Ghi chú đến thành viên
Go Back   4vn.eu > Kiến thức > Thế Giới Muôn Mầu > Sách - Tài liệu > Thể Loại Khác > Võ Thuật
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #11  
Old 04-04-2008, 10:21 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
CHƯƠNG THỨ NHÌ

BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Dưới đây chúng tôi xin dịch nguyên bản bài kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh, và “mạn phép” lạm bàn. Nếu có gì sai trái, là do ngộ tính của chúng tôi còn u mê, dốt nát, chứ không phải bản sư của chúng tôi dạy như vậy. Tôi xin tường thuật lại kỷ niệm hồi thơ ấu, khi được giảng bài kinh này.
Bấy giờ tôi vừa đầy sáu tuổi (bẩy tuổi ta), học chữ Nho đã xong bộ “Ấu học ngũ ngôn thi”; vì học sau, mà lại vượt lên trước các anh lớn hơn hàng chục tuổi, nên hơi có kiêu khí. Ông tôi biết thế, cho tôi quy y tam bảo. Sau khi quy y rồi, bản sư hỏi tôi:
– Con có biết tại sao, ngoại tổ là người sùng Nho, lại xin cho con được quy y không?
Tôi đáp không do dự:
– Vì ông muốn con được đức Phật phù hộ cho khỏi bị ma, quỷ hại.
– Con có thấy ma quỷ bao giờ chưa?
– Bạch, chưa ạ.
– Con thấy rồi, thấy nhiều rồi mà con không biết đấy thôi.
Nói rồi người chỉ vào tôi:
– Con xem người đi câu, muốn họ câu được cá, như thế là ác quỷ, sát quỷ nhập vào con. Con mới học được mấy chữ Nho, hơn các anh, đã có kiêu khí là quỷ trong tâm sinh ra...
Cứ thế người cử ra hàng trăm tỷ dụ. Tôi kinh hoàng hỏi:
– Như vậy, con quy y để nhờ sức Phật giúp con đuổi quỷ phải không?
– Không, Phật không giúp con đâu.
– Vậy sư phụ giúp con ư?
– Cũng không nốt.
– Vậy thì???
– Ma, quỷ trong tâm con nảy sinh, thì chỉ mình con mới xua đuổi chúng được. Bà dạy con bài kinh Bát-nhã, rồi chính con sẽ dùng kinh này đuổi quỷ. Phương pháp của Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh là sao cho ma, quỷ không hiện, chứ chẳng phải đuổi ma. Ma, quỷ trong tâm con đấy !
– Dạ thưa sư phụ, kinh này con thuộc rồi.
– Con đọc bà nghe nào?
Tôi ngồi ngay ngắn lại đọc thuộc làu như con vẹt. Sư phụ hỏi:
– Tại sao sắc lại là không? Không lại là sắc?
Tôi ngây người ra. Nhưng tôi được học lễ của Nho gia đã một năm, hơi biết tiến, lùi, vội cung tay:
– Con ngu tối, xin sư phụ thương xót dạy cho.
Thế rồi tôi được giảng bài kinh này.

1.ĐI TIM NGUỒN GỐC

1.1. NGUYÊN VĂN

Bát-nhã tâm-kinh là bản văn ngắn nhất của Bát-nhã Ba-la-mật, bản này ngài Huyền-Trang dịch năm 649, gồm 262 chữ. Nguyên văn như sau:

Quán-Tự-Tại bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời,
chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ-ách.

Xá-lợi-tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc;
sắc tức thị không, không tức thị sắc.

Thụ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-lợi-tử! Thị chư pháp không tướng,
bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

Thị cố không trung vô sắc; vô thụ, tưởng, hành, thức;
vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý;
vô sắc, thanh, hương, vị, súc, pháp.

Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới,
vô vô minh diệt vô vô minh tận.

Vô khổ, tập, diệt đạo.

Vô trí diệt vô đắc, dĩ vô sở đắc cố,
Bồ-đề tát-đóa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố,
tâm vô quải ngại,
vô quải ngại cố,
vô hữu khủng bố,
viễn ly điên đảo mộng tưởng,
cứu cánh Niết-bàn, Tam-thế chư Phật,
y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố,
đắc a-lốc-đa-na tam-diểu tam Bồ-đề,
cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa,
thị đại thần chú, thị đại-minh chú,
thị vô thượng chú, thị vô-đẳng đẳng chú,
năng trừ nhất-thiết khổ, chân thực bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú,
tức thuyết chú viết:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ-đề tát bà ha.
Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

1.2.Tạm dịch

Ngài bồ-tát Quán-tự-tại (Avalokitévara) (1) thực hành Bát-nhã Ba-la-mật (2) sâu sa, soi kính thấy rằng có ngũ-uẩn (3), nhưng năm uẩn đó đều không có tự tính.
Này Xá-lợi-phất (Sàriputra) (4) sắc ở đây là không, không là sắc; sắc không khác không, không không khác sắc; sắc tức thị là không, không tức thị là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức đều thế cả.
Này Xá-lợi-phất, hết thẩy các pháp ở đây đều biểu thị là không: chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm; không tăng, không giảm. Vậy này Xá-lợi-phất, trong không không có sắc; không thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có nhãn giới, cũng không có ý thức giới. Không có minh, không có vô minh, không có minh diệt, không có vô minh diệt, bởi vậy không có tuổi già và cái chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí, không có đắc, và không có chứng, bởi không có đắc.
Trong tâm của bồ-tát an trụ trên Bát-nhã Ba-la-mật không có những chướng ngại; bởi không có những chướng ngại đó trong tâm, nên không sợ hãi, vượt ra tà kiến điên đảo, đạt tới Niết-bàn. Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai, do y trên Bát-nhã ba-la-mật, mà chứng đắc giác ngộ viên mãn tối thượng.
Vì vậy, nên biết rằng Bát-nhã ba-la mật là đại thần chú (mantram), là chú của đại minh huệ, là thần chú cao tuyệt, thần chú vô giá, trừ diệt hết mọi đau khổ; đó là chân lý vì không sai lầm; đây là thần chú được công bố trong kinh Bát-nhã ba-la-mật: Này bồ-tát, tự độ lấy mình, độ cho người, độ đến bờ bên kia, độ khắp chúng sinh đến bờ bên kia, để giác ngộ tận gốc.

1.3. Chú giải

(1) Quán-tự-tại (Avalokitésvara) tức là ngài Quán-thế-âm bồ tát. Bồ-tát thường được người Hoa, Việt tôn thờ theo hình bà. Hình này vẽ theo truyền khẩu nói rằng ngài thị hiện ở đảo Phổ-đà (ngoài khơi Thượng-hải). Tôi đã hành hương đảo Phổ-đà nhiều lần. Trên đảo có rất nhiều miếu, am, đền thờ Phật bà cùng chư linh thần khác. Nhưng người Tây-tạng lại thờ theo hình ông, chính ngài là đức Đạt-lai lạt-ma chuyển thế liên tiếp.

(2) Bát-nhã ba-la-mật đa (Prajnâparamita). Người Pháp dịch là la sagesse, vertu cardinale, gồm có hai chữ Bát-nhã (Prajnâ) và Ba-la-mật-đa (Paramita). Bát-nhã là trí-huệ, hay là sức học cao xa của nhà tu Phật. Ba-la-mật-đa là vượt qua mé bên kia (Niết-bàn) và cùng đưa người tới. Bát-nhã ba-la-mật-đa dịch ra Hán-Việt là trí-huệ đáo bỉ ngạn, huệ độ dữ tha nhân đáo bỉ ngạn. Vì ý nghĩa hàm súc như vậy, nên các dịch giả xưa để nguyên Phạn-tự.

(3) Ngũ-uẩn là năm uẩn, năm thứ hòa hợp cấu tạo ra con người, chúng che khuất chân lý khiến cho con người đi vào luân hồi, khổ não. Ngũ uẩn là:

Sắc (Rũpa, forme): là những vật hữu hình.

Thọ (Védana, sensation): Đối cảnh sinh tình, thấy buồn, khổ v.v.

Tưởng (Sanjnẫ, perception): Đối cảnh phân biệt ra mầu sắc, nhỏ, to, đực, cái v.v.

Hành (Samskâràs, impression): Đối cảnh vật sinh lòng ham muốn, hoặc giận, hờn, yêu, ghét.

Thức (Vijnâna, concience): Đối cảnh mà hiểu biết, phân biệt sự vật.
Ngũ-uẩn hiệp lại tạo thành con người, thú vật. Đôi khi ngũ-uẩn còn gọi là bản ngã.

(4) Xá-lợi-phất (Cariputra). Người Hoa dịch là Thu tử (fils de Carica), con bà Thu. Tên một vị đại đệ tử của Phật Thích-Ca. Mẹ ngài có cặp mắt giống như chim thu, nên được đặt tên là Thu và ngài có tên là con bà Thu. Ngài ngang tuổi với đức Thích-Ca, viên tịch trước đức Phật
2. NGUỒN GỐC TÂM KINH

Bát-nhã Ba-la-mật-đa là một trong những kinh điển đại thừa tối cổ của Phật-giáo gồm 125.000 bài tụng. Có nhiều bản dịch, nhưng tôi chỉ được đọc bản dịch của ngài Huyền-Trang mang tên “Đại bát nhã” gồm 600 quyển. Bài Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh là bản yếu chỉ, thu tóm ý nghĩa của toàn bộ kinh Bát-nhã.

Nếu ta theo dõi kỹ, thì trong bài tâm kinh không có gì, ngoài một tràng phủ định, cái được mệnh danh là tính không lại cũng bị phủ định. Vậy kết lại tâm kinh chỉ là một mớ phủ định. Phủ định ngũ uẩn, phủ định thập bát giới, phủ định thập nhị nhân duyên, cuối cùng không có đắc gì cả. Vì không có đắc nào, nên tâm vượt qua mọi chướng ngại, tức những sai lầm khởi từ trí năng, vượt luôn những chướng ngại bắt rễ trong ý thức truy nhận, cảm quan của con người như sợ hãi, kinh khủng, vui vẻ, buồn phiền, thất vọng... Khi được như thế là tới Niết-bàn.

3. ÁP DỤNG VÀO KHÍ-CÔNG

Mục đích của chúng ta không phải là thành Phật là nhập Niết-bàn. Độc giả muốn nhập Niết-bàn thì tìm đến chùa, nghiên cứu kinh điển, bỏ vọng tâm tu luyện. Bộ sách này chỉ hướng dẫn các vị luyện công cho khỏe mạnh, và trị bệnh. Chúng ta dùng phương pháp phủ định của Bát-nhã tâm kinh hầu nhập tĩnh mà thôi. Chúng ta cần sao đạt tới vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý.
Tài sản của ngoctulaa

Chữ ký của ngoctulaa
[SIZE="6"][COLOR="Blue"] nhớ nhà[/COLOR][/SIZE]
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #12  
Old 04-04-2008, 10:21 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
PHẦN THỨ TƯ

CHƯƠNG THỨ BA

CÁC THỨC TĨNH-CÔNG

Tĩnh-công có nhiều tư thức, dưới đây chỉ trình bầy mấy tư thức đơn giản nhất, dễ luyện tập nhất, đó là lập thức, tọa thức và ngoạ thức. Danh từ cổ gọi lập thức là Thiên-địa đồng qui, toạ thức là Nam-Bắc đồng ẩm, và ngọa thức là Thiên-nhân tương dữ.

1. LẬP-THỨC

1.1. MÔ TẢ

– Đứng quay mặt về phương Bắc.
– Hai chân gần như song song, mũi bàn chân hướng về Bắc.
– Độ soạc hai chân cách nhau một khoảng bằng vai.
– Hai bàn chân bám đất như cây mọc rễ.
– Người không nghiêng về trước, sau, phải, trái.
– Lưng thẳng.
– Nếu tóc dài, buông xõa sau lưng. Không nên cột tóc.
– Hai bàn tay buông thỏng, lưng bàn tay quay về trước.
– Lòng bàn tay hơi hướng chếch xuống mặt đất.
– Các ngón tay cách nhau một khe nhỏ.
– Miệng răng hơi mở thành tuyến nhỏ.
– Lưỡi tự nhiên không hoạt động.
– Mắt từ, từ nhắm lại.

1.2. Biến hoá thứ nhất

Từ lập thức biến đổi:

– Hai tay vòng thành vòng cầu, cách nhau một khoảng nhỏ.
– Lòng bàn tay hướng vào người.
– Các ngón tay hơi gập vào thành chiêu thức Thái-cực, và cách nhau một khoảng nhỏ.
– Hai tay cao ngang tới huyệt Chương-môn, Thượng-uyển.

1.3. Biến hóa thứ nhì

Lấy lập thức làm căn bản:

– Hai bàn tay ôm như vòng Thái-cực trước bụng.
– Một lòng bàn tay hướng lên trời, một lòng bàn tay hướng xuống đất.
– Hai bàn tay đối diện với nhau, trong thế song song.
– Bàn tay cao ở ngang huyệt thượng-uyển (bụng trên). Bàn tay thấp ở huyệt khí-hải (bụng dưới).

2. TỌA THỨC

Tức ngồi luyện khí công.

2.1. TỌA THỨC 1

– Ngồi trên mặt phẳng, cạnh giường, trên ghế không dựa.
– Mông đùi đặt trên mặt phẳng.
– Hai đầu gối cách nhau một khoảng bằng vai.
– Hai bàn chân dẫm lên mặt đất, các ngón chân hướng về trước.
– Đầu gối và gót chân nằm trên đường phẳng đứng với mặt đất.
– Hai bàn tay úp lòng xuống đùi. Tay phải úp xuống chân phải, tay trái úp xuống chân trái. Các ngón tay cách nhau một khe nhỏ.
– Hai khủy tay dựa vào hông.
– Lưng thẳng, đầu thẳng không lệch.
– Mắt nhắm, miệng ngậm, răng môi sát nhau.
– Lưỡi chạm răng tóc xõa.

2.2. TỌA THỨC 2

Tức thức bán già của Thiền.

– Ngồi trên mặt phẳng, như đá, xi măng, thảm bồ-đoàn, nệm v.v...
– Bàn chân trái gác trên đùi phải, bàn chân phải nằm dưới đùi trái (hoặc ngược lại).
– Bàn tay trái đặt nằm ngửa, nằm ngang với huyệt khí-hải(bụng dưới). Bốn ngón khép lại, ngón cái tách ra. Bàn tay phải úp lên bàn tay trái. Hai ngón tay cái đè lên nhau. Tám ngón tay gập lại thành nhiều khúc.
– Hai khủy tay khép sát vào người.
– Đầu, mình thẳng, tóc xõa.
– Miệng ngậm, môi răng chạm nhau, đầu lưỡi chạm răng.
– Hai mắt nhắm nhè nhẹ.

2.3.TỌA THỨC 3

Tức thức kiết-già của thiền.

Giống như tọa thức 2, nhưng hơi biến đổi:

– Bàn chân trái gác lên đùi phải ( hoặc ngược lại).
– Bàn chân phải gác lên đùi trái.

Thức này đối với người Á-châu, vốn mềm mại, gầy, rất dễ dàng. Song đối với người Âu Mỹ Úc thì hơi khó. Tuy nhiên trẻ em dưới mười lăm tuổi bắt đầu luyện, thì sau lớn lên, chân đã dẻo, thì không có gì khó khăn cả.

3. NGỌA THỨC

Đây là các thức nằm. Luyện công nằm phải lưu ý các điểm:

– Nằm trên mặt phẳng có thể là nệm, ván, đá v.v.
– Đầu gối cao, ít nhất độ dày gối phải bằng 3/4 đầu.

Có ba ngọa thức.

3.1. THỨC THỨ NHẤT

– Người nằm ngửa, đầu gối cao, thân, mình, thẳng.
– Hai chân song song, hai mắt cá chạm nhau.
– Các ngón chân chỉ lên trời.
– Chân, mình đầu đều nằm trên đường thẳng.
– Hai tay buông xuôi, cánh tay nằm sát thân mình.
– Hai lòng bàn tay úp xuống, mặt phẳng đang nằm.
– Các ngón tay khép nhẹ.
– Mắt nhắm, miệng ngậm, môi răng chạm nhau, lưỡi chạm răng.

3.2. THỨC THỨC NHÌ

– Từ thức thứ nhất, bàn tay trái (hoặc phải) úp lên huyệt khí-hải (bụng dưới).
– Bàn tay thứ nhì úp lên bàn tay thứ nhất.

3.3. THỨC THỨ BA

– Người nằm nghiêng về trái, hoặc phải.
– Thái-dương úp xuống gối.
– Đầu và sống lưng nằm trên đường thẳng.
– Đầu gối lên bàn tay (nếu nghiêng về bên nào thì gối lên bàn tay đó).
– Một chân duỗi thẳng (nếu nghiêng về bên nào, thì chân đó duỗi thẳng).
– Chân còn lại gấp đôi, huyệt trung-phong, nhiêm-cốc của chân này đè lên huyệt khúc-tuyền, âm-cốc chân kia (mặt trong của bàn chân này đè lên mặt trong của đầu gối chân kia).
– Tay còn lại nằm dọc trên hông, huyệt đại-lăng (cườm tay), úp lên huyệt phong-thị (giữa mặt ngoài của đùi)
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #13  
Old 04-04-2008, 10:22 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
PHẦN THỨ TƯ

CHƯƠNG THỨ TƯ

Ý THỦ (TRỤ TÂM, QUÁN TÂM)

Trong tĩnh-công, ý thủ rất quan trọng. Có môn phái gọi là tụ thần, hay linh điểm. Thiền gọi là trụ tâm. Vậy ý thủ là gì?

1. ĐỊNH NGHĨA

Khó nhất của tĩnh công là ý thủ.

Gọi là ý thủ khi ý niệm hoạt động tập trung vào:

– Một bộ vị thân thể, gọi là ý thủ nội thể.
– Một ngoại vật gọi là ý thủ ngoại vật.
– Một danh ngôn, văn từ gọi là ý thủ thần thức.

Ý thủ phải tự ý, không nên cường chế quá. Vũ-kinh nói:

“Bất khả cưỡng hành ý thủ. Nhược cưỡng thủ tắc tâm loạn, hỏa nhiễu, nhi khí huyết loạn dã”.

Nghĩa là: Không nên miễn cưỡng ý thủ. Nếu cưỡng ý thủ, tâm sẽ loạn, thân nhiệt đốt cháy khắp nơi, khí huyết tuần lưu rối loạn hết.

Khi luyện công phải nhớ lời dặn này.

2. CÁC LOẠI Ý THỦ

Như trên đã trình bày có ba loại ý thủ.

2.1. PHƯƠNG PHÁP NỘI THỂ

Nghĩa là làm biến đi cái hình hài của bản thân mình. Mà bắt đầu từ chỗ tập trung tinh thần vào một bộ vị thân thể. Rồi làm biến đi.

Các phương pháp ý thủ nội thể thường dùng là:

– Ý thủ đơn điền, gồm có thượng, hạ, trung đơn điền.
– Ý thủ mệnh môn (giao điểm thắt lưng và xương sống).
– Ý thủ khí hải (bụng dưới).
– Ý thủ dũng tuyền (gan bàn chân).
– Ý thủ túc-đại-chỉ (ngón chân cái).

2.1.1. Ý THỦ ĐƠN ĐIỀN

Có nhiều sách y khoa, võ học các quốc gia khác tranh luận liên miên về vị trí của đơn điền. Có nơi giải thích đơn điền nằm ở giữa hai lông mi, có nơi giải thích đơn điền nằm ở lỗ rốn, có nơi còn giải thích đơn điền nằm ở phần giao tiếp giữa bẹn và bụng dưới.
Sự thực trong tất cả những thư tịch của các khí công gia, cũng như sau nhiều năm dạy võ, dạy khí công, chúng tôi cùng công nhận:

"Đơn điền hữu tam, thượng, trung, hạ”

Như vậy có ba đơn điền: thượng đơn điền, hạ đơn điền, và trung đơn điền.

2.1.1.1. Ý THỦ THƯỢNG ĐƠN ĐIỀN

Thượng đơn điền nằm trên tuyến đốc mạch, ở giữa trán. Đó là khu vực nằm dưới mí tóc. Đốc mạch là nơi tập trung các kinh dương. Đầu đốc mạch là đầu các dương huyệt mạch. Ý-thủ thượng đơn điền mới có thể cho chu lưu các dương khí vào hết dương mạch. Ý-thủ thượng đơn điền rất tốt. Nhưng khi ý thủ thượng đơn điền phạm vào một trong các điều sau:

– Dẫn khí sai.
– Chia trí.
– Không giải trừ hết tạp niệm.

Sẽ sinh ra phản ứng: đau nháy tại hai thái dương huyệt, và bách hội huyệt. Áp-huyết lên cao làm đầu choáng váng.

Vậy người mới luyện, không nên ý thủ thượng đơn điền.

2.1.1.2. Ý THỦ TRUNG ĐƠN ĐIỀN

Trung đơn điền nằm tại bụng trung ương lá lách. Ý thủ tại đây làm cho kinh mạch bên trong điều hòa, làm cho lá lách lành mạnh. Khí từ đây dẫn vào khoảng trống không trong ngực làm tăng khí, cơ năng hoạt động nhất loạt trở thành tốt. Biến hóa công-năng làm cho tiêu hóa tốt.

Ý thủ trung đơn điền rất quan trọng. Vì khi ý thủ tại bộ vị khác, đầu tiên phải ý thủ trung đơn điền, rồi mới chuyển dẫn khí cho ý thủ tại bộ vị đó sau.
Lúc thu công không luyện nữa, phải thu khí tức về trung đơn điền. Phương pháp này gọi là khí tức quy nguyên.

2.1.1.3. Ý THỦ HẠ ĐƠN ĐIỀN hay KHÍ HẢI

Khí hải là một huyệt quan trọng nằm trên nhâm mạch. Y học gọi khí hải là bể để sinh ra khí. Ý thủ tại đây làm tăng thổ nạp bằng bụng. Giúp tiêu hóa dễ dàng. Người mới tập nên ý thủ khí hải pháp.

Khi ý thủ khí hải, nên khởi đầu bằng ý thủ trung đơn điền, làm cơ sở đầu tiên, rồi dùng ý dẫn khí tới. Lúc thu công cũng phải cho khí tức qui nguyên (dẫn khí về trung đơn điền).

2.1.2. Ý THỦ HUYỆT MỆNH MÔN

Mệnh-môn là một huyệt đạo nằm trên tuyến đốc mạch. Trong phép luyện công gọi là hậu đơn điền. Y-Kinh nói:

"Mệnh môn huyệt, thị:
Sinh mệnh môn hộ,
Tinh huyết chi hải,
Đắc tiên thiên chi khí,
Vi hóa sinh chi nguyên”.

Nghĩa là: Mệnh môn huyệt là cửa của sự sống, bể của tinh huyết, lĩnh tiên thiên khí, nguồn gốc sự hóa sinh.

Ý-thủ tại đây làm cho tráng kiện dương-khí, khí hóa tác dụng, thân thể khỏe mạnh.

Muốn ý thủ mệnh môn đầu tiên ý thủ trung đơn điền, làm cơ sở dẫn tới. Sau khi luyện công cũng phải cho khí tức qui nguyên (dẫn khí về trung đơn điền).

2.1.3. Ý THỦ HUYỆT DŨNG TUYỀN

Huyệt dũng tuyền thuộc Túc Thiếu-âm thận kinh, nằm giữa gan bàn chân, chỗ hũng sâu nhất. Ý thủ tại đây có tính chất vững chắc, để dẫn khí xuống dưới, mang độc chất ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên những người máu huyết không đều, chẳng nên ý-thủ tại đây.

Y kinh nói:

« Huyệt dũng tuyền nằm ở gan bàn chân, trên Túc Thiếu-âm thận kinh. Dùng kim, châm huyệt dũng tuyền trị nùng huyết, tâm loạn, ý phiền, sưng cơ tim, da vàng bủng. Đàn bà có tử cung sa, không con. Trẻ kinh phong, ho, mất tiếng.Người lớn lưỡi tê ngọng, năm ngón chân đau nhức, thận yếu, khát nước, tiểu nhiều ».

Khi nhập tĩnh, muốn ý thủ dũng tuyền, phải ý thủ trung đơn điền làm căn bản, rồi dùng ý dẫn khí tới sau. Lúc thu công phải cho khí tức qui nguyên.

2.1.4. Ý THỦ TÚC ĐẠI CHỈ

Túc đại chỉ là ngón chân cái. Ngón chân cái nằm trên cửa hai kinh mạch. Phía trong là Túc Thái-âm tỳ kinh, phía ngoài là Túc Khuyết-âm can kinh. Ý thủ túc đại chỉ làm cho kinh mạch chuyển động. Muốn ý thủ tại đây phải ý thủ trung đơn điền trước, rồi dùng ý dẫn khí tới sau. Khi luyện công phải cho khí tức qui nguyên.

3.2. Ý THỦ NGOẠI THỂ

Phương pháp này tập trung tư tưởng vào một không gian sự vật nào đó, để quên hết phiền tạp xung quanh, tức là tâm an, thần tĩnh. Rồi sau đó tiến tới nhập tĩnh, quên hết, chỉ còn một điểm tư tưởng tập trung mà thôi. Ý thủ ngoại thể rất rộng, dưới đây là một vài tỷ dụ:

– Vào một kiến trúc hùng vỹ.
– Vào một vườn hoa.
– Vào một bức họa đẹp.
– Vào một cảnh trí đẹp.
– Vào tượng một danh nhân.
– Vào mặt trăng, mặt trời, hay các ngôi sao.

Sau khi ý thủ rồi bắt đầu:

– Nhập tĩnh (không hoạt động nữa, im lặng).
– Ninh thần (quên hết sự vật, để hồn yên lặng).
– Điều tức (điều hòa hơi thở cho bình thường).
– Giáng khí (khí trầm đơn điền, điều hòa).
– Giải trừ tạp niệm (phương pháp đã học ở trên).

Hai mắt nhắm đều, dẫn nơi ý thủ biến mất, chỉ còn lại hình ảnh trong tâm thức.

– Về khoảng cách, giữa ngoại vật và bản thân, gần nhất 0.50 m. Xa nhất không giới hạn. Không nên gần quá làm chóa mắt, đưa đến nhức đầu.
– Cao độ giữa vật và mắt nên ngang nhau. Nếu cao quá sẽ cảm thấy nhức đỉnh đầu, tinh thần bất thường. Nếu thấp quá làm nhức phần dưới mắt.
– Về độ lớn, không nên lớn quá, nhỏ quá.
– Không nên để khí tức nội thể đầy hay vơi. Nếu ý thủ vật cao thì để khí tức nội thể cao. Nếu ý thủ vào vật thấp, thì có thể để khí tức nội thể thấp.

Khi xử dụng ý thủ này, luôn luôn nhớ định lý căn bản là: Làm biến đi mọi vật.
3.4. Ý THỦ THẦN THỨC

Đây là phương pháp thuần túy thiền môn để tĩnh tâm, an thần.
Khi nhập tĩnh dùng tư tưởng hồi nhớ lại dĩ vãng hoặc văn từ danh ngôn triết học.

– Phải hồi tưởng lại những gì từ ái, hùng tráng.
– Không nên hồi tưởng lại cảnh khoái lạc ăn uống, khí tức làm trấn động bao tử. Gây nguy hại cho tiêu hóa.
– Không nên hồi tưởng lại những cảnh sầu não, nhớ nhung, buồn nản, lo nghĩ, ác
độc, khủng khiếp v.v.... Những cảnh đó dồn khí lên tim, phản ứng không tốt. Nhẹ khí huyết đảo lộn. Nặng thì thổ huyết, đau tim.
– Không nên hồi tưởng lại những cảnh dâm đãng, luyến ái.

Trong cuộc sống con người, trải qua nhiều sự vật, ngũ quan:

Mắt, mũi, tai lưỡi, da v.v... đều tập trung tại óc nhiều ấn tượng khác nhau. Lúc ý thủ cho xuất hiện để quên hết phiền tạp xung quanh. Khi bắt đầu ý thủ:

– Nhập tĩnh.
– Ninh thần.
– Điều tức.
– Giáng khí.
– Giải trừ tạp niệm.
– Ý thủ. Cho cảnh trí, các câu kinh, văn tự xuất hiện.

Dưới đây là những tỷ dụ:

– Tập trung tinh thần vào kinh Kim-cương, Lăng-già, kinh Bát-nhã.
– Bài hịch tướng sĩ của Hưng-Đạo vương.
– Bài thơ đánh Tống của Lý Thường-Kiệt đánh Tống.
– Bài thơ đánh Mông-cổ của Trần Quang-Khải.
– Bài Phóng-cuồng-ca của Tuệ-trung thượng-sĩ.
– Gần đây có vị ý thủ vào bài Chí-thành thông thánh thi của Phan Chu-Trinh, vào Đạo-đức kinh của Lão-tử, vào Luận-ngữ.

4. KẾT LUẬN

Ý thủ là sự tập trung tinh thần, để có thể đi đến nhập tĩnh. Ý thủ chỉ với mục đích không bị chia trí, hoặc dùng ý thủ như một điểm kích thích vào vận công. Khi thấy ý thủ chưa được hoàn toàn, thì cứ luyện từ từ, không nên cưỡng quá. Vả nếu không luyện được tĩnh công, thì luyện động công, đừng nên vì ý thủ không được mà bỏ luyện tập.
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #14  
Old 04-04-2008, 10:22 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
CHƯƠNG THỨ NĂM

THU CÔNG

Luyện công chấm dứt phải thu công. Phương pháp thu công rất giản tiện.

1. ĐỊNH NGHĨA

Gọi là thu công khi luyện công kết thúc một giai đoạn, một tư thức, của khí công. Quan hệ là khi luyện công không bao giờ ngừng ngang, phải áp dụng phương pháp thu công, nếu không sẽ có nhiều phản ứng như sau:

– Dùng ý, khí, thổ, nạp luyện công mang lại kết quả, ai cũng muốn. Nhưng lỡ luyện sai, luyện xong không thu công thì kết quả không được làm bao.

– Nguyên do, khi luyện công xong, khí tức, nguyên khí, nội ngoại khí nảy sinh chạy hỗn loạn trong cơ thể. Phải dùng phương pháp thu công để dẫn tất cả về trung đơn điền, rồi từ đây sẽ phân tán ra toàn cơ thể, điều hòa. Kết quả sẽ tốt như ý muốn.

1.2. Phương pháp thu công

Sau khi luyện công một thời gian ngừng lại. Dùng ý dẫn khí về trung đơn điền, danh từ chuyên môn gọi là khí tức qui nguyên.

1.2.1. Phương pháp cho nam

– Đứng thẳng, hoặc ngồi bên giường, trên ghế: (Hình TC1)

<picture>

Dùng ý, dẫn khí cùng một lúc tại hai bàn tay, hai bàn chân lên cùi chỏ, đầu gối; rồi vai, háng; đưa vào Trung Đơn-điền (tỳ vị).(Hình TC2)

<picture>

– Dùng phương pháp thổ nạp thông thường.

– Khởi từ trung đơn điền, từ trong ra ngoài theo vòng xoắn trôn ốc, từ vòng nhỏ đến vòng lớn. Theo chiều kim đồng hồ. Đúng 36 vòng.

– Vòng nhỏ nhất là một điểm ở trung đơn điền. Vòng lớn nhất sát tim.

– Sau đó lại dùng ý dẫn khí theo hình trôn ốc từ ngoài vào trong, từ vòng lớn đến vòng nhỏ. 24 vòng, ngược chiều kim đồng hồ.

Vòng lớn sát tim, vòng nhỏ là một điểm..

1.2.2. Phương pháp cho nữ

– Đứng thẳng, hoặc ngồi bên giường, trên ghế (Hình TC1)

– Dùng ý, dẫn khí cùng một lúc tại hai bàn tay, hai bàn chân lên cùi chỏ, đầu gối; rồi vai, háng; đưa vào Trung Đơn-điền (tỳ vị).(Hình TC2).

– Dùng phương pháp thổ nạp thông thường.

– Dùng ý dẫn khí từ trong ra ngoài theo hình trôn ốc, từ vòng nhỏ đến vòng lớn . Vòng nhỏ là một điểm, vòng lớn nhất sát tim. Ngược chiều kim đồng hồ. Đúng 36 vòng.

– Sau đó dùng ý dẫn khí theo hình trôn ốc, từ ngoài vào trong theo chiều kim đồng hồ, từ vòng lớn đến vòng nhỏ, vòng lớn sát tim, vòng nhỏ là một điểm.
Sau khi thu công mở mắt, đứng dậy sinh hoạt bình thường.

2. ỨNG DỤNG ĐẶC BIỆT

Không nhất thiết áp dụng cho thu công mà có thể dùng vào nhiều việc.

– Sau khi tập ngoại công xong, tim đập máu chạy loạn là do công năng hỗn loạn, dùng phương pháp thu công để qui liễm chân khí về trung đơn điền, từ đây sẽ tự động phân phối đi toàn cơ thể.

– Khi chạy mệt, khi xây xẩm mặt mày, khi đầu choáng váng, khi lạnh quá hay nóng quá, cũng có thể áp dụng cho khí tức chuyển nhiệt khắp cơ thể điều hòa.

– Khi mắt máy, ngủ mê mới tỉnh, v.v...

– Những người bị chứng chuột rút, kiến bò (fourmiement), hay bị spasmophilie thì dùng phép thu công để tự trị bệnh.

– Ăn uống tiêu hóa chậm, dùng thu công, khiến công năng ruột tăng tiến, tiêu hóa trở thành tốt
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #15  
Old 04-04-2008, 10:23 AM
ngoctulaa's Avatar
ngoctulaa ngoctulaa is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Mar 2008
Đến từ: Nơi có Tình Yêu em dành cho anh
Bài gởi: 617
Thời gian online: 56 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 27 Times in 16 Posts
PHẦN THỨ TƯ

CHƯƠNG THỨ SÁU

TĨNH CÔNG THỰC HÀNH

(Bẩy lộ tĩnh công căn bản)

Tĩnh công có hàng nghìn, hàng vạn lộ, nhưng có thể chia làm bốn loại chính:

– Một là minh tâm, dưỡng thần, tạo cho người tập thoải mái. Trong Thiền-công, gọi là Thiền-tuệ, dùng để xua đuổi ma nghiệp, ma chướng, giữ giới thể.

– Hai là trị bệnh thần kinh như mất ngủ, hay cáu, hay dỗi, hay giận, tinh thần thất thường, thần kinh suy nhược, trí nhớ giảm thoái, chán đời; nhất là sinh viên học sinh học thi. Trong Thiền-công, gọi là Thiền-y, để chống quỷ A-tu-la nhập khẩu, đưa ra những ngôn từ gây khẩu nghiệp.

– Ba là trị các bệnh do âm hư nội nhiệt, hay thực nhiệt sinh ra: chóng mặt, nhức đầu, huyết áp cao, tai kêu như ve, miệng khô. Đặc biệt trị chứng nhức đầu do uống rượu nhiều, ăn thức ăn sinh nhiệt.

– Bốn là giải ưu uất (refoulement), đòi hỏi sinh lý. Trong Thiền-công gọi là Thiền-tuệ.

Dưới đây, chúng tôi trình bầy 7 lộ căn bản đại biểu cho mỗi loại.

I. Lộ thứ nhất: HỒI SINH CÔNG

1.1 XUẤT XỨ

Không rõ. Có thuyết nói rằng của một thiền sư Việt-Nam là Từ Đạo-Hạnh. Có thuyết nói rằng của giòng thiền Lâm-tế, Quy-ngưỡng Trung-quốc. Đích xác là xuất hiện vào khoảng 1010-1075 tại Đại-Việt và Quảng-Đông Trung-quốc. Mục đích để phục hồi sức khoẻ sau thời gian bệnh nặng, hoặc sau khi làm việc bị mệt mỏi (asthénie physique). Trong cửa Thiền, gọi là Thiền-lực. Hồi niên thiếu (7 tuổi) bản sư dạy cho tôi thức này để trị di chứng bệnh ho gà, hằng năm bị viêm phế quản. Bệnh khỏi sau khi luyện 3 tháng.

1.2. TƯ THỨC

Có thể dùng cả ba tư thức.

– Lập thức (đứng).
– Tọa thức (ngồi).
– Ngoạ thức (nằm).

1.3. ĐIỀU KHÍ

Có thể dùng ba phương pháp sau:

– Thông-thường.
– Ý khí hợp nhất.
– Đạo gia.

1.4. Ý THỦ (Trụ tâm)

Nội thể: trung đơn điền, dũng tuyền.
Thần thức: Nhẩm đọc bất cứ kinh văn, thơ phú nào cũng được.

1.5. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN

– Khai thủy: chọn tư thức.
– Nhập tĩnh: chân, tay, người ngưng hoạt động.
– Điều-tức: điều hòa hơi thở.
– Ninh thần: đầu óc ngưng làm việc.
– Giáng khí: khí trầm đơn điền.
– Giải trừ tạp niệm: bỏ ra ngoài lục tặc.
– Ý-thủ: tập trung tư tưởng vào nơi ý thủ. Mắt từ từ nhắm lại còn một đường chỉ nhỏ.
– Từ khí trầm đơn điền:

BƯỚC 1 (thổ khí)
Dùng ý dẫn khí từ Bách-hội huyệt (đỉnh đầu) tỏa ra 4 phía : sau cổ, hai tai, trán mũi xuống cổ.
– Từ cổ xuống hai vai và đầu xương sống.
– Chia khí làm 3 ngả: hai tay, xương sống.
– Tiếp tục giáng xuống: hai tay tới cùi chỏ, xương sống xuống huyệt mệnh môn (giao điểm cột sống với giây lưng) rồi vào hai thận, sau đó sang trung đơn điền.

BƯỚC 2 (nạp khí)
Dùng ý dẫn khí ở hai tay, tiết ra ở đầu ngón tay (tức sáu huyệt thiếu-thương, thương-dương, trung-xung, quan-xung và thiếu-trạch).
– Trong khi đó cũng dẫn khí từ trung đơn điền tới hậu môn (huyệt hội âm).

BƯỚC 3 (thổ khí)
Dẫn khí từ hậu môn, rồi qua hai đùi, đầu gối, bắp chân, đến lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền), đưa khí ra ngoài như nước chảy.
– Lúc này ý tưởng đưa đến dẫm chân vào thau nước nóng. Toàn thân buông lỏng phóng khí ra ngoài.

BƯỚC 4 (nạp khí)
– Dùng ý dẫn khí từ lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền) tưởng tượng như chân ở trong chậu nước nóng, hút nước nóng vào chân, đưa nước ngược theo bàn chân, bắp chân, đầu gối, đùi về hậu môn (hội âm huyệt), trung đơn điền.
– Hết một thức. Trở lại bước 1. Mỗi lần luyện 36 thức.
– Thu công.

1.6. CHỦ TRỊ

– Điều hòa khí huyết, thức lâu không ngủ.(Insomnie)
– Hoạt động cơ thể nhiều, mệt mỏi tứ chi, đau mình.
– Chữa áp huyết cao, xây xẩm mặt mày.(Hypertention arthérielle, Vertige)
– Chữa khí quản nghẹt.
– Nhâm mạch bị đau.
– Nhiệt khí trong cơ thể bị hỗn loạn, mặt nóng, đầu váng (Nhập ma chướng hay tẫu hỏa nhập ma)..

Lưu-ý chư vị Tăng-ni, quý vị Bác-sĩ, Đông-y-sĩ, Võ-sư, Khí-công gia đồng nghiệp.

Thức này không âm, không dương rõ rệt, cho nên dùng để dưỡng thần, bất cứ bệnh nhân nào luyện cũng được. Tuy nhiên tùy theo hoàn cảnh, bệnh nhân thuộc loại nhiệt chứng, hay hàn chứng, có thể biến đổi:

Biến thành hàn (cho bệnh nhân nhiệt): thổ bằng miệng, miệng mở rộng. Bước thứ 3, 4 đưa đến ý tưởng dẫm chân lên tảng băng, hút nước lạnh.

<picture>

– Biến thành nhiệt (cho bệnh nhân hàn): thổ bằng miệng, nhưng miệng chúm vào, thổ thành hơi nhỏ, má căng thẳng. Bước 3, 4 giữ nguyên.

<picture>

Đối với những người đã luyện lâu rồi, thì chỉ cần hai bước:

– Bước thứ 1 (thổ): Dẫn khí thẳng tới lòng bàn chân.
– Bước thứ 2 (nạp): Dẫn khí từ lòng bàn chân trở về đỉnh đầu.
Tài sản của ngoctulaa

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, , , , bac si tran dai si, bac si tran dai sy, bacsi tran dai sy, bát nhã khí công, bat nha khi cong, bát nhã khí công, cách tập thổ nạp, cách thổ nạp, , khí công đại toàn, khí công thổ nạp, khi cong dai toan, khi cong tran dai si, khi cong tran dai sy, kkhi cong, , , phép thổ nạp, thap thuc bao kien phap, thổ nạp, thổ nạp đạo gia, thổ nạp, thổ nạp âu-á, thổ nạp khí công, thổ nạp là gì, thổ nạp thuật, thuận thiên di sử, tran dai si, tran dai si khi cong, tran dai sy, tran dai sy khi cong, trần đại sỹ, , ,

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™