Ghi chú đến thành viên
Go Back   4vn.eu > Kiến thức > Thế Giới Muôn Mầu > Sách - Tài liệu > Tủ sách Lịch sử - Địa lý > Lịch Sử
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 16-10-2008, 03:33 PM
donkihotexuthanh's Avatar
donkihotexuthanh donkihotexuthanh is offline
Phá Quan Hạ Sơn
 
Tham gia: Apr 2008
Bài gởi: 293
Thời gian online: 0 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 11 Times in 5 Posts
Viên sĩ quan ngụy từng chỉ huy tập kích vào trạm xá của BS Đặng Thùy Trâm

Hồi ức của ông Tôn Thất Khiên, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn. Đơn vị này trong năm 1969-1970 đã nhiều lần tập kích vào trạm xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Sang năm 1972, ông Tôn Thất Khiên đã trở thành Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị.
Đôi điều phi lộ:

Ngày 12/4/2007,từ Cali, Lê Thành Giai mail cho tôi bức ảnh và chú thích: “Đây là khu rừng nơi có trạm xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm vào năm 1969. Nơi đây đã từng bị quân của trung đoàn 4, sư đoàn 2 bộ binh của quân đội Sài Gòn phá hủy. Chỉ huy trưởng trung đoàn lúc đó là Trung tá Tôn Thất Khiên, sau năm 1972, trở thành tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, hiện ông ta đang sống tại Milpitas, California”.

Giai viết thêm: “Kỷ niệm trong lòng người còn sống là những chuyện đau lòng!”.

Tôi vội mail cho Lê Thành Giai: Hãy tìm cách tiếp cận và khai thác ông Khiên về mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972, chắc ông Khiên sẽ là một kho tư liệu sống.

Ngày 13/4, Giai báo tin cho tôi: Đã liên hệ với bà Yến, vợ ông Tôn Thất Khiên, đương là chủ của một cửa hàng hớt tóc tại Great Mall, Milpitas. Ông Khiên trả lời qua bà Yến: Không còn nhớ gì nhưng cho biết: Người trực tiếp chỉ huy các trận càn tại khu vực Phổ Cường là thiếu tá Thảo, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/4, hiện đang sống ở nam Cali. Giai sẽ tìm cách liên hệ với những cựu binh Mỹ còn sống, nhất là những người từng trực tiếp quản thủ hồ sơ chiến tranh của các đơn vị đột kích trạm xá bác sĩ Thùy Trâm.

Ngày 13/4,Lê Thành Giai cho biết sẽ tiếp xúc với ông Khiên, tôi đề nghị Giai cho tôi gửi lời thăm ông Khiên với tư cách là một nhà văn muốn được cung cấp tư liệu chiến tranh.

Ngày 15/4, Lê Thành Giai đã đến gặp bà Yến vợ ông Khiên chuyển lời chào của tôi. Qua điện thoại ông Khiên cảm ơn nghe giọng có phần xúc động. Ông Khiên cho biết từ lâu không ai thăm ông, những chiến hữu của ông ở Cali cũng bặt tin.

Bà Yến cho biết ông Khiên không tham gia hội đoàn nào cả. Khi hai ông bà trao đổi gì đó với nhau qua điện thoại và cho biết ông Khiên nhã nhặn từ chối mọi cuộc gặp gỡ. Khi Lê Thành Giai xin được nói chuyện trực tiếp với ông Khiên và anh đã nhắc lại mối quan hệ trước đây giữa hai người, xin một số thông tin về mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972 theo đề nghị của tôi và muốn biết cuộc sống của ông từ năm 1975 đến nay. Ông Khiên đã trả lời: Ông không muốn nói gì!

Việc tiếp xúc với những sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn để họ mở cửa cõi lòng họ là một chuyện không dễ dàng. Ngày 18/4 Lê Thành Giai tiếp tục điện thoại cho ông Khiên, Giai đã đọc cho ông Khiên 2 câu thơ của anh bộ đội Sư đoàn 325 mà tôi đã gửi cho Giai:

Đò xuôi Thạch Hãn xinchèo nhẹ

Dưới sông còn đó bạntôi nằm...

Câu thơ hình như đã làm cho “ổ khoá” hoen rỉ của tâm hồn ông Tôn Thất Khiên nhúc nhích. Ông đã đồng ý nói chuyện với Lê Thành Giai. “Qua ông Khiên tôi - Lê Thành Giai dần hiểu được rằng: Từ năm 1970-1971 người Mỹ đã nhận ra là họ đã thua. Vì thể diện mà Mỹ đã kéo dài cuộc chiến tranh làm hao tổn thêm không biết bao nhiêu sinh mạng của cả người Mỹ lẫn người Việt”.

Với sự kiên trì, Lê Thành Giai đã mon men vào được cõi lòng của viên sĩ quan cao cấp quân đội Sài Gòn này, hiểu được phần nào thân phận và cuộc sống của họ trong hiện tại.

Ngày 20/4, Lê Thành Giai mail cho tôi: Đương ngồi trong thư viện để ghi chép lại các tư liệu và viết bài gửi cho tôi thì có tiếng còi hú ầm ĩ của cảnh sát an ninh vì có thông tin bị dọa đánh bom. Sinh viên đủ các quốc tịch tranh nhau chạy ra khỏi trường trong sự hỗn loạn. Công việc bỏ ngang không kịp save vì cảnh sát đến bên cạnh hối thúc như sắp “bị ăn thịt”... Nước Mỹ như đang ở trong thời kỳ chiến tranh.

Lê Thành Giai lại phải ghi lại từ đầu về các kỷ niệm cay đắng của ông Khiên: “Từ lâu tôi (LTG) chưa thể hình dung được những sĩ quan cao cấp như ông Khiên đã qua Mỹ như thế nào. Qua tiếp xúc và nghe ông kể lại tôi mới vỡ ra. Ông Khiên và nhiều sĩ quan quân đội Sài Gòn chắc chắn họ còn chứa chất trong lòng nhiều điều nhưng chưa có điều kiện nói ra để thanh thản...”.

Những điều Lê Thành Giai ghi lại dưới đây chắc chắc chỉ là một phần nhỏ của cuộc đời và thân phận của những kẻ lạc đường như ông Tôn Thất Khiên, một tàn binh của cuộc chiến Việt Nam. Điều trớ trêu: Đứa cháu nội đích tôn của ông Tôn Thất Khiên mới ở tuổi 20, sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ cũng đã trở thành thương phế binh do tham gia cuộc chiến Iraq...

“Chẳng còn gì để lại” khi ra khỏi chiến tranh; Những điều cay đắng đó có lẽ không chỉ của riêng gia đình ông Tôn Thất Khiên, cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn...

Phạm Viết Đào

Từ hai câu thơ nói về sự hy sinh của một chiến sĩ Sư đoàn 325 do anh Phạm Viết Đào gửi, tôi đọc cho ông ấy nghe qua điện thoại, tôi nghe ông trầm ngâm: “Người ta không ai còn muốn nhớ đến những người đã ngã xuống một chỗ nào đó trong thời chiến để hôm nay những người còn sống được vui hưởng những gì của thời hòa bình mang lại. Đem chuyện này ra nói có khi còn bị cho là điên khùng không chừng...”.

Người nhà cho biết, ông ấy đã ngồi hàng giờ, hàng ngày, để đọc, để ghi chú, như để giữ trong lòng những gì đã thấy, đã nghe, đã can dự trực tiếp. Có lúc thấy ông sôi nổi đi lại, hoặc ngồi thừ một chỗ. Có điều gì đó đun sôi phía trong của người sĩ quan quân đội Sài Gòn ngày nào. Hình như những vui buồn thay nhau đổi màu trong đầu ông, một cái đầu bị nhiễm hội chứng PTSD (Hội chứng chiến tranh) nhưng vẫn còn biết tự trấn tĩnh.

Trong gia đình ông vẫn ngại nhất thằng cháu nội đích tôn. Thằng nhỏ nhìn những tấm ảnh ông mặc quân phục đủ binh chủng. Mặt nó trâng trâng không cảm xúc trong lúc mắt chạy qua chạy lại các trang trong cuốn album. Nó đột ngột hỏi ông: “Sao hồi đó ông chạy?”.

Trong suy nghĩ của nó, hình ảnh hàng đàn người tranh nhau chạy ra bến Bạch Đằng, leo lên sân thượng tòa Đại sứ Mỹ, ào lên các loại ghe tàu nhắm chạy ra hướng biển Đông để mong được sống sót trong lúc xe tăng quân giải phóng thấp thoáng xuất hiện ở ngã ba Vũng Tàu... coi không được.

Chính ông đã kể cho nó nghe, ba má nó kể cho nó nghe nhiều lần ... kiểu như ai cũng muốn nó hiểu những điều đau đớn và mất mát vì cả nhà phải bỏ chạy sang Mỹ. Mấy thằng bạn của nó cũng nghe người nhà kể những câu chuyện tương tự.

Nghe mãi thằng nhỏ đâm bực. Chung quanh nó, ai cũng chỉ có một đề tài thua trận bỏ nước; họ nói với nhau ngày này qua ngày nọ, rồi thêm thắt cập nhật. Họ nói nó nghe từ ngày nó còn nhỏ cho đến giờ cũng chưa hết chuyện.

Có bữa thằng cháu thắc mắc: “Hồi đó ông có súng sao lại bỏ chạy cho đến nỗi phải than thở đến bây giờ? Sao các ông không ở lại đánh một trận để đời cho khỏi phải ấm ức, khỏi xúm nhau tụ họp biểu tình chạy tội, khỏi bị con cháu ác miệng hỏi cắc cớ?”.

Thằng nhỏ khoan khoái ra mặt vì ông bị kẹt với câu hỏi đó. Câu hỏi từ miệng thằng nhỏ mới lớn giống như một sự trách móc, khinh nhờn. Một ngày đến lượt bạn bè ông bị nó hỏi câu đó.

“Này cháu, cháu có nghĩ đến chuyện hỏi câu hỏi nầy với mấy tay cựu binh Mỹ hàng xóm? Cháu nhớ hỏi thêm tại sao người Mỹ bỏ chạy trước? Đơn giản là như vầy, trong đánh trận hễ thua là bỏ chạy. Mỹ thua nên bỏ chạy trước. Trước đó là Đại Hàn, Phi Luật Tân, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái Lan... cũng chạy trước mới tới Mỹ.

Chính quyền miền Nam không tính kịp đường rút nên chạy tán loạn. Nhờ chạy như vậy nên cháu mới có đường được Mỹ tiếp nhận và cho nhập cư. Không lửa sao có khói, xem ra cái chạy của lớp lớn thiệt có lợi cho lớp nhỏ”.

Ngày thằng cháu đích tôn của ông được đưa về từ Iraq, cả nhà lên Palo Alto thăm. Nhìn nó ngồi trên chiếc xe lăn ai cũng chảy nước mắt. Hết rồi! thằng nhỏ bị trúng mìn đạp nổ bung mất một chân.
Căn phòng nghe toàn mùi ê te. Nó ngồi hướng mặt ra cửa sổ, mặt không chút cảm xúc. Dĩa thức ăn trưa còn nguyên trên bàn. Nó nhìn dãy đồi vàng cỏ chạy xa, lên xuống lượn vòng.

Theo lời y tá, thằng nhỏ sẽ ở lại Vet Hospital chừng sáu tháng nữa. Nó sẽ ngồi trên xe lăn để thử sự kiên nhẫn trước cuộc phiêu lưu thứ hai. Cuộc phiêu lưu đầu tiên của nó đã nhằm phải đất xấu; chỉ kéo dài hơn một năm kể từ ngày vô quân trường tới lúc bị thương.

Trước thời Iraq, tụi hàng xóm lớn hơn nó hăng hái gia nhập quân đội để đỡ tiền học, để có tương lai do quân đội sắp đặt, để được du lịch đây đó theo quảng cáo của ban tuyển mộ, và được hưởng quyền lợi suốt đời sau vài năm phục vụ trong đạo quân viễn chinh kinh niên.

Sáu tháng sẽ qua nhanh, nó sẽ về lại nhà với cặp nạng + một chân giả, và nó sẽ có những sinh hoạt giống ông. Trong đầu nó đã tạm yên tiếng súng nổ, nhưng còn vất váng những âm thanh vô hình. Ngày nào nhìn trong gương thấy mình không còn lành lặn nó sẽ thù ai? Thù thằng Iraq đào hố đặt mìn nửa đêm hay oán đồng đội không dám lên kéo nó xuống băng bó cứu chữa kịp thời.

Mấy thằng bạn cùng trường nghe tin nó về kéo lên thăm. Đứa nào cũng an ủi, động viên cố gắng làm lại cuộc đời theo... truyền thống quân đội. Nó mới đủ 20 tuổi hồi tháng 2/2007. Đứa nào nhìn nó mới thấy mình còn may mắn và bớt đi tính thích làm anh hùng.

Hồi cuối năm trung học, mấy đứa hung hăng thường được tụi yếu sức khích bác: “Mày muốn làm anh hùng cứ đi Iraq, ở đây chỉ có học trò”. Đi Iraq làm anh hùng không nhiều; đa số đi lính để khỏi làm thân “báo đời” cho gia đình. Mới có bốn năm mà thay đổi nhiều quá.

Nhìn ra ngoài, tỷ lệ thất nghiệp tựa như đường bay cất cánh của chiếc máy bay chuồn chuồn đang leo lên độ cao là là. Người thất nghiệp tuần trước có thể phải ngước cổ nhìn lên để thấy đồng sự đang ở vị trí trên mình trong bảng danh sách đang xin trợ cấp thất nghiệp. Ông thở dài: “Mấy đời dính líu quân sự. Ông nội đi lính Pháp, đến tôi là sĩ quan làm việc chung với Mỹ, còn nó, là lính biên chế thực thụ của quân đội Mỹ. Không ai có được kết cục an nhàn như trong phim, trong sách”.

Hồi ở Việt Nam ông từng cứu giúp nhiều con cháu. Tự tay ông đưa thằng A về hậu cứ, nhờ bạn bè đưa thằng B về bộ chỉ huy sư đoàn... một cú điện thoại với lời gửi gắm thằng con đứa cháu được đưa về chỗ an toàn. Nhớ thời có quyền thế mà tiếc.

Ở Mỹ, ông không thể giúp gì cho ai. Ông phải nhìn thằng cháu trở thành người thương tật. Ở tuổi ông, thời đã qua, chẳng ai còn nghe ông dù lời ông nói vẫn còn ý nghĩa. Từ nó, ông nhìn thấy mình còn lành lặn nhưng không khác gì thương tật.

Ông leo lên chiếc tàu hải quân ngày 29/3/1975 chạy sang đảo Guam. Từ ngày bắt đầu nắm chức trung đoàn trưởng ông đi về bằng trực thăng, máy bay, xe jeep. Lên chức, ông đi từ Quảng Trị về Sài Gòn bằng máy bay phản lực.

Gia đình ông cũng hưởng lây những phương tiện di chuyển đó. Ngày chạy làng từ Huế về Đà Nẵng bằng trực thăng; trực thăng bốc hết gia đình. Ông nhớ lại trong lúc tiếng cánh quạt ầm ầm phía trên, cả nhà cuống cuồng thu dọn được thêm chút nào hay chút nấy.

Cảnh chạy trốn ai ngờ có ngày phải vướng. Trực thăng bay trên, xe quân sự xe đò chở người chạy loạn phía dưới như chạy đua với trực thăng. Ở những chỗ tiếp xăng, trực thăng phải xếp hàng như xe Honda xếp hàng đổ xăng.

Về Đà Nẵng mấy ngày chưa kịp hoàn hồn phải chạy tiếp. Mạnh ai chạy nấy tìm đường thoát về Sài Gòn. Từ Sài Gòn ông leo lên tàu hải quân với cái túi bên vai chứa huy chương, bằng tưởng lục, hình chụp chung với tướng tá Mỹ... ông tin rằng mấy món đó sẽ giúp ông đỡ phải giải thích với người Mỹ vì ông thiếu Anh ngữ.

Ngày 28/4/1975, tay cố vấn Mỹ Peter gặp riêng ông khuyên rằng, “đưa ngay gia đình đến tại số ... Ngô Thời Nhiệm, quận 1, (Cơ quan USAID) để lên danh sách đi Mỹ. Còn ông theo tôi”. Ông đã chạy từ Quảng Trị về Đà Nẵng, rồi chạy tiếp về nhà Sài Gòn. Vừa chạy vừa nghe ngóng. Hình như mọi người đã chạy trước bỏ ông lại.


Chân dung Đặng Thùy Trâm chụp năm 1960
Hẹn gặp Peter ở Ngô Thời Nhiệm buổi chiều, buổi trưa ông vào Bộ Tổng tham mưu thấy trống trơn quân tướng nhưng hỗn loạn vô chừng. Tạt qua Tân Sơn Nhất ông bị Quân cảnh chĩa súng ra lệnh quay lui. Mới chưa chi mà chẳng ai nể ai.

Về lại Ngô Thời Nhiệm không gặp gia đình cũng không gặp Peter. Nhân viên người Mỹ chạy lung tung. Có ai đó nói nên chạy tới tòa đại sứ. Đường sá chen chật xe cộ, quân trang súng ống vứt đầy đường. Một tay đệ tử nhận ra ông, nó nói đi với nó xuống bến Bạch Đằng kẻo không kịp.

Ông có nhiều bạn bè bên hải quân. Ông quýnh quáng tạt qua nhà cũ, vơ chiếc túi xách. Thằng đệ tử dẫn ông chen lấn trong dòng người xuống tàu. “Qua tới Guam tôi gặp lại người nhà,” ông nói nhỏ.

Tính lại, ông đã buộc phải bỏ tỉnh bỏ lính bỏ quyền chức, bỏ dân... để chạy. Ông nói: “ Chẳng còn thể thống gì ngay khi quả đạn pháo của địch rơi trúng mái nhà tỉnh đường”. Tiếng nổ chát chúa trên không như lời cảnh cáo rằng “có chân hãy chạy lẹ”.

Từ mấy năm qua, hình ảnh những mùa hè đỏ lửa, tổng công kích Mậu Thân, đã hằn sâu ấn tượng kinh hoàng vào đầu người lính, bởi vậy nghe tiếng đạn pháo vọt qua đầu nổ tung phía trước, ai nấy nín thở hú hồn, rồi mạnh ai nấy chạy. Lúc chạy chết, quan quân dân sợ chết như nhau.

Ông chạy chung với nhóm cố vấn Mỹ bằng trực thăng nên khỏi phải cởi quần áo lính mặc quần áo thường dân ngụy trang. Vợ con ông được đi trước với đám nhân viên Mỹ, Phi. Nhóm đi trước có thì giờ thu gom tài sản thành gói nhẹ. Ông chạy sau chỉ mang túi xách đựng giấy tờ, huy chương và bằng tưởng lục.

Hồi loạn lạc ai nấy mặt xanh như nhau. Lên máy bay Air America bay từ Đà Nẵng về Sài Gòn cả nhà bị dồn ngồi sụp trên sàn tàu như chở bò. Ghế ngồi dành cho nhân viên Mỹ. Lúc cái sống kề cái chết sát chẳng ai còn sợ nhục.

Lúc nhúc trong hầm tàu hải quân với dân chạy mấy ngày trời ông mới được hạm trưởng vị tình kêu lên boong cho nhìn biển xanh. Mới mấy ngày lênh đênh mà ai nấy cũng như... tù. Nhìn quanh thật chán ngán, thật sợ. Trên tàu dân đi hôi chia nhóm dành nước dành thức ăn như hải tặc chính cống. Trong lúc cảnh ăn uống mỗi ngày của quan quân cũng bầy hầy giành giật không kém.

Tay Mỹ trắng phụ trách thanh lọc di dân nhìn ông từ đầu xuống chân. Bộ quân phục có lon lá đầy đủ bị lấm bẩn cả tuần lễ. Đúng là tàn quân. Ông đưa tay chào, nó không chào trả, mặt nó lạnh nhách. Nó hỏi ông, ông lắc đầu. Hồi trước cần trao đổi bàn bạc có phiên dịch riêng, nay ông chỉ có lắc đầu. Người thông ngôn được gọi đến và nói gì đó với tay thanh lọc.

“Chú cởi bỏ cấp bậc rồi nói chuyện. Ở đây không có quan hay lính. Chỉ có người tỵ nạn và ban tiếp nhận người Mỹ” - Người thông ngôn nói lại lời người Mỹ ngồi trước mặt nghe như tiếng máy thâu băng. Ông dợm đưa huy chương bằng tưởng lục cho nó biết... cặp mắt xanh lè của tay Mỹ nhác thấy, phất tay. “Nó nói chú vứt mấy món đó đi. Ở đây không ai xài”.

Người thông ngôn vừa nói vừa đưa tấm giấy nói ông khai lý lịch và nguyên do chạy đến Guam. Ông muốn quát lên một tiếng to cho hả tức nhưng không dám. Từ bữa tách bến ông nghiến răng bậm gan nuốt không biết bao nhiêu cực nhục. Ông ôm chặt túi xách, ngồi xuống khai.“Ba mươi mấy năm qua tôi vẫn còn nhớ buổi đón tiếp đó”, ông nói.

“Qua tới đây người Mỹ đối xử với sĩ quan cao cấp cũng có chút gì đặc biệt chứ, thưa ông?” - Tôi hỏi an ủi nhưng không thể hình dung khuôn mặt người quen nhiều năm chưa gặp đang cầm điện thoại bên kia đầu dây.

Tôi đã từng làm việc giúp ông trên căn cứ Tiger, Quảng Ngãi năm 1969, tôi từng gặp lại ông tại Chi khu Gio Linh, Quảng Trị, ngày 28/3/1972. Hồi đó đi bên ông là cố vấn Mỹ, là cận vệ. Tôi nhớ rõ khuôn mặt ông, người đang lên chức gặp thời trong chiến tranh. Nhưng qua mấy lần tiếp xúc với bà gần đây, tôi có thể tưởng tượng gia cảnh của ông không sung túc như nhiều sĩ quan cao cấp khác.

Thực tế, mấy chục năm được nương náu trên đất Mỹ nhưng nhiều người vẫn chưa tìm ra cơ hội làm giàu trên miền đất hứa. Tiếc cho họ đã quá tuổi xông xáo. Im lặng đến mấy chục giây đồng hồ, có tiếng ho nhẹ, rồi tiếng nói bên kia nghe chán ngắt, “cũng giống như bao nhiêu người khác thôi. Đặc biệt gì, mình hết thời rồi!”.

Lê Thành Giai- Theo : TPO



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của donkihotexuthanh

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
bac si dang thuy tram, , sĩ quan ngụy, sĩ quan nguỵ, sỹ quan ngụy, si quan nguy,

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™