hỏi:
- Có ai trong căn phòng mà thường ngày tay bác sĩ chiếm giữ không?
- Tôi không nghĩ đến điều này. Các nhà báo đều ở trên lầu hai.
Ông cảnh sát trưởng còn tiếp tục lục tìm trong phòng lần nữa để khỏi áy náy nhưng chẳng thấy gì lý thú. Lát sau ông đã ở lầu một, đẩy cửa phòng số 3 là phòng có bao lơn nhô ra phía cảng và vũng tàu.
Chiếc giường gọn gàng, sàn đánh xi. Có những chiếc khăn sạch trên giá.
Viên thanh tra đưa mắt nhìn cấp trên của mình với một sự tò mò và hoài nghi. Trái lại, Maigret vừa huýt sáo vừa nhìn xung quanh, thấy một chiếc bàn con bằng gỗ sồi đặt trước cửa sổ, trên đấy có tấm lót tay và cái gạt tàn. Trên cái lót tay giấy trắng trên đầu in tiêu đề của khách sạn, và có một chiếc phong bì xanh cũng có dòng chữ như thế. Nhưng ở đấy cũng có hai tờ giấy thấm lớn, một tờ hầu như đen ngầu mực, tờ kia hơi lốm đốm chữ không rỏ.
- Anh bạn thân mến, hãy tìm cho tôi một cái gương soi.
- Cái lớn chứ?
- Sao cũng được! Một chiếc gương để tôi đặt lên bàn.
Khi viên thanh tra trở lại đã thấy Maigret đứng trên bao lơn, các ngón tay luồn qua vai áo gi-lê, đang hút tẩu thuốc lá có vẻ rất khoái chí.
- Cái này, được chứ?…
Cánh cửa sổ đóng lại. Maigret đặt đứng chiếc gương trên bàn và nhờ có hai cây nến nhặt được trên lò sưởi, ông dựng tờ giấy thấm trước mặt. Những chữ cái phản chiếu vào trong gương không phải là dễ đọc.
Những chữ, những từ bị thiếu, không nguyên vẹn, phải đoán mới biết được.
- Tôi hiểu rồi Leroy nói với một vẻ tinh ranh.
- Tốt! Vậy anh đến đề nghị với ông chủ mượn một cuốn sổ tay ghi chép của Emma hay bất cứ cái gì mà trên đấy có chữ của cô ấy…
Ông sao lại các từ bằng bút chì lên một tờ giấy… gặp anh… giờ… không có người ở… tuyệt đối…
Khi viên thanh tra trở lại, ông cảnh sát trưởng đã phỏng chừng điền hết vào những chỗ để trống, khôi phục bản viết sau:
“Em cần gặp anh. Ngày mai anh đến lúc mười một giờ trong ngôi nhà không có người ở nằm trên bãi chợ, hơi xa khách sạn. Em tuyệt đối tin tưởng vào anh. Anh chỉ cần gõ cửa em khắc mở cho anh”.
- Đây là cuốn sổ tay của chị thợ giặt mà Emma ghi cập nhật - Leroy nói.
- Tôi không cần đến nó nữa. Lá thư đã ký tên. Anh xem đây… mma - Nói cách khác là Emma. Và lá thư đã viết ra trong phòng này?
- Cô hầu phòng đã gặp lại người bác sĩ ở đâu? - Viên thanh tra hốt hoảng.
Maigret hiểu được sự ghê tởm của anh phải thừa nhận giả thiết này, nhất là sau khi chứng kiến tấn tuồng của đêm hôm trước.
- Trong trường hợp này thì chính cô ấy đã… ?
- Thong thả! Thong thả thôi, chú bé! Đừng kết luận vội vàng.Và nhất là đừng suy diễn!… Mấy giờ thì chuyến tàu đến, có lẽ sẽ đem Jean Goyard về cho chúng ta?
- Mười một giờ ba hai phút…
- Đấy là điều anh sẽ làm, anh bạn thân mến! Trước tiên anh nói với hai đồng nghiệp đi kèm theo hắn, dẫn anh chàng đến sở mật thám cho tôi. Vậy là đến giữa trưa hắn sẽ đến đấy. Anh sẽ gọi điện thoại cho ông thị trưởng rằng tôi sẽ sung sướng được gặp ông ấy cùng giờ và cùng địa điểm ấy! Hãy chờ tí đã… Cũng với lời truyền đạt như vậy. Và anh nhớ gọi điện thoại cho bà Michoux. Cuối cùng, có khả năng lát nữa các nhân viên cảnh sát hoặc lính mật vụ sẽ dẫn Emma và gả người yêu của ả đến cho anh… Cùng nơi, cùng giờ! Tôi có sót ai không nhỉ?… Tốt! Còn một điều cần dặn thêm, không hỏi gì Emma khi không có tôi. Hãy ngăn cô ta lại, không để cho cô ta nói.
- Người nhân viên hải quan thì sao?
- Tôi không cần đến ông ta.
- Ông Mostaguen…
- Ờ! Không! Thế thôi.
Trong quầy cà phê, Maigret gọi một ly rượu địa phương, rồi nhấm nháp với vẻ khoái trá. Ông nói với các nhà báo:
- Việc xong rồi đấy, các ông ạ! Tối nay các ông có thể đi Paris.
------
Cuộc đi dạo qua các đường phố ngoắt ngoéo của thành phố cổ làm tăng thêm tâm trạng vui vẻ của ông. Và, khi đến trước cổng của sở mật thám, trên cao có lá cờ rực rỡ của nước Pháp, ông nhận thấy rằng do sự thần diệu của mặt trời, của ba màu sắc, của bức tường tràn trề ánh sáng, bầu không khí đã rộn lên sự hoan hỉ của ngày quốc khánh.
Một người lính già ngồi trên một chiếc ghế tựa ở phía trên cửa ngầm đang đọc một tờ báo vui. Mảnh sân với tất cả những viên gạch lát nhỏ, cách biệt nhau bởi những đường chỉ bằng rêu xanh; nó có vẻ vắng lặng của một tu viện.
- Ông đội trưởng đâu?
- Tất cả đã lên đường rồi, ông đội phó, ông đội trưởng như ông biết đấy, tất tật những người đàn ông đang truy lùng tên du đãng…
- Người bác sĩ không động đậy gì à?
Người đàn ông mỉm cười nhìn tấm cửa sổ có lưới sắt của nhà giam.
- Chẳng thấy có gì là nguy hiểm cả!
- Ông mở cửa ra cho tôi, đồng ý chứ?
Thế là khi những chốt cửa được kéo ra, ông thốt lên thân mật, vui vẻ:
- Chào bác sĩ!… Ông ngủ được chứ, ít ra là như thế?
Nhưng ông chỉ nhìn thấy một khuôn mặt xanh xao như lưỡi dao trên chiếc giường dã chiến, nhô lên một tấm chăn màu tro. Đôi đồng tử có vẻ vì lo lắng mà lỏm sâu vào hai hố mắt.
- Sao thế? Không được khỏe à?
- Rất đau - Michoux nói và ngồi dậy trên giường kèm theo cái thở dài - Đấy là quả thận của tôi, nó…
- Tôi mong người ta cấp cho anh những cái anh cần, được không?
- Được, ông thật là tử tế.
Michoux mặc nguyên cả quần áo ngoài để ngủ. Anh để thò hai cẳng chân ra ngoài chăn, ngồi dậy, đưa tay lên trán. Còn Maigret ngay lúc ấy cưỡi ngựa trên chiếc ghế tựa, hai tay đặt trên lưng tựa, thái độ phấn chấn.
- Anh nói xem? Tôi thấy anh đã gọi rượu buốc-gôn rồi đấy.
- Đấy là hôm qua mẹ tôi đem đến cho tôi. Tôi đã muốn tránh cuộc thăm này biết chừng nào. Ở Paris mẹ tôi chắc đã phong thanh nghe được chuyện gì…Bà đã trở về.
Đường viền quanh mi mắt làm sệ phần nửa má không cạo, làm cho chúng như hõm sâu hơn. Và sự vắng thiếu của chiếc cà vạt, cũng như bộ comple nhăn nheo mà anh đang mặc càng làm tăng thêm ấn tượng khốn quẫn toả ra từ con người ấy. Anh ngừng lại, hung hắng ho. Anh công khai khạc vào chiếc khăn tay và nhìn vào đấy như một người sợ ho lao và giử ý tứ một cách lo âu:
- Ông có gì mới không? - Anh hỏi với một thái độ chán nản.
- Viên mật thám chắc đã nói cho anh biết thảm kịch của tối hôm qua rồi chứ?
- Chưa. Chuyện gì thế? Ai đã bị?
Anh nép mình vào tường như chính anh sợ bị tấn công.
- Quái thật! Một người qua đường bị dính đạn ở cẳng chân.
- Và người ta bắt được tên…tên giết người chứ? Tôi mệt mỏi quá rồi, ông cảnh sát trưởng ạ. Ông có thừa nhận rằng, cứ như vậy người ta sẽ điên hết. Lại là một người khách của quầy cà phê Amiral phải không?… Chính chúng tôi mà người ta nhắm vào. Tôi đã bóp trán suy nghĩ, tại sao mà không nghĩ ra. Đúng, tại sao? Mostaguen, Le Pommeret, Goyard. Và thuốc độc đã giành cho tất cả chúng tôi… Ông sẽ thấy đấy, chung quy rồi chúng cũng nhằm vào tôi thôi!… Nhưng, tại sao, ông nói đi nào?
Anh không còn xanh xao nữa, mà đã trở nên tím nhợt. Và anh làm ra vẻ đau nặng, hoảng hốt; trông anh càng thảm hại, đáng thương hơn.
- Tôi không dám ngủ. Cái cửa sổ kia, ông xem, có những thanh sắt nhưng có thể kéo ngang ra được…Ban đêm, người lính gác có thể ngủ quên, hay lại nghĩ ngợi đâu đâu. Tôi không phải sinh ra để có cuộc sống như thế. Hôm qua, tôi đã uống hết cả chai này để may ra có thể ngủ được nhưng vẫn không hề nhắm được mắt. Tôi đã ốm! Nếu ít ra người ta hạ được tên du côn ấy cùng với con chó vàng của hắn… Có phải người ta đã thấy nó rồi không, con chó ấy mà. Nó vẫn quanh quẫn ở quầy cà phê chứ? Tôi không hiểu sao người ta không cho nó và chủ của nó một viên đạn.
- Chủ của nó đã rời khỏi Concarneau đêm hôm qua rồi.
- Chà!
Người bác sĩ dường như khó tin điều ấy.
- Ngay sau… sau khi nó gây ra tội ác mới chứ?
- Trước đấy cơ!
- Nhưng thế nào? Không thể như thế được! Cần phải tin rằng…
- Đúng là như vậy đấy. Tôi đã nói điều ấy cho ông thị trưởng, đêm qua. Một ông lão thật kỳ cục, giữa chúng tôi, ông thị trưởng là… Anh, nghĩ như thế nào về điều này?
- Tôi à? Tôi không biết… Tôi…
- À mà, ông ấy đã bán cho anh những miếng đất trong lô… Anh hợp với ông ấy. Anh và ông ấy có lẽ như người ta gọi là bạn bè với nhau.
- Chúng tôi có những quan hệ công việc với nhau và là xóm giềng tốt của nhau… ở nông thôn…
Maigret nhận thấy lời nói đã rắn rỏi, tự tin hơn và cái nhìn của người bác sĩ cũng kém mơ hồ hơn.
- Ông đã nói gì với ông ấy?
Maigret rút cuốn sổ tay trong túi ra.
- Tôi đã nói với ông ấy rằng hàng loạt tội ác hay mưu toan giết người không thể xảy ra lại không có dính dáng đến một người nào trong số những người hiện nay chúng tôi quen biết. Tôi sẽ không kể lại từng thảm kịch một. Tôi tóm tắt, nói một cách khách quan đấy, về phương diện của người chuyên môn đấy! Mà này, chắc chắn là đêm hôm qua, anh không thể nào bắn vào người nhân viên hải quan được, điều ấy đã đủ để đặt anh ra bên ngoài vòng truy tố… Le Pommeret cũng không thể bắn vì người ta sẽ chôn cất ông ấy vào sáng mai. Cũng không phải là Goyard; người ta vừa mới gặp anh ấy ở Paris! Người này cũng như người kia trong số ấy không thể có mặt trong đêm thứ Sáu vừa rồi ở sau thùng thư của ngôi nhà không người ở. Emma cũng không phải…
- Nhưng tên du đãng và con chó vàng thì sao?
- Tôi đã nghĩ đến điều ấy! Không những không phải hắn đã đầu độc Le Pommeret, mà đêm hôm ấy hắn ở xa nơi đã xảy ra thảm kịch khi ông Pommeret đã… Vì vậy mà tôi đã nói với ông thị trưởng về một người lạ mặt, một tên X bí ẩn có thể đã phạm tội vào những tội ác ấy! ít ra là…
- Ít ra là thế nào?
- Ít ra vấn đề không phải là một loạt!… Đáng lẽ là một kiểu tấn công của một bên thì anh lại cho rằng có một cuộc chiến thực sự giữa hai nhóm người hay giữa hai cá thể…
- Nhưng rồi sao, ông cảnh sát trưởng, tôi sẽ như thế nào đây? Nếu có những kẻ thù lạ mặt lảng vảng… tôi…
Và khuôn mặt của anh lại mờ đi. Anh đưa hai tay lên ôm đầu.
- Khi tôi nghĩ rằng tôi ốm, thì các thầy thuốc khuyên bảo tôi càng phải triệt để yên tĩnh. Ôi! Không cần phải có một viên đạn, cũng không cần phải có thuốc độc, để tôi mới… Ông sẽ thấy rằng quả thận của tôi nó sẽ là sự cần thiết.
- Anh nghĩ gì về ông thị trưởng?
- Tôi không biết! Tôi không biết gì cả. Ông ấy thuộc một gia đình rất giàu có… Khi trẻ, ông ấy đã sống một cuộc sống phóng túng ở Paris. Ông ấy có chuồng ngựa đua. Rồi ông có cuộc sống ổn định hơn. Ông đã bảo toàn được cơ nghiệp của mình và đã đến cư ngụ ở đây, trong ngôi nhà ông nội của người cũng từng là thị trưởng của Concarneau. Ông đã bán cho tôi số đất của ông không dùng đến. Tôi nghĩ rằng ông muốn được bổ nhiệm là Tổng uỷ viên hội đồng để cuối cùng vào Thượng viện.
Người bác sĩ đã đứng lên, anh ta đã gầy bớt đi đến mười kilo. Anh khóc.
Không lấy gì làm lạ khi anh có vẻ căng thẳng, bực dọc.
- Ông muốn hiểu như thế nào. Và cái anh chàng Goyard ấy đang ở Paris khi người ta nghĩ rằng… Anh ấy có thể làm gì được ở đấy. Và tại sao?
- Chúng ta sẽ nhanh chóng biết việc ấy vì anh ta sắp đến Concarneau rồi. Dù sao anh ta phải đến vào giờ mà anh ta phải…
- Người ta đã bắt anh ấy?
- Người ta đã yêu cầu anh ta đi theo hai người đàn ông đến tận đây. Sự việc không hẳn là thế…
- Anh ấy đã nói gì?
- Không gì cả! Đúng ra là người ta không hỏi gì anh ta cả!
Thế là, bỗng nhiên viên bác sĩ nhìn trực diện người cảnh sát trưởng. Chỉ chốc lát máu đã dồn lên gò má.
- Điều ấy có nghĩa là thế nào? Tôi có cảm giác là ai đấy đã phát điên mất rồi!
Ông vừa nói với tôi về ông thị trưởng, về Goyard. Và ông nghe đây, tôi cảm thấy rằng sắp tới tôi sẽ bị giết chết. Mặc dù những tranh cãi kia sẽ không cản trở được gì cả. Mặc dù có anh lính to lớn, ngu đần kia đứng gác trong sân. Nhưng tôi không muốn chết. Tôi không muốn. Mong sao, ít ra là người ta cho tôi một khẩu súng ngắn để tôi tự vệ. Hay là người ta nhốt hết những kẻ muốn ám sát tôi, những kẻ đã giết Le Pommeret, bỏ thuốc độc vào chai…
Anh run rẩy từ chân đến đầu.
- Tôi không phải là một anh hùng! Nghề nghiệp của tôi không phải là bất chấp cái chết. Tôi là một con người, một người ốm đau bệnh hoạn. Và tôi có bản lĩnh; để sống được, phải đấu tranh chống lại bệnh tật. Ông hãy nói đi! Ông nói đi!… Nhưng ông làm gì nào?
Anh nổi khùng, đập trán vào tường.
- Tất cả cái này giống như một sự đồng mưu. Ít ra, người ta muốn làm cho tôi phát điên. Đúng! Người ta muốn giam giữ tôi. Ai mà biết được. Phải chăng mẹ tôi đã chán ngấy rồi? Vì tôi vẫn bo bo giữ cái phần tài sản thuộc về tôi trong của thừa kế của cha tôi. Nhưng tôi không để cho ai làm gì thì làm.
Maigret không động đậy. Ông vẫn ở đấy, chính giữa phòng giam trắng toát, trong đấy một bức tường tràn ngập nắng, hai khuỷu tay đặt trên lưng tựa của chiếc ghế, cái tẩu vẫn ngậm giữa hai hàm răng.
Người bác sĩ đi đi lại lại, bị giày vò bởi sự bồn chồn gần như điên loạn.
Nhưng, bỗng nhiên có tiếng nói vui nhộn trong phòng gần như mỉa mai và ngân nga của trẻ con. Cúc cu!
Ernest Michoux giật mạnh nhìn khắp tứ phía trong phòng giam trước khi nhìn thẳng vào Maigret. Bây giờ anh mới trông thấy khuôn mặt của viên cảnh sát trưởng đã rút cái tẩu ra khỏi liệng đang liếc mắt đùa giỡn với anh. Có cái gì như một tiếng cạch. Michoux đứng bất động, nhũn ra, đờ đẫn, có vẻ như muốn tan ra cho đến khi trở thành một hình bóng phi thực, chóng bị xoá nhoà.
- Chính ông đã…
Tiếng nói giống như từ đâu vọng đến, trên trần nhà dội xuống, hay từ trong một chiếc lọ sứ bật ra. Đôi mắt của Maigret vẫn cười cợt trong khi ông đứng dậy và nói bằng một sự nghiêm trang khích lệ tương phản với sắc thái, diện mạo của ông.
- Bình tĩnh lại đi, bác sĩ. Tôi nghe những bước chân ngoài sân. Trong vài khắc nữa kẻ giết người, chắc chắn sẽ ở giữa bốn bức tường này.
Người lính mật thám đã hướng dẫn ông thị trưởng vào đầu tiên. Nhưng còn nhiều tiếng ồn khác còn ở ngoài sân.
- Ông yêu cầu tôi đến đây phải không, ông cảnh sát trưởng?
Maigret chưa kịp trả lời đã trông thấy hai viên thanh tra kèm hai bên Jean Goyard đang bước vào trong sân, trong khi ấy còn nghe trên đường phố, hai bên cửa ngầm tiếng ồn ào của một đám đông nhộn nhịp kéo đến.
Nhà báo có vẻ nhỏ người hơn, béo tròn hơn giữa những người lính bảo vệ.
Anh ta kéo sụp chiếc mũ mềm xuống sát hai mắt. Có lẽ vì sợ những người chụp ảnh nên anh cũng che một chiếc khăn tay dưới khuôn mặt.
- Đi phía này - Maigret nói với các thanh tra viên - Có lẽ các anh đi tìm cho chúng tôi mấy chiếc chế tựa vì tôi nghe có giọng đàn bà.
Một tiếng nói giọng kim cất lên:
- Ông ấy đâu? Tôi muốn gặp ông ấy ngay bây giờ. Rồi tôi sẽ làm cho anh mất chức, anh thanh tra này… Anh nghe không? Tôi sẽ làm anh mất chức.
Đấy là bà Michoux, áo màu hoa cà với tất cả đồ nữ trang, phấn sáp và má hồng môi son. Bà thở hổn hển, phẫn nộ nói lên những lời ấy.
- Ồ! Ông ở đây à, ông bạn thân mến. Bà làm duyên trước ông thị trưởng -
Người ta tưởng tượng ra một câu chuyện như thế ư? Cái anh vớ vẩn này đến nhà tôi ngay khi tôi chưa mặc áo xống gì cả. Bà đầy tớ của tôi thì còn nghỉ phép. Tôi nói với anh ta qua cánh cổng rằng tôi không thể tiếp anh được mà anh ta cố nài, hạch sách: Anh ấy chờ trong khi tôi rửa ráy và khẳng định rằng anh ấy có lệnh dẫn tôi đến đây. Thật lạ lùng quá thể. Khi tôi nghĩ rằng chồng tôi trước đây được tiến cử, hầu như là chủ tịch của Hội đồng thì cái tên vô lại ấy… đúng, vô lại… !
Bà đã quá phẫn nộ. Nhưng bỗng nhiên bà nhìn thấy Goyard quay đầu lại, con trai của bà ngồi ở mép giường, hai tay ôm đầu. Một chiếc xe hơi lăn vào sân ngập ánh nắng. Những bộ đồng phục của lính mật thám rực rỡ. Và bây giờ, tiếng la ó rộ ra giữa đám đông.
Người ta đã phải đóng cổng xe lại để ngăn đám đông dùng áp lực ùa vào trong sân. Vì người đầu tiên mà người ta lôi ra khỏi xe không ai khác là tên du đãng . Hắn không chỉ bị còng hai tay mà còn bị trói cả hai cổ chân sát vào nhau bằng một sợi dây thừng rất chắc đến nỗi phải khiêng hắn như khiêng một kiện hàng. Sau hắn là Em ma bước xuống, chân tay được tự do, ngơ ngác như vừa ra khỏi một giấc mơ.
- Mở trói ở chân cho hắn!
Những người lính mật thám hài lòng,và còn xúc động nữa về cuộc truy bắt được hắn không phải dễ dàng nếu cứ nhìn vào những bộ đồng phục xộc xệch của họ. Và nhất là mặt mũi của tên tù vấy máu và ở môi bị toác thì rõ.
Bà Michoux thốt lên một tiếng kêu kinh hãi, lùi lại sát tường như vừa nhìn thấy một vật ghê tởm, còn tên đàn ông thì để cho người ta mở trói mà không hé răng nói ra được lời nào, hắn từ từ ngửng lên từ từ nhìn xung quanh.
- Yên nghe, Léon! - Maigret quát.
Tên kia run lên, nhìn xem ai nói.
- Người nào lấy cho hắn một cái ghế và một chiếc khăn tay.
Ông để ý thấy Goyard đã lủi vào tận trong cùng của phòng giam, sau bà Michoux; còn người bác sĩ thì run lập cập, không nhìn ai cả. Viên đội phó mật thám, bối rối vì cuộc tụ họp lạ thường này.
- Ai đấy đóng hộ cửa lại. Yêu cầu từng người chịu khó ngồi xuống. Ông đội phó này, ông đội trưởng ở đây có khả năng giúp chúng tôi làm thư ký toà được chứ?… Rất tốt! Mời ông ấy ngồi vào chiếc bàn con này… Tôi cũng đề nghị ông ngồi xuống, thưa ông thị trưởng.
Bên ngoài, đám đông không còn la hét nữa, thế nhưng người ta cảm thấy họ còn ở đấy, có thể đoán được trên đường phố đang có một sự sôi động say mê chờ đợi.
Maigret nhồi một mồi thuốc và bước dọc, bước ngang, quay về phía thanh tra Leroy.
- Trước hết anh phải gọi điện cho người đại diện của những người đi biển ở
Quimper để hỏi ông ấy chuyện gì đã xảy ra cách đây bốn hay năm năm, có thể là sáu năm ở một con tàu gọi là Tàu Emma xinh đẹp.
Khi viên thanh tra ra đến cửa, ông thị trưởng ho ra hiệu rằng ông muốn nói.
- Ông cảnh sát trưởng, tôi muốn báo cho ông biết điều ấy. Đấy là một câu chuyện là mọi người trong vùng đều biết.
- Ông nói đi.
Tên du đãng cựa quậy trong xó của hắn theo cách của một con chó dữ.
Emma ngồi ở đầu mút của chiếc ghế không rời mắt nhìn hắn. Sự tình cờ đã đặt cô bên cạnh bà Michoux mà hương thơm toả ra tràn ngập bầu không khí, một mùi thơm ngọt ngào của nước hoa tím.
- Tôi không trông thấy con tàu - Ông thị trưởng nói lưu loát, có lẽ chẳng có gì đắn đo - Nó là của một anh chàng Le Glen hay là Le Glerec nào đấy đã trở thành một thuỷ thủ xuất sắc nhưng có các đầu dễ nổi nóng. Cũng như tất cả các tàu buôn trong miền, Tàu Emma xinh đẹp chở hàng sang nước Anh, nhất là hoa quả đầu mùa… Một ngày nọ người ta đã nói đến một chuyến đi lâu ngày. Trong hai tháng, không có tin tức gì. Cuối cùng người ta biết là con Tàu Emma xinh đẹp đã bị khám xét khi vừa đến một cảng nhỏ gần New York, đoàn thuỷ thủ bị dẫn đến nhà tù và lô hàng cocain bị tịch thu… Con tàu, dĩ nhiên cũng vậy… Đấy là thời kỳ mà phần lớn những con tàu buôn, nhất là những con tàu chở muối đến Đất Mới, tiến hành việc buôn lậu rượu cồn.
- Cảm ơn ông… Không động đậy, Léon. Hãy trả lời về công việc của anh. Và nhất thiết trả lời chính xác những câu hỏi của tôi, không thêm bớt. Anh nghe chưa. Trước tiên, lúc nãy anh bị bắt ở đâu?
Tên du đãng lau máu ở cằm, nói giọng khàn khàn:
- Ở Rosporden, trong một kho lưu hàng của ngành đường sắt, nơi chúng tôi chờ đến đêm để lẻn lên bất cứ một con tàu hoả nào.
- Trong túi anh ta có bao nhiêu tiền?
Viên đội phó mật thám đáp:
- Mười một phơ răng và một ít tiền lẻ.
Maigret nhìn Emma nước mắt chảy trên má, rồi nhìn tên súc sinh ngồi gập người lại. Ông thấy viên bác sĩ dù bất động, vẫn bồn chồn dữ dội. Ông ra hiệu cho một lính cảnh sát đến ngồi gần để đề phòng sự bất trắc.
Người đội trưởng ghi chép. Ngòi bút cào trên giấy thành tiếng sột soạt.
- Le Glerec, anh hãy kể đích xác cho chúng tôi biết trong điều kiện nào côcain được đem lên tàu.
Tên đàn ông nước mắt lên. Cái nhìn của hắn đanh lại, hướng thẳng về người bác sĩ. Và cái miệng dữ dằn, hai tay nắm chặt, hắn lầm bầm:
- Ngân hàng cho tôi vay tiền để đóng tàu…
- Nói tiếp đi…
- Một năm không may. Đồng phơ răng lên giá. Nước Anh giảm mua hoa quả. Tôi tự hỏi làm thế nào để trả lãi, để cưới Emma, tôi chờ để hoàn trả được phần lớn số tiền. Chính lúc ấy, một nhà báo mà tôi có biết mặt vì ông thường lùng sục trong cảng, đã đến tìm tôi.
Hoàn toàn kinh ngạc, Ernest Michoux nhìn thấy nét mặt của hắn xanh xao, nhưng hết sức bình thản. Rồi anh rút cuốn sổ tay và cây bút chì trong túi ra viết vài dòng.
- Chính Jean Servières đã đề xuất với anh chở một chuyến cocain chứ?
- Không nói ngay lúc ấy. Ông ấy chỉ nói với tôi một công việc. Ông ấy đã cho tôi nơi hẹn trong một quán cà phê ở Brest, ở đấy có cả hai người nữa.
- Bác sĩ Michoux và ông Le Pommeret phải không?
- Đúng như thế!
Michoux ghi lại những điểm mới và nét mặt của anh có một biểu hiện coi thường. Đến một lúc nhất định, anh đã phải nở một nụ cười mỉa mai.
- Ai trong ba người ấy đã ký kết giao kèo với anh?
Người bác sĩ chờ đợi, bút chì nhấc lên.
- Trong ba người, không ai cả. Hay đúng hơn là họ chỉ nói với tôi về số tiền lớn sẽ kiếm được trong một hoặc hai tháng. Một người Mỹ đã đến sau đấy một giờ… Tôi không bao giờ biết được tên ông ta, tôi chỉ gặp ông ta được hai lần. Chắc là một con người thông thạo về biển vì ông ấy đã hỏi tôi những đặc điểm về con tàu của tôi, số lượng người mà tôi cần trên tàu và thời gian cần thiết để đặt một động cơ phụ. Tôi nghĩ là có liên quan đến chuyện buôn lậu rượu. Tất cả mọi người đều lám như thế ngay cả các viên chức của tàu chở khách. Tuần lễ tiếp theo, những người thợ đến đặt một động cơ bán đi-ê-zen trên Tàu Emma xinh đẹp.
Hắn nói chậm rãi, ánh mắt tập trung và thật xúc động khi nhìn những ngón tay to của hắn ngọ nguậy những cử động như bị co thắt, giống như trên mặt của hắn.
- Người ta giao cho tôi một bản đồ để biết tất cả các luồng gió của Đại tây dương và những đường đi của thuyền buồm vì tôi chưa bao giờ có những cuộc vượt biển. Tôi chỉ thuê hai người đàn ông cùng đi với tôi. Do thận trọng, tôi không nói cho ai biết công việc, trừ Emma đã có mặt trên đê chắn sóng ngay đêm xuất phát. Ba người đàn ông kia cũng có mặt ở đấy, gần một chiếc ô tô đã tắt hết đèn. Việc chất hàng lên tàu tiến hành lúc ban chiều, và, khi ấy tôi rất sợ… Không phải vì nguyên nhân của việc buôn lậu. Tôi ít được đi học nên chỉ có thể sử dụng được công-pa và dây dò, thế thôi. Tôi chẳng sợ ai cả, nhưng ngoài kia, ngoài khơi ấy… Một người thuyền trưởng già đã cố dạy cho tôi sử dụng máy lục phân để xác định vị trí của con tàu qua tính toán… Tôi đã mua một bảng log- arít và những gì cần phải có. Nhưng hẳn là tôi lúng túng trong các con tính. Nhưng nếu tôi thành công thì con tàu đã được trả tiền xong và tôi còn lại được khoảng hai mươi nghìn phơ-răng dắt túi. Đêm ấy trời nổi gió dữ dội. Chúng tôi đã mất hút chiếc ô tô và ba người đàn ông. Còn Emma thì hình bóng đen đen còn in rõ ở cuối con đê chắn sóng… Hai tháng trên biển.
Michoux vẫn ghi chép nhưng tránh không nhìn gã đàn ông đang nói.
- Tôi đã có những chỉ dẫn về việc dỡ hàng… Cuối cùng, có mà trời biết làm thế nào mà chúng tôi đến được cái cảng nhỏ đã ấn định. Chúng tôi chưa kịp ném dây neo lên đất liền thì ba chiếc thuyền máy của cảnh sát có súng liên thanh và những người đàn ông vũ trang bằng súng trường bao vây chúng tôi, nhảy lên boong ngắm súng vào chúng tôi, đồng thời hét lên bằng tiếng Anh và nện báng súng vào chúng tôi cho đến khi chúng tôi phải giơ hai tay lên… Chúng tôi chỉ thấy có ánh đèn pha; sự việc sao ăn khớp đến thế. Tôi không biết ai đã dẫn con tàu của tôi vào bến cảng, cũng như làm thế nào mà chúng tôi bị dồn lên một chiếc xe tải. Một giờ sau, chúng tôi mỗi người bị nhốt vào một chuồng sắt ở nhà tù Sing Sing…
- Chúng tôi bị ốm vì chuyện ấy. Không ai nói tiếng Pháp. Những người tù ném vào chúng tôi những lời trêu chọc và chửi rủa…
- Ở đấy, những sự việc đại loại như thế rồi cũng nhanh chóng qua đi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị đưa đến toà án, và luật sư tỏ vẻ bênh vực cho chúng tôi, cũng không hề hỏi han gì chúng tôi. Nhưng sau đấy, ông báo cho biết là tôi bị phạt hai năm lao động cưỡng bức và một trăm nghìn đô-la, tịch thu toàn bộ con tàu của tôi và… Tôi chẳng hiểu gì cả… Một trăm nghìn đô-la. Tôi thề rằng tôi không có tiền. Trong trường hợp này tôi không biết tôi sẽ phải ở tù bao nhiêu năm nữa.
- Tôi bị ở lại Sing Sing. Các thuỷ thủ của tôi chắc đă bị dẫn đến một nhà tù khác, vì tôi không bao giờ gặp lại họ nữa. Người ta cao trọc đầu tôi. Người ta dẫn tôi ra đường cái để đập đá. Một vị linh mục muốn giảng dạy kinh thánh cho tôi…
- Ông không thể hiểu được đâu… Có những tù nhân giàu được đi dạo chơi thành phố hầu như tất cả các buổi tối. Còn những tù nhân khác thì làm đầy tớ phục vụ họ.
- Có hệ trọng gì đâu, sau đấy độ một năm, tôi gặp người Mỹ hồi ở Brest đến thăm một người tù. Tôi đã nhận ra ông ta. Và tôi gọi. Ông đã phải mất một ít thời gian để nhớ lại, rối ông bật cười và đề nghị cho dẫn tôi đến phòng tiếp khách.
- Ông ấy rất thân tình, đối xử với tôi như người bạn thân… Ông nói với tôi rằng ông vẫn là nhân viên của ngành chống hàng lậu. Ông chuyên làm việc ở nước ngoài, nhất là ở Anh, ở Pháp, ở Đức, tại đấy ông gửi cho cảnh sát Mỹ những thông tin về những đoàn tàu sắp đi.
- Nhưng cùng thời gian ấy ông đã toan tính để lợi dụng buôn bán bất hợp pháp… Đấy là trường hợp của vụ cocain này có thể mang về hàng triệu vì có đến mười tấn trên tàu mà tôi không rõ bao nhiêu phơ-răng mỗi gam… Vậy là ông ta đă móc nối với những người Pháp để họ cung cấp tàu và một phần vốn liếng. Đấy là ba người đàn ông mà tôi vừa nói… Và, tất nhiên, lời lãi được chia cho bốn người.
- Nhưng gượm đã. Vì tôi chưa nói đến điều quan trọng hơn. Chính ngày hôm ấy, khi chúng tôi tiến hành bốc hàng lên tàu, ở Quimber, ông người Mỹ nhận được thông báo từ đất nước của ông gửi đến, có một điều mới về luật cấm hàng bất hợp pháp. Việc kiểm soát làm mạnh hơn. Những khách hàng Hợp chủng quốc Hoa kỳ do dự, vì vậy hàng hoá có nguy cơ không tiêu thụ được.
- Mặt khác, một nghị định mới, hứa hẹn với bất kỳ ai tố giác để bắt hàng cấm sẽ được hưởng một món tiền thưởng lên tới một phần ba giá trị của số hàng ấy. Đấy là khi vào trong tù người ta mới kể cho tôi như vậy. Trước đây khi tôi đang thả dây buộc tàu, tôi rất lo và tự hỏi không biết chúng tôi có sống sót để đến được bên kia bờ của Đại Tây dương không. Chính khi ấy tôi biết ba người đàn ông bàn cãi với người Mỹ trên bến cảng…
- Được ăn cả ngã về không chứ sao. Chính người bác sĩ đã nói thế. Tôi biết ông ấy đã nhấn mạnh khi xét đến việc tố giác. Nhưng ít ra theo cách ấy, có phải một phần ba vốn chắc chắn được thu hồi mà không có gì là rắc rối.
- Không tính đến việc người Mỹ dàn xếp được với một đồng nghiệp để cất giấu một phần của lượng cocain bị tịch thu. Những mưu mô không tưởng tượng nổi? Tôi biết như thế. - Tàu Emma xinh đẹp lướt trên mặt nước đen ngòm của cảng. Tôi nhìn một lần cuối cùng người vợ chưa cưới của tôi, chắc vài tháng sau chúng tôi sẽ thành hôn…
- Họ nhìn theo chúng tôi ra khỏi cảng, và biết rằng chúng tôi sẽ bị tóm cổ khi đến nơi. Chính họ tính rằng chúng tôi sẽ chống cự lại và có thể chúng tôi sẽ bị giết chết trong khi đánh nhau như thường luôn xảy ra trên vùng biển nước Mỹ ở thời kỳ ấy…
- Họ biết con tàu của chúng tôi sẽ bị tịch thu, chưa hoàn toàn trả hết tiền và tôi chẳng còn gì khác trên đời.
- Họ biết rằng tôi chỉ có nghỉ đến việc cưới vợ… Và họ nhìn chúng tôi ra đi… !
- Chính người ta đã thú nhận với tôi ở Sing Sing, nơi tôi đã trở thành một kẻ tàn ác giữa những kẻ tàn ác khác. Người ta đã thử thách tôi… Người nói chuyện với tôi cười, vỗ đùi kêu lên: “Bọn vô lại tệ hại thật, ba tên chó má ấy mà!”
Một phút im lặng tức thời và tuyệt đối. Và trong cái im lặng ấy, người ta sững sờ nghe tiếng bút chì của Michoux lướt trên trang giấy mà anh ta vừa lật lên.
Maigret nhìn và hiểu được hai chữ cái S. S xăm trên bàn tay của tên khổng lồ: Sing Sing!
- Tôi tin rằng tôi có can đảm chịu đựng mười năm nữa. Trong đất nước ấy, người ta không bao giờ biết, chỉ có một tội nhỏ trái với điều quy định, thế là nỗi đau đớn kéo dài, cùng với trận mưa dùi cui đổ xuống phũ phàng. Tôi đã phải nhận hàng trăm cái, và những cái đấm cái đạp của các bạn tù của tôi!… Và chính ông người Mỹ ấy đã ra ân lo lót cho tôi. Tôi tin rằng ông đã chán ngấy những con người đê tiện mà ông gọi là những người bạn của tôi… Tôi chỉ có con chó là người bạn thân cận của tôi. Một con vật mà tôi nuôi trên tàu đã cứu tôi khỏi chết đuối, và mặc dù khuôn phép người ta vẫn để cho nó sống trong nhà tù. Vì người ta không có quan niệm như chúng ta về những loại vấn đề ấy… Một địa ngục!… Tuy nhiên người ta chơi âm nhạc ngày Chủ nhật cho anh nghe dù sau đấy lại nện cho anh đến bật máu ra. Sau cùng, chính tôi cũng không biết tôi còn là một con người nữa hay không… Tôi đã phải khóc có đến trăm lần, nghìn lần…
- Rồi một buổi sáng, khi người ta mở cửa cho tôi, còn tẩn tôi một báng súng vào vùng thắt lưng để trả tôi về với cuộc sống văn minh. Tôi đã ngất xỉu trên vỉa hè. Tôi không thể sống được nữa. Tôi chẳng còn gì cả…
- Còn chứ! Còn một điều…
Môi của hắn bị nứt toác chảy máu. Hắn quên thấm. Bà Michoux lấy khăn tay viền đăng ten che mặt mà mùi thơm làm não lòng. Còn Maigret vẫn bình thản hút thuốc, không rời mắt khỏi người bác sĩ vẫn viết.
- Ý muốn làm cho những kẻ gây nên tất cả sự tan vỡ này phải chịu cùng số phận như thế. Không giết chúng! Không! Và cũng chẳng cần gì phải chết. Ở
Sing Sing tôi đã thử đến hai mươi lần mà không được. Tôi đã tuyệt thực nhưng người ta không để cho tôi chết, mà làm cho biết thế nào là nhà tù! Ở Mỹ tôi đã mong muốn điều ấy, nhưng không thể được…
- Tôi đã đi lang thang khắp Brooklyn, tại đấy, tôi đã làm tất cả các nghề trong khi chờ đợi để có thể trả tiền cho chuyến vượt biển của tôi bằng tàu… Tôi cũng trả tiền cho cả con chó của tôi. Tôi không bao giờ có tin tức của Emma. Tôi không đặt chân lên Quimper, ở đấy người ta sẽ nhận ra tôi. Ở đấy, tôi biết cô đã là cô gái hầu phòng, và đã có dịp là nhân tình của Michoux… Biết đâu những cô gái khác cũng vậy chứ. Một cô gái hầu phòng, có phải không?
- Không dễ gì đẩy được ba tên đểu cảng ấy vào tù. Và tôi không cam chịu Tôi chỉ còn có ước muốn ấy thôi! Tôi đã sống với con chó của tôi trên một con thuyền mắc cạn, rồi trong một trạm canh gác cũ ở mũi Cabélou… Tôi đã bắt đầu xuất hiện trước Michoux. Chỉ xuất hiện trước hắn, bày ra bộ mặt xấu xí của tôi, bong dáng của tên súc sinh. Ông hiểu chứ? Tôi muốn làm cho hắn sợ…Tôi muốn gây cho hắn một nỗi khiếp đảm, có thể khiến cho hắn nổ súng vào tôi! Tôi biết có thể tôi sẽ nằm lại, nhưng sau đấy, nhà tù khổ sai sẽ dành cho hắn, những cú đá, những báng súng, những người bạn tù ghê tởm, mạnh hơn anh, buộc anh phải phục vụ chúng… Tôi lảng vảng xung quanh biệt thự của hắn… Tôi đứng trên con đường hắn đi, ba hôm, bốn hôm. Hắn đã nhận ra tôi… Hắn đã ít ra khỏi nhà hơn. Thế nhưng, ở đấy, trong suốt thời gian ấy, cuộc sống không hề thay đổi. Chúng uống rượu khai vị, cả ba tên. Mọi người chào hỏi chúng. Tôi đánh xoáy được cái gì trên quầy hàng thì ăn cái ấy… Tôi muốn sự việc ấy đến thật nhanh…
Một giọng nói dứt khoát cất lên:
- Xin lổi, ông cảnh sát trưởng! Cuộc hỏi cung này không có mặt của ông quan toà dự thẩm, liệu có giá trị hợp pháp không?
Đấy là Michoux, Michoux trắng bệch như một tấm ga, nét mặt võ vàng, lỗ mũi tóp, cặp môi nhợt nhạt. Nhưng Michoux nói bằng giọng dứt khoát gần như đe doạ.
Một cái liếc mắt của Maigret ra lệnh cho một viên chức đến đứng giữa viên bác sĩ và tên du đãng.
- Đã đến lúc!
Léon Le Glérec từ từ đứng dậy, bị thu hút bởi giọng nói ấy, hai nắm tay bóp chặt, nặng như hai cái chuỳ.
- Ngồi xuống. Ngồi xuống đi, Léon!
Và trong khi tên súc sinh nghe theo, hơi thở khản đặc thì ông cảnh sát trưởng vừa rẩy cho tro trong chiếc tẩu rơi ra vừa tuyên bố:
- Đến lượt tôi nói.