Ghi chú đến thành viên
Go Back   4vn.eu > Kiến thức > Thế Giới Muôn Mầu > Sách - Tài liệu > Tủ sách Lịch sử - Địa lý > Lịch Sử
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 07-04-2008, 07:12 PM
tarta12a's Avatar
tarta12a tarta12a is offline
Cái Thế Ma Nhân
 
Tham gia: Feb 2008
Bài gởi: 1,035
Thời gian online: 35 phút 40 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 35 Times in 18 Posts
ĐÔI ĐIỀU VỀ CON NGƯỜI VÀ GIAI THOẠI BA GIAI TÚ XUẤT - Vũ Văn Luân

Ba Giai Tú Xuất đã có một thời nổi danh khắp Hà Thành về những chuyện nghịch ngợm. Biết vậy, nhưng về con người, gốc tích thế nào thì chẳng ai tường tận. Người ta chỉ biết và hiểu các ông qua truyền miệng và các truyện ghi chép sau này gọi là truyện cười hoặc giai thoại. Chính người nghe, người kể, người sưu tầm biên soạn thành văn bản cũng chẳng hiểu gì hơn ngoài các truyện kể lưu truyền trong dân gian đã biến hóa qua nhiều thế hệ và tiếp nhận nhiều cách nhìn, cách hiểu khác nhau mà không một ai giám quyết đoán nó là thực hay hư, đúng hay sai. Mà nói cho cùng thì đúng hay sai cũng chẳng ai bắt bẻ được, vì bản thân nó đã là sản phẩm văn hóa tinh thần dân gian trong quá trình hình thành và phát triển. Một điều cũng cần nói rõ hơn, chính hai con người ấy một phần là không thấy lịch sử ghi chép, một phần là do lai lịch bản thân hai ông trong bối cảnh lịch sử xã hội lúc đó có nhiều điều đánh giá phức tạp, nên cũng chẳng ai quan tâm đến việc khảo cứu lai lịch của các cá nhân ấy làm gì.

Nay lịch sử đã đi qua trang mới. Những chuyện về Ba Giai Tú Xuất, dẫu chẳng phải là một vấn đề lớn lao, hệ trọng trong lịch sử thì nó cũng là một hiện tượng văn hóa đã một thời xôn xao dư luận khắp Hà Thành sau những ngày Hà Nội đau thương và anh dũng chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp lúc chúng đánh chiếm thành. Không chỉ là một hiện tượng văn hóa đối với thời điểm lịch sử lúc đó mà còn là một hiện tượng có liên quan đến việc nhận diện một dòng văn học trong kho tàng truyện cười dân gian nước ta qua các văn bản kể về Ba Giai Tú Xuất đã lưu truyền và đang in ấn phát hành hiện nay.

Trong kho tàng truyện cổ dân gian nước ta có nhiều chuyện kể. Đó là một truyện cổ tích cố sự, là một giai thoại, lại có khi là một truyện cười có chứa đựng nội dung phản kháng các thế lực xã hội được dân gian hóa thành những con người tài giỏi với những nét trí tuệ sắc sảo khác thường ví như các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Trạng Quét, trạng Bờ Ao (còn gọi là Tả Ao)… Nó ra đời, tồn tại, biến hóa và phát triển theo phương thức truyền miệng qua nhiều địa phương, nhiều thế hệ, và bao giờ cũng bắt đầu từ một con người thực, việc thực sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định được dân chúng ghi nhận.

Ba Giai Tú Xuất là một dạng chuyện kể như thế. Nó được truyền đi và phát huy tác dụng riêng trong những bối cảnh lịch sử xã hội định qua người nghe, người kể, người ghi chép và biến hóa qua các địa phương, qua cách nhìn của mỗi người… Các chuyện kể đầu tiên là chuyện kể về Ba Giai. Chuyện như sau:

Sau khi kinh thành thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết, đi đến đâu khắp Hà Thành người ta cũng thấy mọi người túm năm tụm ba đàm tiếu và kể cho nhau nghe những mẩu chuyện hài hước về bốn viên quan văn võ có trọng trách của triều đình trong việc giữ thành đã hèn nhát lẻn trốn hoặc vô liêm sỉ bắt tay với giặc, mở cửa thành cho giặc vào… Kèm theo mỗi chuyện kể ấy, người ta còn truyền tay nhau 4 bài thơ nôm chép tay bêu riếu 4 viên quan ấy tương truyền là của Ba Giai người làng Hồ Khẩu. Khi Hà Nội đã trở thành nhượng địa, rồi thuộc địa của Pháp thì khắp phố phường Hà Nội từ trong công sở đến ngoài đường phố người ta lại thấy xuất hiện nhiều chuyện hài hước diễu cợt quan huyện Thọ và những kẻ vô liêm sỉ do có thành tích nịnh bợ Tây, hoặc khéo léo khôn ngoan luồn lọt chúng mà có được một chút địa vị, hoặc trở nên giàu có thì vênh vang hách dịch, trưng diện lăng xăng, lên xe xuống ngựa, mề đay, bài ngà áo gấm xúng xính, lộm nhộm khoe mẽ khắp phố phường đã làm cho nhiều người bất bình. Sau mỗi câu chuyện kể, lại thấy người ta truyền miệng theo một bài thơ và nói nhỏ với nhau là của ông Ba Giai, người làng Hồ Khẩu. Những chuyện kể và những bài thơ nôm diễu cợt ấy, sau này đều thấy có ghi trong các sách văn học sử và hợp tuyển thơ văn yêu nước có chú thích tương truyền là của Ba Giai.

Tên tuổi buổi đầu của Ba Giai xuất hiện trước dân chúng là như vậy. Sau lại thấy có một số chuyện nghịch ngợm diễu cợt việc quan Thượng Giai dựng chùa bên hồ Gươm và lại có cả chuyện diễu cợt đùa vui một nhà sư xin oản chuối… Không rõ Ba Giai gặp và kết bạn với Tú Xuất như thế nào, vào lúc nào. Theo tài liệu của ông Lữ Huy Nguyên kể lại trong bản kể về truyện Ba Giai Tú Xuất của mình qua lời kể của giáo sư Nguyễn Tường Phượng thì hai ông thường gặp gỡ rủ nhau chơi bời vào thời gian giữa hai lần Pháp đánh chiếm thành Hà Nội (1872-1882). Lúc đó Ba Giai đang theo học cụ cử Tiến Song Ngô Văn Dạng ở trường Đại Tập Kim Cổ gần ngôi nhà số 7 phố Hàng Bè, nơi thân mẫu của giáo sư buôn bán ở đó. Có lẽ cùng từ quan hệ học hành thi cử mà hai ông kết thân với nhau. Ba Giai xuất thân trong một gia đình có truyền thống học vấn, mặc dù không đỗ đạt cao. Ông nội và chú ruột đều làm quan huyện thừa. Cha làm nghề thuốc phúc hậu và đức độ. Bản thân Ba Giai thông minh học giỏi, có tài làm thơ nôm, nhưng việc học hành không đạt. Gặp hoàn cảnh đất nước loạn lạc, ông đã nghỉ học lập một xưởng in sách tam tự kinh ngay ở trong làng gọi là nhà sách Quảng Văn để sinh sống và có điều kiện học hỏi giao lưu với bạn bè. Ông là người con thứ ba của cụ Nguyễn Đình Báu tên là Giai nên dân làng thường gọi là Ba Giai. Chính tộc phả của dòng họ này là do một người cháu chi trưởng chắp bút, ông viết đề tựa. Còn Tú Xuất là con một đốc học Hà Nội, gốc ở Thanh Hóa hoặc Nghệ An thường trú ở xã Phương Trung huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông xưa, nay là Hà Tây, đến Tú Xuất là đời thứ tư. Tú Xuất cũng thuộc dòng họ Nguyễn Đình nhưng không phải cùng gốc với Ba Giai. Ông là con trai trưởng của cụ Nguyễn Đình Lập. Cụ Lập đỗ cử nhân năm Gia Long thứ 12 (1812), là đốc học Hà Nội, có thời gian cụ đã làm đốc học lục tỉnh, là giám khảo khoa thi hương ở Nghệ An. Vì có con trai là Tú Xuất gà bài cho bạn bị lộ nên cụ Lập bị truất chức làm giáo thụ (theo sách các ông nghè thời Nguyễn). Ông nội Tú Xuất là Nguyễn Đình Linh. Hai ông chú của Tú Xuất cũng đỗ sinh đồ làm giáo thụ. Như vậy dòng họ Tú Xuất cũng là dòng họ có học vấn. Cha có quyền lực không lớn nhưng có quan hệ rộng rãi với nhiều nhà khoa bảng và quan chức trong tỉnh. Với Tú Xuất, ông có học hành lăn lộn nhiều năm với khoa cử. Thông minh, tri thức hơn người, nhưng năm lần qua trường thi hương, ông vẫn không vượt qua được vũ môn để thành ông nghè, ông cống. Có lẽ vì trái duyên với khoa bảng nên ông đã kết thân với Ba Giai rồi trở thành một cặp bài trùng trong các chuyện nghịch ngợm. Thế là một lần nữa trên đất Hà Thành lại rộ lên các chuyện mà mọi người cho là "táo trời" là "bạo thiên nghịch địa", dân chúng thì nhiều người khen và cảm phục. Còn nhà cầm quyền và một số kẻ bị chọc ghẹo thì lên án, kết tội, phỉ báng gieo lên đầu họ đủ mọi điều xấu xa. Có lẽ chưa bao giờ ở đất Hà Thành văn hiến nghìn năm này lại có những chuyện tha hóa về đạo đức và phẩm giá của con người như ở thời kỳ này. Nói như một số các soạn giả về sách Ba Giai Tú Xuất đã viết thì đó là một xã hội đã suy đồi, kỷ cương đổ nát. Quan lại rặt là một lũ cướp ngày, mà trường thi chỉ còn là một cái chợ đấu giá. Trong cái xã hội giao thời ấy, đồng tiền bắt đầu lên ngôi thống trị, nó len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống con người, điều khiển mọi công việc, khiến ngay cả những nhà nho xưa, dù đỗ đạt làm quan hay ngồi dạy trẻ thậm chí là đi cầy, họ nghiêm khắc là thế, mà nay có một số người cũng chẳng coi liêm sỉ, lòng tự trọng và cả lòng tự tôn dân tộc là gì nữa.

Trong bối cảnh xã hội nhiễu nhương đó, lúc ban đầu người ta thấy xuất hiện các trò nghịch ngợm diễn ra trên đất Hà Đông, do thầy trò con ông đốc học Hà Nội gọi là Tú Xuất gây ra. Sau, có Ba Giai tham dự thì các chuyện nghịch ngợm dân chúng đồn đại là các ông chẳng từ một đối tượng nào. Từ quan tổng đốc, tri phủ tri huyện, chánh tổng lý hương, hào lý ở địa phương đến những người buôn bán ở chợ tỉnh chợ quê. Hễ cứ thấy họ nghênh ngang cậy tiền, cậy quyền thế để ức hiếp kẻ khác yếu hơn mình, ngứa mắt là hai ông chọc ghẹo gây cười để làm nhục họ cho bõ ghét. Thế là Ba Giai trở thành một cặp bài trùng với Tú Xuất. Từ việc căm ghét bọn chó săn tay sai, nịnh bợ Tây dùng lời thơ trào lộng chế diễu chúng, Ba Giai đã cùng Tú Xuất biểu lộ thái độ bất bình, không chấp nhận cái trật tự xã hội đó bằng trí tuệ theo cách riêng của mình để đánh gục uy thế của chúng bằng cách phơi trần bản chất và bộ mặt thực của chúng ra trước đông đảo quần chúng. Các trò nghịch ngợm bằng trí thông minh đầy chất hài thể hiện qua từng câu nói, lối nghĩ, lối hành động ấy (trừ một số truyện nhảm nhí thô tục các soạn giả gán ghép vào sau này) khiến ta liên tưởng đến các truyện Trạng Quỳnh. Có thể nó không nhẹ nhàng thâm thúy và sâu cay bằng các trò nghịch ngợm của ông Trạng ấy, nhưng rõ ràng là nó đã hạ gục được nhiều đối tượng mà ông ta cho là quái ác nhất và cả những đối tượng mà từ xưa "Phụ mẫu chi dân", làm cho chúng nhục nhã ê chề chỉ còn có cách chết đứng hoặc cúi đầu mà xin buông tha trước tiếng cười hả hê của quần chúng mới thôi. Có lẽ cũng vì vậy mà ông Lữ Huy Nguyên đã coi các trò nghịch ngợm của Ba Giai Tú Xuất là các trò quái ác, nhưng đáng yêu. Còn đông đảo quần chúng thì coi sự xuất hiện của hai ông như một vị cứu tinh. Các ông xuất hiện bất kỳ ở những nơi nào có cái xấu cái ác ngự trị, dân chúng cho là "thế thiên hành đạo". Hiện thực và sự thực về hai con người này lúc ban đầu là vậy, nhưng rồi khi nó biến thành giai thoại, tức là chuyện kể về những con người thông minh tài giỏi có trí tuệ sáng suốt hơn người được quần chúng ngưỡng mộ, rồi biến thành truyện cười được người nghe, người kể truyền miệng thêm thắt, đặc biệt là khi nó đã được thể hiện thành văn bản qua nhiều thế hệ, nhiều địa phương, được mọi người thêm thắt, gán ghép thêm chuyện này chuyện khác vào hoặc hư cấu theo yêu cầu thẩm mỹ của mình cho phù hợp thì các truyện ấy đã biến hóa trong quá trình tồn tài và phát triển thành truyện về một nhân vật khác, không phải là con người của Ba Giai Tú Xuất nữa rồi. Đấy là chưa nói đến chuyện khi người chép truyện hư cấu biến nhân vật ấy thành một điển hình xấu theo cách nhìn của cá nhân mình.

Tình hình ấy đã dẫn tới tình trạng hiện nay có nhiều bản kể khác nhau, không phân biệt được bản quyền. Sơ bộ từ cuốn Ba Giai Tú Xuất của ông Trương Vĩnh Ký xuất bản năm 1882 đến nay có khá nhiều bản kể. Lấy một số mốc từ xa nhất đến gần đây thì có: Ba Giai (Truyện giải buồn) của Nguyễn Nam Thông do Nhật Nam thư xã ấn hành năm 1934; Tú Xuất chơi ngông 4 tập của Nguyễn Nam Thông do tân dân thư quán xuất bản năm 1936 và 1938; Ba Giai Tú Xuất do nhà xuất bản Đồng Tháp xuất bản năm 1990; Ba Giai Tú Xuất tái bản lần thứ tư của Tú Tân do nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2000; Truyện Ba Giai Tú Xuất của Lữ Huy Nguyên do nhà xuất bản văn học xuất bản năm 2003; Ba Giai Tú Xuất của Nhân Văn do nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2005.

Các soạn giả trên đã nghe, đã kể, đã viết về Ba Giai Tú Xuất như thế nào?…

Trước hết một soạn giả là đồng hương với Tú Xuất ở Thanh Oai Hà Đông, người đã được cháu Tú Xuất cung cấp tài liệu cho ông hoàn thành 4 cuốn viết về các trò chơi ngông của Tú Xuất, trong lời giới thiệu sách của mình ông đã coi Ba Giai Tú Xuất là những quái vật Hà Thành. Riêng đối với Ba Giai, ông cho là một người lãng mạn giang hồ, tinh ma quỷ quái đứng đầu nhiều tổ chức nguy hiểm như đứng đầu một băng đảng du côn 400 thằng ở Hà Thành - là hội trưởng trung ương thống lĩnh 8 chi đảng kẻ cắp rải rác khắp 8 cửa ô Hà Thành - là tổng giám sát 2000 thằng hủi chia làm ngót trăm chi bộ đóng rải rác ở khắp Bắc Kỳ có tổng bộ đặt ở đình Ô Đông Mác Hà Nội - Đặc biệt là ông còn giữ chức tổng thanh tra cho một hội trinh thám đủ cả sư sãi, cô đầu, nhà thổ, trộm cắp, ăn mày… chuyên việc dò thám các tin tức binh gia bên triều đình để mật báo cho mấy đảng giặc lớn đang đánh phá quanh Bắc Kỳ lúc bấy giờ.

Về phần truyện, ông có chép 13 truyện chơi bời nghịch ngợm của Ba Giai, trong đó có tới 4 truyện đi chơi nhà thổ quỵt tiền và lừa đảo, 3 truyện khác là các truyện lừa đảo ăn cắp, ăn hàng quỵt ở chợ và ở quán ăn. Những chuyện này không rõ là ông sưu tầm ghi chép lại từ trong dân gian lúc đó, hay là ông đã lấy các chuyện đã xảy ra ở xã hội thời ông sống vào những năm từ 1930 đổ về sau, để gán ghép vào theo yêu cầu thẩm mỹ của mình nhằm chứng minh cho những lời giới thiệu và đọc các truyện ông Thông ghi chép thì quả thực Ba Giai là một nhân vật thiên hạ ở Hà Thành gớm mặt là phải lắm.

Sự thực không phải là như thế. Đọc lại những bài thơ nôm và các chuyện kể kèm theo mà dân chúng Hà Thành cùng các tài liệu từ xưa ghi chép tương truyền là của Ba Giai đã giới thiệu ở trên thì thời kỳ lịch sử, xã hội Ba Giai sống và được chứng kiến, mới chỉ là giai đoạn từ Pháp đánh chiếm Hà Nội, Hà Thành thất thủ đến những năm Hà Nội mới bắt đầu trở thành nhượng địa của Pháp (sau năm 1888) mà thôi. Năm 1892, khi các cuộc khởi nghĩa của nhân dân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây do ông Tư So lãnh đạo bị dập tắt thì Ba Giai Tú Xuất đã vắng bóng ở Hà Thành rồi. Lúc đó cái tệ chơi nhà thổ chưa đến mức công khai và tha hóa đến mức như truyện kể. Nhà cầm quyền và quan huyện Thọ lúc bấy giờ có bầy ra cái lệnh cấm **, nhưng chúng vẫn thậm thụt dẫn các ông Tây vào nơi có gái chứa thì chính Ba Giai (theo lời truyền) đã làm bài thơ nôm cùng tên diễu cợt cái chủ trương giả nhân, giả nghĩa của chúng, nhằm móc tiền của những cô gái bất hạnh. Cũng theo những lời truyền thì sau năm 1892, Ba Giai đã cùng Tú Xuất vào Sài Gòn. Theo sách Việt Nam ca trù biên khảo của ông Đỗ Bằng Đoàn xuất bản năm 1962 thì lúc ở Sài Gòn, Ba Giai có đi chơi hát Ả đào. Mà chơi hát Ả đào lúc đó vẫn còn là một cái thú thanh tao của các giai nhân mặc khách, chưa tiêm nhiễm cái văn hóa nhục dục theo kiểu phương Tây nhập vào. Ba Giai lúc bấy giờ cũng đã lâm vào bế tắc trong cuộc sống, muốn mượn tiếng đàn, tiếng phách và lời ca của người đẹp để rãi bày tâm sự. Trong kho tàng Ca trù mà ông Đỗ Bằng Đoàn sưu tập còn lưu lại hai bài thơ nôm: Của đời vẫn thế và Lớn đầu to cái dại do ông sáng tác để ca cùng người đẹp lúc đó. Thực tế như thế. Trong nhiều bản chép từ xưa cũng không thấy chép các truyện Ba Giai đi chơi gái nhà thổ nhảm nhí như vậy, trừ bản kể của ông Nguyễn Nam Thông ghi chép vào thời kỳ các tệ nạn ấy đã trở thành một sản phẩm văn hóa hết sức đồi bại của xã hội thực dân mà các nhà văn hiện thực, phê phán như Nguyên Hồng và Vũ Trọng Phụng đã nêu lên trong sáng tác của mình. Các bản kể khác không ghi chép, hẳn không phải là không có lý do. Còn các lời kết tội không phải bàn nhiều cũng đã rõ. Chỉ có giọng lưỡi của nhà cầm quyền mới có lời lẽ quy kết gay gắt như thế. Những ăn mày, kẻ cắp, du côn, người hủi ở đất Hà Thành đâu có được đưa vào những tổ chức chặt chẽ như thế. Nếu có là sự thật thì phải chăng chính đó lại là những tổ chức yêu nước của nhân dân Hà Nội mà sử sách đều có ghi chép ví như hội tín nghĩa. Hội gồm 500 người lao động nghèo khổ do ông Dương Hữu Quang người làng Động Cừu huyện Thanh Oai, Hà Đông là thủ lĩnh thành lập năm 1883, hội Tri tri Bắc Kỳ gồm 2000 người do ông Vương Quốc Chính, người làng Cổ Am tỉnh Hưng Yên thành lập năm 1892 là thủ lĩnh. Hội có trụ sở đặt ở Hà Nội. Đấy là chưa kể đến tổ chức yêu nước của ông Trần Vọng và tổ chức đánh Pháp của văn hội Thọ Xương gồm 200 người do cử nhân Ngô Văn Dạng đứng đầu thành lập từ sau lần thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất (1872). Một tổ chức nữa cũng cần phải trả lời rõ câu hỏi là "hội trinh thám, trong đó có cả sư sãi, cô đầu, ăn mày trộm cắp… chuyên việc do thám các tin tức binh gia của triều đình để bí mật cung cấp cho mấy đảng giặc lớn đang đánh phá quấy rối xung quanh Bắc Kỳ là những tổ chức gì?… và mấy đảng giặc đánh phá, quấy rối xung quanh Bắc Kỳ là những đảng nào?… Phải chăng chính đó là lực lượng các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương mà lãnh tụ là Nguyễn Thiện Thuật và cụ Đề Thám lúc bấy giờ!… Đấy là những tổ chức yêu nước của nhân dân Hà Nội và các tỉnh xung quanh như Hà Đông, Sơn Tây và Hưng Yên,… tự vũ trang để chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp trong khi triều đình đã tỏ ra bất lực… nên nhà cầm quyền đã coi các tổ chức đó là tổ chức nguy hiểm tựa như những dịch bệnh mà chúng gọi là "những thằng hủi".

Có thể Ba Giai không phải là người đứng đầu các tổ chức ấy, nhưng là một nhân vật có liên quan đến các lực lượng và tổ chức yêu nước khi chúng đã ý thức được tác dụng của bài Hà Thành chính khí ca cùng với nhiều bài thơ nôm yêu nước khác mà dân chúng ở Hà Thành cho là của Ba Giai. Đó là sự thực mà nhà cầm quyền đã ghép vào các chuyện nghịch ngọm diễu cợt các quan chức không kể lớn nhỏ của Ba Giai từ sau buổi Hà Thành thất thủ cùng với các chuyện nghịch ngợm của ông và Tú Xuất thành những hành động đối kháng có liên quan đến chính trị và an ninh xã hội. Ông Nguyễn Nam Thông đã đứng trên quan điểm ấy để phê phán quy tội Ba Giai là oan uổng cho ông.

Còn chuyện trong các bản kể khác, có bản lại hư cấu bịa đặt thêm một số truyện trai gái tục tĩu cùng với những cuộc trả thù bạn tình vừa tàn ác vừa đểu cáng, không có một chút giáo dục thẩm mỹ nào. Có thể nói trong một số truyện, qua một vài bản kể, người chép truyện đã coi nhẹ hoặc xa rời ý tưởng thẩm mỹ ban đầu khi chuyện được truyền tụng trong dân gian, biến những chuyện kể vốn là những giai thoại rất đẹp về hai con người thực ở ngoài đời vốn thông minh có tài ứng xử, có lối nói, lối nghĩ lúc nào cũng sắc sảo luôn tập trung mũi nhọn phản kháng vào cái xấu, cái ác, cái lố lăng, kệch cỡm của một trật tự xã hội thối nát buổi giao thời dưới ách thực dân. Nói như Nguyễn Nam Thông, mặc dù như lời ông đã kết tội Ba Giai ở bên trên, khi nói đến tài năng của những con người này, ông vẫn phải kính nể coi đó là những con người tài trí. Ông thừa nhận Tú Xuất là một người dòng dõi trâm anh thế phiệt, một người có học vấn uyên bác, biện luận hùng hồn, mưu trí mẫn tiệp… Và ông cũng thừa nhận Ba Giai là một chàng trai đĩnh ngộ, có thể có sự nghiệp vẻ vang vang động bốn phương, lưu truyền thanh sử, chỉ vì vận hội nước nhà phải đến lúc điên nguy mà ông trở nên lêu lổng. Cuối cùng ông Thông đã hạ một lời khuyên mọi người là "Chớ nên chê trách cái đời phóng túng, lãng mạn của bọn Ba Giai Tú Xuất".

Về phẩm hạnh và nhân cách của Ba Giai Tú Xuất là vậy. Còn các giai thoại đã trở thành truyện cười, truyện tiếu lâm như đã nêu trên rõ ràng là các bản kể đã xa rời mục tiêu thẩm mỹ biến hai con người thông minh vốn căm ghét cái xấu cái ác đã một thời dũng cảm chống lại nó được quần chúng ngưỡng mộ, thành những điển hình xấu của một xã hội đã gây ra nhiều bất bình trong dân chúng. Như vậy từ việc lệch hướng mục tiêu thẩm mỹ, một vài truyện đã mất dần chất dân gian trong nội hàm của nó khiến dân chúng và ngay cả những người làm công tác nghiên cứu cũng khó nhận diện nó là truyện gì trong kho tàng truyện cổ dân gian nước ta.

V.V.L



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của tarta12a

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, ba giai, ba giai tu xuat, ba giai tu xuat la ai, ba giai tu xuat pdf, ba giai va tu xuat, ba rai tu xuat, bagiai tuxuat, chuyen ba rai tu xuat, giai thoai ba giai, hai ba giai tiu xuat, su tich ba giai tu xuat, tieu lam ba giai tu xuat, tieu su ba giai tu xuat, tieulam bagiai tuxuat, truyên ba giai tu xuât, truyện về ba giai, truyen ba giai tu xuat, truyen na rai tu xuat, truyenchoiboi.com

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™