Ghi chú đến thành viên
Go Back   4vn.eu > Kiến thức > Thế Giới Muôn Mầu > Sách - Tài liệu > Thể Loại Khác > Võ Thuật
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #16  
Old 04-04-2008, 10:24 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
II. Lộ thứ nhì: HỒI DƯƠNG CÔNG

Dương đây là dương khí. Hồi dương là phục hồi dương khí đã bị tiêu mòn vì bất cứ lý do gì. Khi dương hư, đưa đến:

Chứng trạng dương hư :
– Người cảm thấy lạnh.
– Sắc mặt ám tối thuộc âm, trắng bệch.
– Âm thanh nhỏ đứt đoạn.
– Mạch thấy trầm, trì, tiêu, sáp, hư.
– Bàn chân, bàn tay lạnh.
– Môi lợt.
– Tính trầm tĩnh.
– Sợ lạnh.
– Tim đập dưới 75 lần một phút.
– Nước tiểu trắng.
– Đại tiện lỏng.
– Tóc rụng.
– Răng lung lay.
– Huyết áp thấp.
– Người mề mệt.
– Nam khó khăn về Sex, nữ rắc rối về kinh nguyệt v.v.

Nói theo y học Á-châu, thì có thể một trong các tạng như tỳ, tâm, thận, phế dương hư, hoặc hai, hoặc ba, hoặc tất cả đều ở trạng thái dương hư. Luyện thức này có thể phục hồi được dương khí.



2.1. XUẤT XỨ

Không rõ tác giả. Thấy xuất hiện đầu tiên trong Thiền-phái Tỳ-ni-da Lưu-chi hay còn gọi là phái Tiêu-sơn. Tương truyền người đem phổ biến cho quần chúng là Trấn-Bắc đại-tướng quân, Hoài-văn hầu Trần Quốc-Toản. Chiến-thuật của Hầu áp dụng trong thời đánh Mông-cổ là : Lúc địch bị bại, thì đuổi đến cùng, giết đến tuyệt. Khi đánh trận Hàm-tử, giết Toa-Đô rồi, Hầu dẫn binh đuổi gặc bất kể ngày đêm. Sau chiến thắng, binh tướng đều kiệt sức, Hầu đem thức này ra dạy họ. Nên chỉ ba giờ sau, họ lại lâm chiến được. Thức này Hầu học của Vô-Huyền bồ-tát (Lý Chiêu Hoàng), là bản sư của Hầu.

2.2. TƯ THỨC

– Lập thức (đứng).
– Tọa (ngồi).

2.3. ĐIỀU KHÍ

Tùy thích, dùng ba phương pháp đã trình bầy ở trên.

– Thông thường.
– Ý khí hợp nhất.
– Đạo gia.

Nhưng quan trọng nhất là phương pháp thổ nạp “hồi dương” như sau: Hít một hơi dài, dùng ý dẫn khí vào trung đơn điền, rồi mím môi, phùng má, thổ thực mạnh để khí bật tung ra ngoài.

2.4. Ý THỦ

Mệnh môn (Nam).
Trung đơn điền (Nữ).

2.5. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý-thủ: dùng ý dẫn khí từ trung đơn điền ra mệnh môn huyệt (nam). Nữ giữ nguyên ở đơn điền.

BƯỚC 1 (nạp khí)
Hấp khí thâm trường, dẫn khí từ đỉnh đầu tới hai vai, vào đơn điền chuyển ra mệnh môn (nam). Nữ giữ nguyên ở trung đơn điền.

BƯỚC 2 (thổ khí)
Môi chụm lại cho khí đầy miệng, căng thẳng hai má, thổ khí thành hơi nhỏ.
– Nam phóng khí thực mạnh, mau, từ mệnh môn xuống nang hoàn ngưng lại đây từ 5 đến 10 tiếng đập tim, rồi dẫn khí tức trở về mệnh môn huyệt, vào trung đơn điền.
– Ngưng tại đây 2 tiếng đập tim, dẫn lên đỉnh đầu, đưa khí tức ra ngoài.
– Nữ từ trung đơn điền dẫn khí tức xuống tử cung, âm đạo, ngưng lại 5 đến 10 tiếng đập tim, rồi dẫn khí về trung đơn điền. Ngưng lại trung đơn điền 2 tiếng đập tim, rồi đưa lên đỉnh đầu, để khí tức ra ngoài. Thổ khí.
– Mỗi ngày luyện 36 thức.
– Nếu chọn ngày Đông-chí (22-12) bấy giờ là lúc mà âm khí đầy không gian, dương khí mới bắt đầu khai thủy, luyện một lần. Ngày 23 luyện 2 lần, cứ thế mỗi ngày tăng một lần, cho tới ngày thứ 36 thì tốt nhất. Sau đó mỗi ngày luyện 36 thức.
– Nếu cứ phải đợi đến ngày khai thủy thì lâu quá, cho nên bất cứ ngày nào cũng có thể bắt đầu, và luyện thẳng mỗi lần 36 thức.
– Thu công.

2.6. CHỦ TRỊ

Hiệu-năng
Phục hồi dương khí, tráng dương, bổ thận dương.
Chủ trị
– Trí nhớ giảm thoái.
– Thần kinh suy nhược.
– Mệt mỏi do làm việc trí óc quá độ.
– Làm cho thận kiện, cường tinh.
– Phục hồi tinh khí, vì dâm dục quá độ, cơ thể bạc nhược.
– Nam bất lực, nữ lãnh cảm.
– Phụ nữ sau khi đẻ.
– Đi tiểu vặt.
– Sau khi Sex (hành dâm.)
– Người lạnh, tứ chi lạnh.

III. Lộ thứ ba: TIÊU SƠN HÓA TINH PHÁP

Đạo-lý Phật-giáo chủ diệt dục: tham, sân, si. Dâm là một giới bị cấm ngặt. Nhưng các tăng-ni tu luyện khí công thì tinh, thần, khí phải đồng thăng tiến. Mà cả ba thăng tiến, thì dục cũng tăng theo, nên đường tu hành gặp khó khăn. Vậy phải làm sao hóa tinh di, mới có thể tiếp tục đường tu.
Khoa Thiền-công giảng:

"Tạo hóa sinh con người, đều có tinh khí do cha me (Tiên thiên khì) và do ăn uống (Hậu thiên khí)ï . Ngoài ra nội thể tự sinh, ngoại cảnh kích động, khiến tham dục. Khi tham dục, tinh-khí chạy hỗn loạn. Hỗn loạn không qui liễm dược thì trở thành cuồng loạn, thần bị ức chế dễ lạc vào tà ma, dâm đãng. Khi luyện ngoại-công, khí-công, chủ yếu là đi đến tinh, thần, khí sung mãn. Nhưng nếu cứ để tinh khí chạy loạn, rồi tìm thú nhục dục, để thoát ra ngoài, hoặc thoát ra trong giấc mộng... Thì trong ba yếu tố chỉ còn thần, khí mà thôi. Như vậy chân khí không mạnh, thần lực không phát đầy đủ, nên chi phải dùng khí-công thu liễm tinh-khí”.

Tóm lại : Tinh khí nảy sinh do ba nguyên lý:

– Do cơ thể tự nảy sinh.
– Ngoại cảnh như ăn, uống, ngắm nhìn.
– Nội tâm như đọc sách suy tư.
– Tập luyện. Tập luyện để tăng cường, tinh, thần, khí.

Nếu để tinh xuất, thì chỉ có thần, khí mạnh. Thần lực không phát ra được. Vậy cần thu liễm tinh lại, không để xuất ra ngoài.

Vẫn theo Thiền-Việt thì khi tinh khí sung mãn, dương vật chướng lên là do các nguyên nhân sau:

– Nhìn cảnh dâm bôn, tư tưởng không tự chế, tức thần yếu.
– Đọc sách, liên tưởng, chia trí, không giải trừ tạp niệm, tư tưởng tự do đi vào đường dâm đãng.
– Khi nam gần nữ, nữ gần nam.
– Bị kích thích bởi ngoại lực, nội khí.
– Trong giấc ngủ tư tưởng buông lỏng.

Vì vậy Thiền-khí-công Việt đưa ra 4 phương pháp thu liễm tinh khí, tức luyện công hóa khí, để giúp dễ tu luyện tập võ công, nhất là cho Phật-gia đệ-tử giải thoát được những cơn ám ảnh sinh lý. Các thức đó là hóa tinh pháp.

HÓA TINH ĐỆ NHẤT THỨC

1. NGUỒN GỐC

Từ Thiền-phái Tỳ-ni Đa-lưu-chi, Thảo-đường, Quy-ngưỡng, Lâm-tế.

2. TƯ THỨC

– Lập thức (đứng).
– Tọa thức (ngồi).

3. ĐIỀU KHÍ

– Phương pháp ý khí hợp nhất.
– Phương pháp đạo gia.

4. Ý THỦ

Nội thể: đơn-điền, khí-hải, mệnh-môn, dũng-tuyền v.v...

5. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều-tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý-thủ.

BƯỚC 1 (nạp khí)
– Dùng ý dẫn khí từ qui đầu vào trung-đơn-điền.
– Tiến hành ý-thủ tại đây.
– Nạp khí tiếp, dẫn khí từ trung-điền đến hậu môn (huyệt hội-âm).
– Từ hậu môn (huyệt hội-âm) dẫn ra xương cụt (huyệt trường-cường).

BƯỚC 2 (đình)
– Miệng mím chặt, hai răng nghiến vào nhau, lưỡi ép sát lợi.
– Hai chân tay vận thật cứng. Hậu môn thắt chặt vào và co lên cao.

BƯỚC 3 (nạp khí)
– Tái nạp khí dẫn khí từ xương cụt (huyệt trường-cường) lên qua xương sống, hậu chẩm (huyệt phong-phủ) vào đại não, tới thượng-điền thì ngưng lại.

BƯỚC 4 (Thổ khí)
– Tiến hành ý-thủ tại đây, thổ khí ra ngoài.

BƯỚC 5 (nạp)
– Nước miếng trong miệng sinh ra, nuốt vào, dùng ý dẫn khí từ thượng-điền về trung-điền theo đường cổ, họng, thượng điền.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

Kinh nghiệm
Sau khi luyện đủ 3 tức, nếu thấy thể xác trở lại bình thường, dục vọng đòi hỏi hết, thì thu công rồi ngừng. Bằng dục vọng, thể xác còn đòi hỏi thì luyện tiếp.

BƯỚC 6 (thổ)
Dùng ý dẫn khí từ trung-điền theo xương sống lên hậu chẩm, não, rồi thượng điền (theo đốc mach lên huyệt Đại-trùy, Phong-phủ, đại não, thượng-điền).

BƯỚC 7 (nạp khí)
Dùng ý dẫn khí từ thượng-điền, vòng qua trái tới nửa đầu bên trái, rồi dẫn khí theo nửa mặt trái, xuống nửa cổ trái, qua nửa lồng ngực trái, bụng trái, rồi đưa vào hạ đơn điền.
Từ hạ-điền sang phải đi ngược lên qua nửa bụng phải, ngực phải, cổ phải, rồi nửa mặt phải, tới thượng điền.

BƯỚC 8 (ngưng thổ nạp)
– Dùng ý dẫn khí đi vòng thứ hai.

BƯỚC 9 (thổ)
– Dùng ý dẫn khí đi vòng thứ ba.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN (Tức 9 Vòng).

Kinh nghiệm
Sau khi luyện 3 tức liền, nếu vẫn còn thấy thể xác đòi hỏi, luyện tiếp.

BƯỚC 10 (nạp)
– Dùng ý dẫn khí từ thượng-điền qua cổ, họng, thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu tới hạ-điền. Sau đó dẫn khí vòng sang trái, qua nửa bụng, nửa ngực, nửa cổ nửa mặt lên thượng-điền.

BƯỚC 11 (ngưng thổ nạp)
– Dẫn khí đi vòng thứ hai, cùng chiều, cùng lộ trình như vòng thứ nhất.

BƯỚC 12 (thổ)
– Dẫn khí đi một vòng thứ ba, cùng chiều, cùng lộ trình với vòng thứ nhất.
LUYỆN 2 TỨC LIỀN (Tức 6 Vòng).

HẾT MỘT THỨC.

Mỗi lần luyện 3, 6, hoặc 9 thức. Nam, nữ luyện như nhau.

6. CHỦ TRỊ

– Sinh lý đòi hỏi, dương vật chương lên.
– Điều hòa tinh khí.
– Các nhà tu dùng để diệt dục.

Trong quá trình huấn luyện, chúng tôi nhận ra một số các võ-sinh, văn-gia, ký-giả, kỹ sư điện toán, các nghiên cứu gia v.v. thấy sinh lý đòi hỏi, nếu họ giao hoan, thì đầu óc trống rỗng. Họ muốn giữ tinh khí cho đầu óc minh mẫn, nên luyện tập thức này. Kết quả thực kỳ diệu, tinh thần sảng khoái, trí nhớ tăng. Một số các vị tu mi nam tử vì công tác phải xa nhà, sang các nước Thái-lan, Phi-luật-tân, sinh lý đòi hỏi, nếu tìm các nàng kiều ở đó mà hành lạc, có thể tiêu dao miền Cực-lạc với ác quỷ SIDA (AIDS), nên đã luyện thức này để diệt dục. Các tiết phụ, xa chồng cũng luyện, để giữ chung thủy v.v.

7. CẤM KỊ

– Phụ nữ mang thai.
– Tim đập chậm (dưới 65 lần một phút).
– Dương hư (chân tay lạnh, đại tiện chảy, người lạnh, huyết áp thấp dưới 10).
– Bần huyết (anémie).
– Nam bất lực (dương vật không cử, cử mà không chắc dysfonction érectille). Nữ lãnh cảm
Tài sản của ngoctulaa

Chữ ký của ngoctulaa
[SIZE="6"][COLOR="Blue"] nhớ nhà[/COLOR][/SIZE]
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #17  
Old 04-04-2008, 10:24 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
HÓA TINH ĐỆ NHỊ THỨC

Sau khi luyện đệ nhất thức, không thấy kết quả, thì trường hợp tương đối nặng. Dương vật cứ cử lên (nữ thì âm-thần hơi cứng nóng, ngực căng, môi khô), tinh-dịch (chứ không phải tinh-khí) ri rỉ muốn xuất, nhiệt khí trên người bốc cao, đầu óc hoang mang không minh mẫn nữa. Phải luyện tiếp phương pháp của đệ nhị thức.

Phải nhớ kỹ là: không nên lạm dụng luyện phương pháp đệ nhị thức. Chỉ khi nào đệ nhất thức không kết quả mới luyện đệ nhị thức mà thôi.
Đệ nhị thức có hai tức. Nối tiếp đệ nhất thức.

1. ĐỆ NHẤT TỨC. (Thổ ở đầu tức này không kể vào tức, chỉ để nối tiếp).

BƯỚC 1 (thổ)
– Dùng ý dẫn khí từ qui-đầu (nếu là nữ thì âm-thần) đến trung-điền.
– Đồng thời hậu môn thắt chặt co lên.

BƯỚC 2 (nạp)
– Dùng ngón chỏ tay phải, bịt lỗ mũi phải.
– Lỗ mũi trái hấp khí thành một dây dài liên tục (không nên để đứt đoạn).

BƯỚC 3 (đình)
– Hai đến 5 tiếng đập tim.

BƯỚC 4 (thổ)
– Ngón tay giữa của tay phải bịt lỗ mũi trái, buông lỗ mũi phải ra.
– Lỗ mũi phải thổ khí thành luồng liên tục, nhẹ nhàng.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

2. ĐỆ NHỊ TỨC

BƯỚC 5 (thổ)
– Nối tiếp tức trên.
– Ngón tay bịt lỗ mũi trái.
– Sau khi lỗ mũi phải thổ xong nạp luôn, nạp một hơi dài, không đứt đoạn.

BƯỚC 6 (đình)
– Nghỉ hai đến 5 tiếng đập tim.

BƯỚC 7 (thổ)
– Ngón trỏ bịt lỗ mũi phải, và buông lỗ mũi trái ra.
– Lỗ mũi trái thổ khí thành một dây liên tục.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

3. ĐỆ TAM TỨC

BƯỚC 8 (nạp)
– Bỏ tay ra dùng cả hai lỗ mũi nạp khí thành một luồng dài liên tục.
– Dùng ý dẫn khí từ trung-đơn-điền đến thượng-điền ý-thủ tại đây.

BƯỚC 9 (đình)
– Ngưng lại từ 2 đến 5 tiếng đập tim.

BƯỚC 10 (thổ)
Nuốt nước miếng, dùng ý dẫn khí từ thượng-điền tới trung-điền.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN
Sau đó luyện lại tức thứ nhất đến tức thứ ba liền 3,6 hay 9 lần. Thu công

4. CHỦ TRỊ

Như đệ nhất thức.

5. CẤM KỊ

Như đệ nhất thức.

HÓA TINH ĐỆ TAM THỨC

Sau khi đã luyện thức thứ nhì, không kết quả, luyện sang thức thứ ba. Phải lưu ý là, thức thứ ba rất dễ tổn hại đến tinh khí, thận khí. Vì vậy nếu thấy luyện hết thức thứ hai không kết quả mới dùng đến. Tuyệt đối không bao giờ nên thử. Thận suy rất hại, có khi tuyệt đường sinh đẻ.

Thức này có ba tức.

1. ĐỆ NHẤT TỨC

BƯỚC 1 (nạp)
– Dùng ý dẫn khí từ qui-đầu (nữ thì âm thần), qua hậu môn rồi xương cụt (huyệt Hội-âm, Trường-cường) chuyển sang mông trái, lưng trái, lên cổ tới mắt trái.
– Ngón tay bịt lỗ mũi phải lại, để lỗ mũi trái tiếp tục nạp khí. Mắt trái, mi trái, kéo ngược trở lên, khí dẫn theo, tới đỉnh đầu.

BƯỚC 2 (đình)
– Dẫn khí từ đỉnh đầu, về thượng-điền, qua mắt phải.
– Mắt phải, mi phải, kéo trở xuống.
– Dẫn khí qua má phải.

BƯỚC 3
– Bịt lỗ mũi trái lại, lỗ mũi phải từ từ thổ khí.
– Dùng ý dẫn khí từ má phải xuống cổ, sườn phải, xương cụt, hậu môn (huyệt Trường-cường, Hội-âm).

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

2. ĐỆ NHỊ TỨC

Cùng phương pháp tức 1. Nhưng lộ trình đi phải:

– Từ qui-đầu, qua huyệt hậu môn, xương cụt (huyệt Hội-âm, Trường-cường) rồi quẹo phải, đi ngược lộ trình trên.
– Lỗ mũi cùng thổ nạp, ngược lại với tức 1, nghĩa là phải đổi qua trái, trái đổi qua phải.

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

3. ĐỆ TAM TỨC

BƯỚC 1 (nạp)
– Dẫn khí từ qui-đầu về hậu môn, xương cụt (huyệt hội-âm, trường-cường), ngược lên ngang sống lưng (huyệt Mệnh-môn), theo xương sống, não, đến đỉnh đầu, vòng sang thượng-đơn-điền.

BƯỚC 2 (đình)
– Ngưng tại thượng-điền từ 2 dến 5 tiếng đập tim.

BƯỚC 3
– Từ thượng-điền ngược trở lại não, xương sống tới ngang lưng (huyệt mệnh-môn) rồi vào trung-điền, sang hậu môn (huyệt hội-âm), rồi tới qui-đầu (hay âm thần).

LUYỆN 3 TỨC LIỀN.

Luyện liền một lúc 3, 6, đến 9 thức.
Khí-tức qui nguyên(dẫn khí về đơn điền).

Thu công.

4. CHỦ TRỊ

Như đệ nhất thức.

5. CẤM KỊ

Như đệ nhị thức.

HÓA TINH ĐỆ TỨ THỨC

Tiêu-sơn đệ tứ thức, khác hẳn với ba thức trên về công dụng. Ba thức đầu dùng để “luyện tinh, hóa khí”, tức là xử dụng khi tinh-khí đầy, chuyển thành khí. Tinh-khí đó vẫn còn chỗ sơ dụng của nó, không làm mất đi lợi ích.

Nhưng cũng có những trường hợp mà tinh khí chạy hỗn loạn không nên thu liễm lại. Vì tinh khí đó không còn ích lợi, thu liễm lại có hại cho cơ thể, cần phải đốt đi.

Tỷ-dụ: Trong lúc luyện Thiền-công, Khí-công, Ngoại-công, chân tay, khí huyết chân khí chạy khắp người. Chẳng may có những luồng khí dẫn không đúng, hoặc chiêu thức đánh sai, tinh-khí không qui liễm được, nên đã làm động tình, dương vật chương lên. Những loạn khí đó không cần thu liễm, phải đốt ngay đi.

Ở đây chúng tôi chỉ nói đến các thức Thiền-công, Ngoại-công, Khí-công từ cấp trung-đẳng, cao-đẳng.

1. PHÉP LUYỆN

Lấy cơ sở của ba thức trên làm nguồn gốc.

2 . TƯ THỨC:

Cả ba tư thức.

– Lập thức (đứng).
– Tọa thức (ngồi).
– Ngọa thức (nằm).

3. ĐIỀU KHÍ

Các phương pháp :

– Thông thường.
– Ý khí hợp nhất.
– Đạo gia.
– Cấm dùng phương pháp ảo thổ nạp, khí tức hỗn loạn đốt luôn chân khí, có khi làm hư thận.

4. Ý-THỦ

Nội thể tại trung-đơn-điền.

5. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều-tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý-thủ

BƯỚC 1 (nạp)
– Dùng ý dẫn khí trầm trung-đơn-điền.
– Óc tưởng tượng đơn-điền.
– Mắt nhắm, “nhìn bằng tư tưởng vào đơn-điền”.
– Tai nghe tại đơn-điền.
– Miệng mũi thổ nạp vào đơn-điền.
– Dùng ý dẫn khí từ qui-đầu vào đơn-điền.

BƯỚC 2 (đình)
– Ngưng từ 2 tới 5 tiếng đập tim.
– Dùng ý dẫn khí từ trung-điền đến hậu môn (huyệt-âm).
– Từ hậu môn (huyệt hội-âm) phân ra hai đùi, đầu gối, bắp chân, xuống gầm bàn chân (huyệt Dũng-tuyền).

BƯỚC 2 (thổ)
– Dùng ý dẫn khí từ huyệt dũng-tuyền trái, ngược trở lên qua bắp chân đầu gối, đùi.

BƯỚC 3 (nạp)
– Dùng ý dẫn khí đồng một lượt từ đùi trái, qui-đầu (nữ âm thần) vào huyệt hội-âm, trường-cường, qua sườn trái tới cổ, mang tai, đại não cuối cùng ngưng lại ở thượng-điền.

BƯỚC 4 (đình)
– Ngưng lại thượng-điền từ 2 tới 5 tiếng đập tim.
– Từ thượng-điền dẫn khí qua phải, mang tai, cổ, sườn, huyệt trường-cường huyệt hội-âm.

BƯỚC 5 (thổ)
– Dẫn khí từ huyệt hội-âm dẫn tiếp xuống đùi phải, đầu gối phải, bắp chân, cuối cùng là huyệt dũng-tuyền phải.

BƯỚC 6 (nạp)
– Lại dùng ý dẫn khí từ huyệt dũng-tuyền trái, qui-đầu (âm thần) theo lộ trình cũ để sang huyệt dũng-tuyền phải hai lần nữa.

BƯỚC 7 (đình)
– Dùng ý dẫn khí từ huyệt dũng-tuyền phải và qui-đầu (âm thần) theo lộ trình trên. Nghĩa là đi ngược chiều, đúng ba (3) lần.

BƯỚC 8 (thổ)
– Dùng ý dẫn khí từ cả hai huyệt dũng-tuyền lên bắp chân, đầu gối, đùi.
– Dẫn từ hai đùi, qui-đầu lên huyệt hội-âm, trường-cường theo xương sống tới huyệt Phong-phủ, đại não, vào thượng-điền.

BƯỚC 9 (đình)
– Ngưng lại từ 2 tới 5 tiếng đập tim.

BƯỚC 10 (thổ)
– Đi ngược trở lại lộ trình cũ tới xương sống, qua mệnh-môn huyệt vào trung-điền.

BƯỚC 11 (đình)
– Ngưng lại trung-điền 2 đến 5 tiếng đập tim, rồi dẫn khí tiếp xuống huyệt hội-âm, phân làm hai xuống hai đùi, đầu gối, bắp chân, cuối cùng huyệt dũng-tuyền.
Luyện một lúc từ 3, 6 đến 9 thức và chỉ tái luyện khi nào cần thiết. Nếu luyện liên tiếp mỗi ngày một lần thì từ ngày thứ 5 trở đi tinh-khí bị đốt hết, người mệt mỏi yếu đuối. Từ ngày thứ 15 trở đi đến ngày thứ 30 thì có thể hư thận.

6. CHỦ TRỊ

– Dùng để làm tiêu tan đòi hỏi sinh lý.
– Khu trục, tiêu diệt các loạn khí vô ích trong người.
– Kiến bò (fourmiement), spasmophilie.
– Chân tay bải hoải.
– Điều hòa loạn khí.
– Bắp thịt co giật.
– Trấn tĩnh cơn khủng hoảng thần kinh (dépressions).

7. CẤM KỊ

– Bất lực sinh lý (nữ lãnh cảm).
– Thận hư (dù dương, dù âm, hay âm dương hư).
– Mất trí nhớ.
– Phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh (ménopause).

Kết luận

Tiêu-sơn hóa tinh pháp là một thức Thiền-công, dùng lâu năm trong Phật-giáo Việt-Nam, dễ luyện, kết quả tốt. Phàm khi luyện, ngay lập tức cảm thấy tinh thần sảng khoái. Càng luyện lâu, tâm trí càng minh mẫn. Già, trẻ, nam, nữ đều luyện được. Luyện lúc nào trong ngày kết quả cũng bằng nhau.

IV. Lộ thứ tư: DƯỠNG SINH CÔNG

Dưỡng là nuôi. Dưỡng sinh công dùng để điều hòa, kích thích bộ máy tiêu hóa. Nếu khi luyện thức này, thấy không hiệu quả thì dùng ”Ngoạ công bát pháp” ở phần động công.

4.1. TƯ THỨC

– Tọa thức (ngồi).
– Ngọa thức (nằm).

4.2. ĐIỀU KHÍ

Dùng phương pháp:

– Ý khí hợp nhất.
– Đạo gia.

4.3. Ý THỦ

Nội thể : Khí hải hay trung đơn điền.

4.4. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý thủ: tinh thần nội thủ, thần bất ngoại thể.
– Môi răng hé mở.
– Mũi nạp miệng thở, hoặc mũi miệng đồng thổ nạp.

BƯỚC 1 (nạp khí)
– Dùng ý dẫn khí từ đỉnh dầu, qua ngực (thượng tiêu), tới trung đơn điền (trung tiêu: tỳ, vị), rồi chuyển qua bụng dưới (huyệt khí hải). Tiến hành ý thủ tại đây.
– Tiếp tục nở bụng ra, nạp khí tiếp.

BƯỚC 2 (đình)
– Ngưng thổ, nạp.
– Dùng ý dẫn khí về trung đơn điền, rồi thổ ra.
–Khi thổ chia thành nhịp, hoặc chụm môi, thổ mạnh.

Hết một thức.

Mỗi lần luyện hết một thức phải cố duy trì ý thủ nội thể. Mỗi ngày luyện 24 hoặc 36 thức.
– Sau khi dứt, dùng ý dẫn khí vào trung đơn điền.
– Thu công.
– Không nên cưỡng hành nín thở lâu quá. Không nên ép khí đầy quá, làm cho khí huyết đảo lộn.

4.5. CHỦ TRỊ

Trị ruột đau, thiếu dịch vị.
Tiêu hóa không tốt, bụng sôi.
Ăn vào đầy ứ, ợ hơi.
Thần kinh suy nhược.
Người bải hoải sau khi ăn.
Điều hòa nhiệt khí.
Lưu ý là sau khi luyện sang thức thứ 3 trở đi thì nhiệt khí trong đơn điền sinh ra mạnh mẽ. Không nên hoảng sợ. Đó là có kết quả rồi
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #18  
Old 04-04-2008, 10:25 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
V. Lộ thứ năm: TRƯỜNG XUÂN CÔNG

Xuân là mùa Xuân mùa mà vạn vật nảy nở, nên dùng để chỉ tuổi trẻ. Chữ trường xuân ở đây dùng để chỉ nét tươi thắm của tuổi trẻ.

5.1. XUẤT XỨ

Tương truyền tác giả là công chúa Thủy-Tiên. Thủy-tiên là tên dưỡng nữ Hưng-Đạo vương Trần Quốc-Tuấn, phu nhân của Phạm Ngũ-Lão đời Trần. Bà là một khí công gia, tuy không nổi tiếng bằng công chúa Ngọc-Hoa, phu nhân của Hoài-văn hầu Trần Quốc-Toản, nhưng bà có nhiều công phát minh ra những chiêu thức luyện công cho phụ nữ: tính tình hòa dịu, điều hòa kinh nguyệt. Nhất là làm cho phụ nữ trẻ đẹp. Ở đây chỉ trình bày một thức dùng cho cả nam, lẫn nữ mà thôi.

5.2. TƯ THỨC

– Lập thức (đứng).

5.3. ĐIỀU KHÍ

– Phương pháp thông thường.
– Ảo thổ nạp.

5.4. Ý THỦ

Dùng hai loại:

– Ý thủ ngoại vật: Tưởng tượng đứng trước một vườn đầy hoa, hoặc một ao sen nở đỏ ối.
– Ý thủ thần thức: Nhẩm đọc một bài thơ, ca thầm một bản nhạc yêu đời êm dịu. Không nên ca thầm những bản nhạc hùng tráng, hoặc những điệu giật gân.
Nếu theo đạo Chúa, nên đọc bài kinh “Kính mừng” trong đầu tưởng tượng ra tượng đức mẹ Maria đang dơ tay ban phép lành cho mình.
Người theo đạo Phật, nên tưởng tượng hình đức Quan-thế-âm cầm cành dương liễu nhỏ lên đầu mình. Chớ có nhẩm đọc kinh Bát-nhã, Lăng-già, Kim-cương trong trường hợp này mà tiêu dao miền Cực-lạc.

5.5. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều-tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý thủ: Như đã trình bầy ở trên. Hai mắt từ từ nhắm.
– Khi thổ, nạp, miệng răng hé mở.
– Mũi nạp miệng hô, hoặc mũi miệng đồng dụng.

BƯỚC 1 (nạp khí)
– Dùng ý dẫn khí từ miệng, qua hầu, ngực (thượng tiêu) tới bụng giữ (trung đơn điền), rồi ngưng lại.

BƯỚC 2 (thổ khí)
– Dùng ý dẫn khí tới hai bàn chân.
– Hai chân hơi cong lên ở giữa, rồi tưởng tượng hai chân như cây già mọc rễ. Ý tưởng như cây thông già, gió không đổ, chém không gẫy.

BƯỚC 3 (nạp khí)
Dùng ý dẫn khí về trung đơn điền,

BƯỚC 4 (thổ khí)
Dùng ý dẫn khí lên ngực, ra ngoài.

Hết một thức.
Tiếp tục luyện thức thứ hai. Mỗi ngày luyện 12 hoặc 24 hoặc 36 thức.

Thu công

5.6. CHỦ TRỊ

Khi dẫn khí xuống chân, ý niệm hai chân như thông già mọc rễ. Gió không đổ, chém không gẫy, một lát trong nội thể phát sinh ra nội khí chạy khắp tạng phủ. Thân thể sảng khoái, hùng khí dâng lên.

Trị các bệnh sau:

– Mệt mỏi (asthénie physique)
– Huyết áp cao.
– Buồn nản (anxiétée)
– Hay cáu (nervositée)
– Lo nghĩ (angoissée)
– Thần kinh suy nhược (dépression nervreuse).

Nếu luyện nhiều khí huyết đều, yêu đời, không lo, không giận, không phiền, khô ng gắt, thì tự nhiên bảo trì được nhan sắc.

VI. Lộ thứ sáu: DƯỠNG THẦN THỨC

6.1. TƯ THỨC

Có thể dùng cả ba tư thức.

– Lập thức (đứng).
– Tọa thức (ngồi).
– Ngọa thức (nằm).

6.2. ĐIỀU KHÍ

Phương pháp thông thường.

6.3. Ý THỦ

Nội thể: trung đơn điền.

6.4. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý thủ.

6.41. GIAI ĐOẠN MỘT

BƯỚC 1 (nạp khí)
– Khi trầm đơn điền, nạp khí, khi đầy ngưng lại một tiếng tim đập rồi thổ.

BƯỚC 2 (thổ khí)
– Dẫn chân khí đồng một lượt ở các bộ vị sau đây:
Đường 1: từ đỉnh đầu (huyệt bách hội tỏa xuống bốn phía, mặt, hai thái dương, gáy, cổ, và đầu xương sống.
Đường 2: từ các huyệt đầu các ngón tay (huyệt thiếu dương, thương dương, trung xung, quan xung, thiếu trạch và thiếu xung) đi ngược lên cườm tay, khủy tay, bả vai, tới đầu xương sống ngưng lại.
Đường 3: từ các đầu ngón chân, qua bàn chân, gót chân, đầu gối đùi, ngưng lại ở hậu môn (huyệt hội-âm).

BƯỚC 3 (nạp khí)
– Dẫn chân khí đồng một lượt:
Đường 1: từ đầu xương sống đến eo lưng (huyệt mệnh môn).
Đường 2: từ hậu môn (huyệt hội âm) đến eo lưng (huyệt mệnh môn).

BƯỚC 4 (thổ khí)
– Dẫn vào trung đơn điền.

Thu công (vẫn thổ khí): quay vòng thứ nhất đến vòng thứ 10, trở ra.

BƯỚC 5 (nạp khí)
– Tiếp tục thu công quay vòng thứ 10 đến vòng thứ 20, trở ra.

BƯỚC 6 (thổ khí)
– Tiếp tục thu công, quay vòng thứ 20 đến vòng thứ 30, trở ra.

BƯỚC 7 (nạp khí)
– Tiếp tục thu công, quay vòng thứ 30 đến vòng thứ 36, trở ra. Rồi quay ngược trở lại từ vòng thứ 24 đến 20.

BƯỚC 8 (thổ khí)
– Tiếp tục thu công.Quay vòng thứ 20 đến vòng thứ 10, trở vào.

BƯỚC 9 (nạp khí)
– Tiếp tục thu công. Quay vòng thứ 10 đến vòng cuối cùng.

6.4.2. GIAI ĐOẠN HAI

BƯỚC 1 (thổ khí)
– Dẫn chân khí từ trung đơn điền ra huyệt em lưng (huyệt mệnh môn). Từ đây dẫn khí theo xương sống xuống hậu môn (huyệt hội âm) và lên đầu xương sống.

BƯỚC 2 (nạp-khí)
– Dẫn chân khí đồng một lúc:
Từ hậu môn (huyệt hội âm) xuống đầu gối, hai bàn chân, đầu ngón chân. Từ cổ tỏa ra hai tay, bắp tay, khủy tay, cổ tay và bàn tay. Các ngón tay, thoát ra ngoài. Từ cổ lên gáy, mặt, hai thái dương lên đỉnh đầu (huyệt Bách hội). Ngừng lại một tiếng đập tim.

BƯỚC 3 (thổ-khí)
– Dùng ý dẫn chân khí tỏa ra ở các đầu ngón chân, ngón tay, và miệng.

HẾT MỘT THỨC

Tiếp tục luyện lại giai đoạn 1. Luyện một lúc 12, 24, hoặc 36 thức rồi đứng dậy. Không cần thu công như các thức khác. Vì đây là phương pháp thu công thượng thừa.

6.5. CHỦ TRỊ

Đây là phương pháp điều hòa chân khí, cũng là phương pháp thu công thượng thừa.

Mục đích dùng để:

– Điều hòa nhiệt khí, khi đầu nóng, tai nóng, mặt nóng, nhiệt khí hỗn loạn. Ph ân tán nhiệt ra cơ thể cho đều.
– Dẫn nhiệt chống lạnh.
– Trị mê ngủ, mộng du, đêm ngủ hay la hoảng.
– Đầu óc u mê.
– Mệt mỏi khi hoạt động nhiều.
– Trị tất cả các loại thần kinh.
– Sau khi luyện ngoại công chân khí chạy hỗn loạn, cần phân tán đi cho điều hòa.
– Tập khí công bị hỗn loạn kinh mạch, sinh phản ứng, dùng điều hòa lại.
– Huyết áp cao.

VII. Lộ thứ bẩy: LIÊN-HOA THỨC

7.1. TƯ THỨC

Có thể dùng cả ba tư thức.

– Lập thức (đứng).
– Tọa thức (ngồi).
– Ngọa thức (nằm).

7.2. ĐIỀU KHÍ

Phương pháp thông thường.

7.3. Ý THỦ

Giai đoạn 1, trung-đơn-điền pháp.
Giai đoạn 2, liên-hoa-nhụy, tức nhũ hoa.

7.4. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy.
– Nhập tĩnh.
– Điều-tức.
– Ninh thần.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý-thủ.

7.4.1. CHUẨN THỨC

Đầu tiên luyện “Dưỡng thần thức”, để chân khí, nhiệt khí điều hòa, huyết mạch lưu thông. Sau 10 hay 15 thức, người đã nóng lên:

BƯỚC 1 (hấp khí)
– Dồn khí tức qui-nguyên.
– Dẫn khí từ trung-đơn-điền lên thượng-đơn-điền.
– Ngừng lại từ 5 đến 9 tiếng đập tim (giai đoạn 1, hết).

7.4.2. CHÍNH THỨC

BƯỚC 2 (thổ khí)
– Dùng ý phóng khí từ thượng-đơn-điền tỏa ra mang tai, cằm (huyệt Dương-bạch, Hạ-quan, Giáp-xa, Nhân-nghinh) theo má, cổ trước đến nhũ hoa (hoặc mạch Âm-kiêu, đến huyệt Khí-hộ, Khổ-phòng, Ung-song, ngừng lại ở huyệt Nhũ-trung).

BƯỚC 3 (nạp khí)
– Dùng ý dẫn khí từ nhũ hoa (huyệt Nhũ-trung), quay theo hình xoắn ốc, thuận chiều kim đồng hồ, từ vòng nhỏ đến vòng lớn, sâu vào trung tâm nhũ hoa, 12 vòng (giai đoạn 2, hết).

TIẾN HÀNH Ý THỦ TẠI ĐÂY

BƯỚC 4 (thổ khí)
– Quay tiếp từ vòng thứ 12 đến vòng thứ 24.

BƯỚC 5 (nạp khí)
– Quay tiếp từ vòng thứ 24 đến vòng thứ 36.
Vòng thứ nhất khởi từ đỉnh nhũ hoa, vòng 12 bắt đầu đi vào khu vực nhân nhũ hoa. Đến vòng thứ 20 là đi vào hết chiều sâu liên-hoa-nhụy. Đến vòng thứ 36 là vòng lớn nhất, chu vi bằng chu vi chân nhũ hoa, và sát ngực.

BƯỚC 6 (thổ khí)
– Quay ngược chiều kim đồng hồ, từ vòng lớn đến vòng nhỏ, từ trong ra ngoài đỉnh nhũ-hoa. Quay từ vòng thứ 1 đến vòng thứ 12.

BƯỚC 7 (nạp khí)
– Quay tiếp từ vòng thứ 12 đến vòng thứ 24 là đỉnh nhũ hoa (huyệt Nhũ-trung).

BƯỚC 8 (thổ khí)
– Dẫn chân-khí từ đỉnh nhũ hoa (huyệt Nhũ-trung), đi ngược ngực, cổ lên cằm, má tới trán (theo mạch Âm-kiêu lên huyệt Ung-song, Khố-phòng, Khí-hộ, Nhân-nghinh, Giáp-xa, Hạ-quang, Dương-bạch tới thượng điền).

BƯỚC 9 (nạp khí)
– Ngừng lại từ 5 đến 9 tiếng đập tim.

HẾT MỘT THỨC

Tiếp tục luyện “chuẩn-thức” khởi từ thổ. Luyện liên tiếp 24 hoặc 36 thức. Mỗi ngày có thể luyện 2 buổi, cách nhau 4 giờ.

7.5. CHỦ TRỊ

– Tuyệt kinh nguyệt.
– Tuyệt sinh nở.
– Giải ưu uất, cáu giận của con gái lúc dậy thì.
– Trị bệnh lúc mãn kinh (ménopause): hỏa nhiệt thăng (bouffées des chaleurs), hay cáu, tự nhiên béo ra hoặc gầy đi.

LƯU Ý QUÝ VỊ Y-SĨ ĐIỀU TRỊ

Thông thường phụ nữ trong thời kỳ sắp mãn kinh, kinh kỳ thường kéo dài, thu ngắn không nhất định. Nếu cho bệnh nhân luyện thức này, thì có hai trường hợp sẽ diễn ra: một là kinh nguyệt tuyệt hẳn, hai là kinh ra bình thường một hai kỳ rồi tuyệt. Luyện trong vòng ba tháng thì những triệu chứng hỏa nhiệt thăng. hay cáu, béo mập bất thường sẽ hết.
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #19  
Old 18-08-2008, 03:42 PM
dinhnamsp
Guest
 
Bài gởi: n/a
Thời gian online: 0 giây
Đại Sỹ

Giờ anh lưu lạc ở xứ nào vậy? Khi em vào trường Y thì anh đã sắp ra trường rồi,tiếc là chưa có dịp được gặp mặt.
Tài sản của dinhnamsp

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #20  
Old 26-08-2008, 06:12 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
Trích:
Nguyên văn bởi dinhnamsp View Post
Giờ anh lưu lạc ở xứ nào vậy? Khi em vào trường Y thì anh đã sắp ra trường rồi,tiếc là chưa có dịp được gặp mặt.
xin lỗi mình có quen nhau sao mình đâu có học trường Y nào đâu
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, , , , bac si tran dai si, bac si tran dai sy, bacsi tran dai sy, bát nhã khí công, bat nha khi cong, bát nhã khí công, cách tập thổ nạp, cách thổ nạp, , khí công đại toàn, khí công thổ nạp, khi cong dai toan, khi cong tran dai si, khi cong tran dai sy, kkhi cong, , , phép thổ nạp, thap thuc bao kien phap, thổ nạp, thổ nạp đạo gia, thổ nạp, thổ nạp âu-á, thổ nạp khí công, thổ nạp là gì, thổ nạp thuật, thuận thiên di sử, tran dai si, tran dai si khi cong, tran dai sy, tran dai sy khi cong, trần đại sỹ, , ,

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™