Ghi chú đến thành viên
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 28-06-2008, 09:42 AM
killer1310 killer1310 is offline
Diệt Thế Ma Thần
 
Tham gia: May 2008
Đến từ: tp ho chi minh
Bài gởi: 217
Thời gian online: 1 ngày 0 giờ 18 phút
Xu: 0
Thanks: 2
Thanked 0 Times in 0 Posts
Người Mỹ và chiến tranh Việt Nam

Phần 1
Nixon và Kissinger
Từ một đứa học trò tiểu học thường bị những đám trẻ thuộc nhóm Đức Quốc xã ăn hiếp ở quê nhà, rồi thành một anh binh nhì đào những hố cá nhân đầy đất đỏ trong trại lính Mỹ ở South Carolina... cho đến khi được ngồi trong căn phòng lớn nhất ở tầng lầu thứ bẩy của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đời của Kissinger là một cuộc đời ngoại hạng - dựa trên bất cứ tiêu chuẩn nào. Sự nghiệp của Kissinger được nhiều người ca tụng, nhưng cũng không thiếu kẻ dèm pha, đả kích.
Heinz Alfred Kissinger sanh năm 1923, tại Furth, một làng nhỏ ở ngoại ô thành phố Nuremburg, Đức. Mẹ ở nhà nội trợ; cha dạy học. Phía bên nội thích con cái theo ngành sư phạm; phía bên ngoại thì giàu và trung lưu hơn. Theo lời bà mẹ kể lại, lúc còn nhỏ Kissinger thích đọc sách, hay trầm tư, và rất ngoan học kinh đạo. Nhưng năm ông chào đời cũng là năm những luồng sóng bài Do Thái đang nổi lên ở Đức vài năm sau đệ nhất thế chiến. Ở Nuremberg, một đảng viên cuồng tín Đức Quốc xã là Julius Streicher xuất bản một tuần báo, kêu gọi triệt tiêu tất cả những người Do Thái [1] . Năm 1935, phong trào bài Do Thái ở Đức lên gần cực độ khi Bộ luật Nuremberg cấm hôn phối giữa Đức và Do Thái; cấm Do Thái không được hoạt động hay làm nhiều ngành nghề, trong đó có nghề dạy học - một nghề duy nhất mà cha của Kissinger có thể đem lợi tức về nuôi gia đình. Khi thấy chủng tộc Do Thái đang bị dần dần cô lập, mẹ của Kissinger - có thân nhân đang ở New York - quyết định ra đi. Tháng 8 năm 1938, khoảng ba tháng trước ngày những đám đông cuồng tín Đức Quốc xã nổi lên đốt phá, huỷ diệt văn hoá, định chế xã hội và tôn giáo của Do Thái (được gọi là Kristallnacht), Kissinger, người em trai, và song thân rời Đức di cư qua Mỹ. Đến Mỹ, Kissinger đổi tên Heinz thành Henry - Henry Alfred Kissinger.
Kissinger hội nhập vào xã hội Mỹ chậm hơn những người bạn cùng lứa, có lẽ tại thích đời sống nội tâm, nhưng không đến nổi bị thụt lùi đằng sau. Từ bậc trung học, Kissinger làm việc ban ngày, đi học ban đêm. Theo học bạ ở trường, Kissinger học giỏi, nếu không nói là xuất sắc, ở những năm cuối của bậc trung học và năm đầu ở trường đại học City College of New York. Kissinger nói mộng của ông rất đơn giản: chỉ học ra trường đại học và hành nghề kế toán. Và có thể Kissinger đã trở thành một kế toán viên nếu Hoa Kỳ không nhảy vào thế chiến thứ hai. Tháng 2 năm 1943, Kissinger bị động viên và lên đường nhập ngũ. Trong thời gian thụ huấn căn bản quân sự ở trung tâm huấn luyện Camp Croft, South Carolina, Kissinger được hợp thức hoá trở thành công dân Hoa Kỳ. [2]
Sau khoá căn bản quân sự Kissinger và tất cả những tân binh khác được thi một khoá thi định lượng khả năng chuyên môn. Quân đội Hoa Kỳ thường tuyển chọn những quân nhân ưu tú bằng loại thi tuyển này, để lựa ra các quân nhân có khả năng chuyên môn và gởi đi học các lớp huấn luyện đặc biệt cao hơn. Kissinger được tuyển chọn và gởi về một đại học ở Pennsylvania để tiếp tục huấn luyện. Ở khoá huấn luyện đặc biệt này, so với đám bạn quân nhân ưu tú đồng môn, Kissinger đã chứng tỏ ông ta ưu tú hơn. Theo bạn bè kể lại, lúc nào Kissinger cũng kè kè có sách vở bên người: ăn, ngủ, thở, đều với sách vở. Niên học đó Kissinger lấy 12 lớp và được điểm ưu cả 12. Nhưng khoá học chưa đầy một năm thì bị đình chỉ vào tháng 4.1944: Hoa Kỳ chuẩn bị đổ bộ lên Âu Châu; quân đội cần tất cả quân nhân để tác chiến, dù ưu tú, trí thức, hay là không. Kissinger không muốn ra tác chiến nên thi vào quân y để tránh. Ông đậu khoá thi nhưng không được tuyển chọn. Kissinger và nhóm bạn bị đưa về trại Fort Claireborne, Louisiana, nhập vào Sư đoàn 84 bộ binh, tiếp tục huấn luyện kỹ thuật tác chiến để chuẩn bị đổ bộ lên Âu Châu. Ở Sư đoàn 84 bộ binh, Kissinger gặp một người làm đời ông thay đổi.
Tư lệnh Sư đoàn 84 là một thiếu tướng. Ông thiếu tướng này có một binh nhì làm việc cho ông, vừa là thông dịch viên, vừa và chuyên viên về chiến tranh tâm lý. Nhưng binh nhì Fritz Gustav Anton Kraemer không phải là một binh nhì tầm thường. Sanh năm 1908 ở Đức, trong một gia đình thượng lưu người gốc Phổ (Prussia). Gia đình Kraemer khinh bỉ Hitler, coi Hitler chỉ là một tên hạ sĩ quèn gặp thời. Kraemer có chứng chỉ ở London School of Economics và hai bằng tiến sĩ ở Đại học Frankfurt và Đại học Rome. Đang làm việc cho Liên hội Quốc gia (League of Nations, tiền thân của Liên hiệp quốc bây giờ) ở Ý thì đệ nhị thế chiến xảy ra. Kraemer quyết định sống cuộc sống tự lưu đày ở xứ người, không muốn trở lại Đức. Khi Mỹ tham chiến, Kraemer qua Mỹ đầu quân. Trong thời gian phục vụ tại Sư đoàn 84, ban huấn luyện cần người nói tiếng Đức để giả làm đối phương trong các cuộc tập trận, và Kraemer tình nguyện giả làm sĩ quan Đức trong những lần tập trận đó. Vị tư lệnh Sư đoàn 84 để ý Kraemer và gọi ông về làm việc trong bộ tư lệnh sư đoàn. Ngoài nhiệm vụ là thông dịch viên, Kraemer còn phụ trách về tâm lý chiến: giải thích về ý thức hệ Đức Quốc xã và sự nguy hiểm của Hitler ở Âu Châu. (Vào đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ động viên tất cả mọi thành phần trong xã hội, và ít người được miễn dịch như những cuộc chiến mà Hoa Kỳ liên hệ đến sau nầy. Một số đông tân binh là những giáo sư, sinh viên, trí thức... Và các bộ tư lệnh thường có những buổi học tập về tâm lý chiến để giải thích sự gia nhập của Hoa Kỳ vào thế chiến chống lại trục quân sự Đức - Ý - Nhật.)
Một hôm, Kissinger là cử toạ trong một bài diễn thuyết của Kraemer. Nghe Kraemer giảng xong, Kissinger viết cho Kraemer một lá thư ngắn, tự giới thiệu, và đề nghị Kraemer một cách diễn thuyết hay hơn. Kraemer (lớn hơn Kissinger 16 tuổi) hơi sửng sốt về tính chất thẳng thắn của Kissinger, nhưng cũng muốn gặp coi Kissinegr là ai. Gặp nhau, Kramer thích lối suy nghĩ của Kissinger (Kissinger có một bộ óc chính trị khác thường, Kraemer nói cho Kissinger biết); trong khi Kissinger thích tính ngạo mạn, thái độ bất cần và phong cách quí tộc của Kraemer. Quen được Kraemer làm thay đổi cuộc đời của Kissinger: chỉ trong ba năm, từ một anh binh nhì vô danh, với ước vọng tầm thường trở thành một kế toán viên, Kissinger được mọi người chú ý và - quan trọng nhất - nhờ Kraemer, Kissinger đã khám phá ra những tiềm năng trí thức chưa được phát triển đúng mức bên trong.
Khi Sư đoàn 84 bộ binh đổ bộ lên Âu Châu và tiến vào nước Đức, thiếu tướng Bolling, tư lệnh sư đoàn, nhận lời tiến cử của Kraemer, cho Kissinger về làm tài xế, thông dịch viên và tuỳ viên cho ông. Trong thời gian các sư đoàn Hoa Kỳ được lệnh tạm thời quản trị các vùng trong phạm vi trách nhiệm của họ, vì không đủ chuyên viên hành chánh rành cả hai ngôn ngữ Anh - Đức, Kissinger được giao trách nhiệm quản trị cả một quận lỵ nhỏ ở gần Frankfurt. Tháng 6.1945, mang lon trung sĩ và có chức vụ chỉ huy trưởng một biệt đội phản gián chuyên truy lùng những đảng viên Đức Quốc xã đang lẩn trốn quân đội Đồng minh, Kissinger có thẩm quyền bắt giữ tất cả những ai nằm trong vùng trách nhiệm của ông [3] . Giữ chức vụ đó chưa đầy một năm thì Kraemer tìm gọi Kissinger: Kraemer vừa thành lập một trường tình báo ở gần Munich, mục đích của trường là huấn luyện các sĩ quan Đồng minh khám phá những tổ chức Nazis còn sót lại, và tái lập thẩm quyền dân sự cho nước Đức. Kissinger nhận lời. Ban đầu Kissinger dạy như là một quân nhân trong ban giảng huấn của trường. Nhưng khi xuất ngũ và được mướn trở lại như một giảng viên dân sự, Kissinger được trả lương 10.000 mỹ kim một năm, một số tiền khá lớn vào năm 1946. Những học viên của trường - sau này là những nhân vật có nhiều thẩm quyền của chính phủ Mỹ, hay khoa trưởng ở những đại học nổi tiếng - đều công nhận Kissinger có lối nói chuyện và một tư cách rất thẩm quyền, nếu không nói là độc đoán. Với số lương cao như vậy, nhưng Kissinger muốn trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục học. Nhất là khi người đở đầu của ông, Kraemer, khuyên ông nên có một mảnh bằng đại học. Kissinger được nhận vào Đại học Harvard và nhập học vào mùa thu năm 1947. Năm đó Kissinger được 24 tuổi.
Ở Đại học Harvard Kissinger học giỏi và tạo cho mình một tên tuổi, nếu không nói là một huyền thoại. Chọn ngành Chánh quyền và Triết học là môn căn bản, Kissinger không gia nhập một hội đoàn nào ở trường, không tụ tập vào những cuộc hội họp cuối tuần, và cũng không tham dự vào môn thể thao nào. Kissinger chỉ học và có một cuộc sống gần như cô độc. Vì Kissinger học giỏi từ năm đầu, ông được liệt vào hạng sinh viên danh dự và được trường đề cử một giáo sư để làm cố vấn. Vị giáo sư đó là William Yandell Elliott, một trong những giáo sư nổi tiếng về ngành nhân văn của Đại học Harvard đương thời. Cũng như Kraemer, lúc đầu giáo sư Elliott ngộ nhận Kissinger chỉ là một sinh viên thường như những sinh viên khác mà ông đã bị trường bắt làm cố vấn. Để tỏ sự khó chịu và để cho Kissinger biết ông là một giáo sư cố vấn khó tánh, giáo sư Elliott bắt Kissinger đọc 25 quyển sách để viết cho ông một luận đề, so sánh giữa lý trí thuần tuý và lý trí thực nghiệm trong hệ thống triết học của Immanuel Kant. Theo lời kể của hai người bạn ở chung phòng, Kissinger vào thư viện mượn tất cả những quyển sách đó về chất trong phòng, rồi đêm nào ông cũng thức đến hai giờ sáng đọc và viết. Ba tháng sau Kissinger nộp bài cho giáo sư Elliott. Nộp bài buổi sáng thì buổi chiều giáo sư Elliott gọi điện thoại muốn Kissinger trở lại gặp ông. Gặp Kissinger, Elliott nói từ trước đến nay chưa có một sinh viên nào đọc hết những quyển sách ông chỉ định, và chưa có sinh viên nào viết được một luận đề mạch lạc như bài viết của Kissinger [4] . Trong một lá thư giới thiệu ông viết cho Kissinger, giáo sư Elliott nói trong năm năm qua, ngay cả trong nhóm sinh viên liệt vào hàng tối ưu, ông chưa gặp ai có một cái nhìn sâu sắc về triết lý chính trị như Kissinger. Bốn năm ở Harvard, Kissinger chỉ có một lớp bị điểm B, tất cả các lớp còn lại đều điểm A. Vào năm thứ hai ở đại học, Kissinger lập gia đình với một cô bạn đã quen biết từ thời trung học. Vợ Kissinger cũng là người Đức gốc Do Thái, cũng chạy tị nạn Nazis cùng thời với ông.
Tiểu luận cử nhân của Kissinger ở Đại học Harvard làm ông trở thành một huyền thoại; một “tiểu" luận đã làm cho Harvard đề ra một qui luật mới về cách viết tiểu luận ở bậc cử nhân. Tiểu luận của Kissinger mang tên “Ý nghĩa của lịch sử”, dầy 383 trang. Nội dung chánh của tiểu luận nói về phương thức phân tích lịch sử; thẩm định lại để coi lịch sử có phải là một sự tất định - trong ý nghĩa lịch sử là định mệnh - hay lịch sử là hậu quả của những quyết định đến từ những cá nhân trong lịch sử tạo ra. Kissinger bàn về nhận định của triết gia Immanuel Kant; nhà xã hội học Oswald Spengler; và sử gia Arnold Toynbee. Không mấy ai nói nhiều - hay đọc hết - về tiểu luận của Kissinger. Nhưng với tiểu luận đó và thứ hạng trong suốt bốn năm học, Kissinger tốt nghiệp cử nhân hạng tối ưu. Và cũng qua tiểu luận của Kissinger, đại học Harvard qui định từ đó về sau, tiểu luận bậc cử nhân không được quá 150 trang. [5]
Nếu Kissinger đã may mắn gặp được Fritz Kraemer, thì Kissinger may mắn hơn lúc được William Elliott đở đầu. Khi Kissinger quyết định tiếp tục theo học lên bậc tiến sĩ ở Harvard, Elliott tìm mọi cách để giúp đỡ Kissinger về vấn đề tài chánh. Mùa hè năm 1951, trong lúc Kissinger đang viết luận án tiến sĩ, giáo sư Elliott cho Kissinger phụ trách một chương trình quan trọng mà sau này (khi Kissinger trở thành Cố vấn an ninh quốc gia, rồi Tổng trưởng ngoại giao) đã giúp đỡ Kissinger liên lạc dễ dàng với nhiều yếu nhân quan trọng trên thế giới. Chương trình do giáo sư Elliott đề nghị có tên là Hội thảo Quốc tế Harvard. Đây là một khoá hội thảo mùa hè do Đại học Harvard tổ chức. Những thành phần được chọn đến tham dự là những lãnh tụ, khoa bảng trẻ, có nhiều tương lai ở quốc gia của họ. Kissinger được Elliott cho phụ trách tuyển chọn những người tham dự [6] . Nhiều người theo dõi sự nghiệp của Kissinger cho rằng Harvard International Seminar là bắt đầu của Kissinger vào thao trường chính trị. Ngoài nhiệm vụ phụ trách Harvard International Seminar, Kissinger còn ấn hành một tạp chí với nội dung về chính trị quốc tế có tên là Confluence: An International Forum (Hội tụ: một diễn đàn quốc tế). Tạp chí phát hành bốn số một năm, và Kissinger đã thu hút được nhiều tác giả khoa bảng có tiếng lúc đương thời. [7]
Tháng 5 năm 1954, Kissinger được cấp bằng tiến sĩ qua luận án “A World restored: Metternich, Castlereagh, and the Problems of Peace 1812-22”. Một luận án rất lỗi thời so với những sôi động trong giới khoa bản và lý thuyết gia về chiến lược nguyên tử đương thời. Trong luận án, Kissinger phân tích về vai trò của Clemens von Metternich, Thủ tướng Áo, và Ngoại trưởng Anh, Robert Steward Castlereagh, trong cuộc hội nghị ở Vienna để bàn về số phận của Pháp và Napoleon, và tạo lại thế quân bình trên lục địa Âu Châu sau khi ảnh hưởng của đế quốc Pháp tàn lụn. Trong lịch sử ngoại giao quốc tế, Metternich được nhắc đến nhiều với đường lối ngoại giao bí mật để thương lượng thế lực giữa các cường quốc. Metternich hô hào những biện pháp như đàn áp và kiểm duyệt để duy trì an ninh nội bộ của một quốc gia. Kissinger tán dương Metternich, cho rằng nhờ nhà ngoại giao này mà Âu Châu được yên tĩnh cho đến khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. [8]
Với bằng tiến sĩ trong tay, Kissinger hy vọng được bổ nhiệm một chức giáo sư trong ban giảng huấn của Harvard. Nhưng Harvard không bổ nhiệm ông một chức gì thực thụ, ngoài chức tạm thời là phụ giáo. Thất vọng, nhưng Kissinger kiên nhẫn ở lại Harvard, dù hai trường đại học khá có tiếng khác mời ông về dạy với chức giáo sư thực thụ (Đại học Chicago và Đại học Pennsylvania). Kissinger kiên nhẫn ở lại Harvard vì biết đó là tụ điểm của tiếng tăm và danh vọng.
Làm phụ giảng chưa đầy năm thì một may mắn tình cờ khác xảy đến với Kissinger. Giáo sư sử học Arthur Schlesinger, Jr., của Harvard có viết một tiểu luận chỉ trích chiến lược nguyên tử đương thời của Hoa Kỳ cho tạp chí ngoại giao và chính trị Foreign Affairs. Ông nhờ Kissinger đọc và cho ý kiến. Kissinger đọc và viết lời phê bình về bài viết của Schlesinger. Bài phê bình của Kissinger làm cho Schlesinger thích đến độ ông gởi bài phê bình của Kissinger đến chủ bút tờ Foreign Affairs; và bài viết đầu tiên về an ninh quốc gia và chiến lược nguyên tử của Kissinger được đăng trên một nguyệt san tên tuổi, chuyên nghiên cứu về đường lối ngoại giao Hoa Kỳ. [9] Sau khi bài viết được đăng trên Foreign Affairs, và nhờ sự giới thiệu của những giáo sư danh tiếng ở Harvard như Elliott, Schlesinger, hay McGeorge Bundy, Kissinger được mời vào làm giám đốc một ban nghiên cứu về ảnh hưởng của vũ khí nguyên tử đối với đường lối ngoại giao. Kissinger xin Harvard cho nghỉ dạy một thời gian và dọn về New York làm việc. Ban nghiên cứu do Kissinger làm giám đốc (mà hội viên là những thành phần nổi tiếng trong giới quân sự, tình báo, kinh tế và ngoại giao Hoa Kỳ đương thời) nằm trong một cơ sở có tiếng nói rất quan trọng đối với nền ngoại giao Hoa Kỳ: Hội đồng Liên hệ Ngoại giao (Council on Foreign Relations). Khi đặt chân vào làm việc cho Council on Foreign Relations, Kissinger mới thật sự đối diện với cơ cấu và quyền lực của Chính phủ Hoa Kỳ [10] . Làm việc chung với những chuyên gia tên tuổi về quân sự và ngoại giao chuyên về chiến lược nguyên tử, sau 18 tháng làm việc miệc mài, năm 1957, Kissinger hoàn tất một tác phẩm được nhiều người trong giới chính trị, ngoại giao và quân sự nhắc đến: Nuclear Weapons and Foreign Policy (Đường lối ngoại giao và vũ khí nguyên tử). Tác phẩm được chánh quyền Mỹ chú ý; giới chuyên nghiệp bàn tán, và nằm trên đầu những quyển sách bán chạy nhất ở Mỹ trong 14 tuần lễ liên tục. Nhưng theo những nhà quan sát, Kissinger chỉ “khoa bảng hoá” ý nghĩ và suy luận của các chuyên viên làm việc chung với Kissinger. Tác phẩm của Kissinger bán chạy chỉ vì đúng vào thời điểm và sự hiếu kỳ của độc giả trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh đang diễn ra giữa hai siêu cường Nga - Mỹ [11] .
Sau thời gian ở Council on Foreign Relations, sau khi tên tuổi đã được ít nhiều sự chú ý trong cộng đồng khoa bảng, Kissinger trở lại Harvard. Đại học Harvard bổ nhiệm Kissinger chức giảng sư, rồi phó giáo sư; và giáo sư thực thụ vào năm 1962. Tuy trở về Harvard dạy, nhưng Kissinger vẫn tiếp tục giữ liên lạc với Council on Foreign Relations và các cơ sở có ít nhiều liên hệ với chính quyền. Cuối năm 1962, Kissinger được 34 tuổi, có hai con, trai và gái, và đã ly dị vợ.
Khi chúng ta nói về sự may mắn trong cuộc đời, có lẽ khó ai gặp nhiều may mắn như Kissinger. Kissinger biết Kraemer lúc còn một binh nhì trong lính; được giáo sư Elliott giúp đỡ khi mới vào Harvard. Rồi trong thời gian làm việc ở Council on Foreign Relations, Kissinger gặp một bảo nhân khác quan trọng hơn, thế lực hơn: nhà tỉ phú Nelson Rockefeller [12] . Nelson Rockefeller biết Kissinger qua những lần hội thảo về tình hình an ninh quốc gia/quốc tế (Nelson là phụ tá cho tổng thống Eisenhower về an ninh quốc tế một thời gian), và trong thời gian Kissinger làm việc cho Council. Nelson kính nễ Kissinger, nghĩ rằng ông có thể nhờ vào trí thức và khoa bảng của Kissinger để cố vấn trong cho sự nghiệp chính trị của ông về sau. Từ năm 1956 cho đến năm 1968, Nelson đích thân mướn Kissinger soạn thảo và nghiên cứu nhiều dự án cho cá nhân ông. Năm 1969, khi Kissinger chánh thức về làm việc cho chính phủ (Cố vấn an ninh quốc gia cho Nixon), Nelson đã biếu Kissinger 50000. mỹ kim như một món quà đưa tiễn [13] . Đã lọt vào thế giới khoa bảng, giáo khoa, ở Đại học Harvard, bây giờ, nhờ sự quen biết với Nelson Rockefeller, Kissinger lại được giới thiệu, hay có dịp làm việc chung những khuôn mặt quan trọng trong Chính phủ Hoa Kỳ.
Năm 1961, khi John F. Kennedy nhậm chức tổng thống, vị tổng thống trẻ tuổi này đưa hầu hết các bạn bè đồng môn ở Harvrad về làm việc cho ông (Kennedy cũng tốt nghiệp ở Harvard năm 1940, hạng danh dự cum laude). Một trong hai giáo sư đang dạy ở Harvard là Schlesinger và McGeorge Bundy được Kennedy mời về làm cố vấn và phụ tá quan trọng trong toà Bạch Ốc. Theo lời mời của Bundy, Kissinger được về làm cố vấn bán thời gian ở Hoa Thịnh Đốn. Nhưng trong thời gian làm việc ở toà Bạch Ốc, thái độ và tư cách của Kissinger gây nhiều khó chịu cho nhiều người - trong đó có Tổng thống Kennedy và cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy. Thấy mình không được trọng dụng trong chính phủ Kennedy - hay là thấy không ai thích mình - Kissinger làm chưa tới một năm rưỡi thì từ nhiệm, trở về Harvard tiếp tục nghiên cứu và viết sách. Năm 1964, khi Nelson Rockefeller ra tranh cử vòng sơ tuyển trong Đảng Cộng hoà cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, Kissinger là cố vấn cho Nelson về vấn đề an ninh quốc phòng. Nelson thua, và Đảng Cộng hoà đề cử Thượng nghị sĩ Barry Goldwater ra tranh cử lại Lyndon Johnson. Nhưng qua lần xuất hiện năm 1964 với Nelson Rockefeller, Kissinger biết được thêm một số nhân vất quan trọng trong Đảng Cộng hoà. Một trong những người quan trọng đó là Henry Cabot Lodge, một nhân vật quan trọng đương thời trong Đảng Cộng hoà. Lại thêm một tình cờ khác đưa Kissinger trở lại liên hệ với chính quyền. Cũng từ Lodge, Kissinger lần đầu tiên biết đến Việt Nam và cuộc chiến đang xảy ra ở miền Nam, một địa dư và cơ cấu chính trị Kissinger rất còn xa lạ [14] .
Qua lời mời của Lodge, Kissinger đến Sài Gòn cuối năm 1965, và hai lần tiếp theo sau đó vào năm 1966. Trong ba lần quan sát nghiên cứu này, Kissinger đi thăm viếng nhiều nơi, nói chuyện với nhiều thành phần và yếu nhân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Sau những chuyến quan sát đó, Kissinger tường trình bằng miệng lại cho Lodge và thẩm quyền ở Hoa Thịnh Đốn. Tuy nhiên, theo những người biết chuyện bên trong, Kissinger tường trình theo ý của người nghe: nghĩa là ông thay đổi quan điểm tuỳ theo người đối diện [15] . Tháng 8 năm 1966, Kissinger viết lên nhận định đầu tiên về vấn đề Việt Nam trên tạp chí Look. Trong bài viết, Kissinger nói cuộc chiến ở Việt Nam khó kết thúc bằng chiến thắng quân sự; thương thuyết để tìm một giải pháp hoà bình là chuyện tất nhiên sẽ xảy ra. Nhưng quan trọng nhất trong thời gian này, sự rút quân của Hoa Kỳ khỏi Việt Nam sẽ gây nhiều tổn thương về danh dự của Hoa Kỳ đối với các quốc gia đồng minh chống cộng trên toàn thế giới.
Liên hệ đầu tiên của Kissinger đối với Việt Nam tưởng đã chấm dứt sau ba lần thăm viếng quan sát qua lời mời của đại sứ Lodge. Nhưng vào năm 1967, một tình cờ khác đưa Kissinger đến những liên hệ bí mật hơn của chiến tranh Việt Nam. Trong một lần tham dự hội thảo với những giới chức khoa bảng quốc tế hàng năm tại Paris, Kissinger gặp lại một người bạn Pháp tên Herbert Marcovich. Khi câu chuyện qua lại đưa đến đề tài về chiến tranh Việt Nam, Marcovich nói với Kissinger ông có một người bạn thân tên là Raymond Aubrac, và Aubrac quen biết rất thân với Hồ Chí Minh từ năm 1946. Marcovich đề nghị ông thể nhờ Aubrac đánh tiếng với Hồ Chí Minh, hay cấp lãnh đạo Hà Nội, khởi đầu một liên lạc ngoại giao ngầm giữa Hà Nội và Mỹ về vấn đề Việt Nam [16] . Trở lại Mỹ, Kissinger đem chuyện đó nói với McGeorge Bundy, hỏi thẩm quyền có ý kiến gì không. Bundy hỏi Ngoại trưởng Dean Rusk, và Rusk trình lên cho Tổng thống Johnson. Vài tuần sau, toà Bạch ốc cho phép Kissinger liên lạc lại với Marcovich và Aubrac. Nhưng để tránh sự lộ liểu và để giữ bí mật trong trường hợp sự liên lạc không đi đến đâu, thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn chỉ thị Kissinger liên lạc Hà Nội với tư cách một “cá nhân quan tâm”, muốn đi tìm một giải pháp cho chiến tranh Việt Nam chứ không phải đại diện của chính phủ Hoa Kỳ. Trong khi đó, được sự chấp thuận của Tổng thống De Gaulle, Aubrac và Marcovich bay qua Hà Nội ngày 21 tháng 7 năm 1967. Ở Hà Nội hai người được Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh đón tiếp. Sau khi nghe đề nghị Hoa Kỳ sẽ ngưng dội bom nếu Hà Nội thật sự muốn thương lượng để chấm dứt cuộc chiến, Phạm Văn Đồng trả lời Hoa Kỳ phải ngưng dội bom lập tức và vô điều kiện trước khi muốn có một cuộc đối thoại nào. Aubrac chuyển tin tức từ Hà Nội về cho Kissinger; Kissinger đưa lại cho toà Bạch ốc. Giữa tháng 10.1967, trong một buổi họp cao cấp dưới sự chủ toạ của Johnson (và có mặt Kissinger), sau khi bàn cãi về thái độ sự thành thật của Hà Nội, Tổng thống Johnson quyết định chấm dứt những liên lạc ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Hà Nội qua Kissinger - Marcovich - Aubrac. Hoa Kỳ đoán đúng về thái độ hiếu chiến của cộng sản Bắc Việt (CSBV): hơn hai tháng sau, CSBV mở cuộc tổng công kích toàn diện ở miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968 [17] .
Chỉ mười một năm từ ngày Kissinger xuất bản tác phẩm về chiến lược nguyên tử, cho đến năm bầu cử tổng thống 1968, tên tuổi Kissinger được nhắc đến nhiều trong giới chiến lược, chính trị gia, và khoa bảng. Giống như năm 1964, Kissinger được mời làm cố vấn quan trọng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống của Nelson Rockefeller vào năm 1968. Ở vòng sơ tuyển tranh cử nội Đảng Cộng hoà, Kissinger ra mặt chỉ trích ứng cử viên Nixon [18] . Kissinger tuyên bố: “Nixon không xứng đáng làm tổng thống”, đầu óc Nixon “nông cạn”, và Nixon là “một thảm hoạ cho Đảng Cộng hoà... Nhưng may mắn, Nixon không thể đắc cử tổng thống, nếu không thì [sự đắc cử của Nixon] là một thảm hoạ cho Mỹ quốc" [19] . Nhưng sau khi Nixon đánh bại Rockefeller và được đảng chính thức đề cử, Kissinger yên lặng. Nhưng Kissinger yên lặng không lâu: khi cuộc tranh cử tổng thống đi vào giai đoạn hai - Nixon của Đảng Cộng hoà đối lại Humphrey của Đảng Dân chủ - thì ban cố vấn của Nixon gọi Kissinger, mời ông giúp một tay, cố vấn về đường lối ngoại giao quốc tế. Kissinger chần chừ vài ngày rồi nhận lời với một điều kiện: ông muốn cố vấn sau lưng và không muốn ra mặt làm việc cho Nixon công khai. Ban tham mưu Nixon chấp nhận [20] . Giấu mặt ở phía sau, Kissinger cung cấp một số tin tức liên quan về những mật đàm sơ khởi đang xảy ra ở Paris giữa CSBV và Mỹ. Với những tiên liệu cung cấp từ Kissinger, ứng cử viên Nixon theo đó mà tuyên bố một cách dè dặt, theo chiều, về đường lối ngoại giao của ông đối với cuộc chiến Việt Nam đang xảy ra. Tuy nhận tin tức từ Kissinger, nhưng Nixon lúc nào cũng đề phòng một người đã từng làm việc cho đối thủ của mình. Theo những người biết chuyện, tin tức Kissinger cung cấp cho Nixon không quan trọng hay tối mật lắm, nhưng có thể dùng được [21] .
Rồi chuyện xảy ra như chúng ta đã thấy: Nixon đắc cử năm 1968. Với lời hứa là ông sẽ giải quyết vấn đề Việt Nam, Nixon cần một người mới nhưng biết chút ít nội vụ thương nghị đang xảy ra ở Paris. Kissinger có thể đóng vai trò đó. Gần một tháng sau ngày đắc cử, Nixon gọi Kissinger về và giao cho chức Cố vấn an ninh guốc gia.
Chỉ trong vòng 26 năm, từ một anh lính quèn, Kissinger ngày nay trở thành cố vấn quan trọng cho một vị tổng thống mạnh nhất trên thế giới.
Bây giờ, anh bình nhì Henry Alfred Kissinger có quyền sử dụng sĩ quan cấp tướng để làm phụ tá cho mình [22] .


*

Ở phần trên là những điểm sáng, những thành công của cuộc đời Kissinger. Nhưng ở phía sau những thành đạt, những khen ngợi đó, tư cách và đạo đức của Kissinger bị rất nhiều tai tiếng, chê bai, phỉ nhổ. Những tiếng như “con đĩ”, “thằng điếm”, “hai mặt”, “tráo trở, đâm sau lưng”, được sử dụng để chỉ con người Kissinger.
Theo những người đã biết Kissiger từ lúc bắt đầu làm phụ khảo ở Harvard, cho đến lúc ông rời chính phủ sau nhiệm kỳ của Tổng thống Gerald Ford, tư cách và đạo đức của Kissinger có thể tóm gọn trong câu “nịnh trên hiếp dưới”. Kissinger sợ và tuân lệnh những người có quyền hơn ông; đối với người dưới trướng thì ông doạ nạt và đày ải. Một người thầy cũ của Kissinger ở Harvard nói Kissinger nịnh rất giỏi; thích làm quen với các giới thượng lưu, quyền thế, để có thể nhờ vả về sau. Những người bạn đồng môn nổi tiếng sau này như Zbigniew Brzezinski, James Schlesinger, Adam Ulam (Brzezinski là Cố vấn an ninh quốc gia cho Tổng thống Jimmy Carter; Schelesinger làm Giám đốc CIA, rồi Tổng trưởng Quốc phòng thời Nixon và Ford; Ulam là Giám đốc trung tâm nghiên cứu về Nga Xô của Đại học Harvard) đều nghĩ Kissinger thích quan trọng hoá cá nhân, tư cách hồ đồ, tự cao tự tại, thích được mọi người chú ý. Đối với những người đó, Kissinger chỉ là một tên nói lừa dối không biết ngượng; một kẻ vô luân. “Kissinger khoái lừa dối, và khi sự lừa dối càng phức tạp, Kissinger càng thích thú”. James Schlesinger nói về tư cách của Kissinger: “Mọi người thấy xấu hổ khi nói dối; nhưng đối với Kissinger, nói dối là một trang vật; Kissinger nói dối có phong độ”. Vì Kissinger quá mong muốn được mọi người thích và chấp nhận mình nên ông ta phải làm vừa lòng, phải chiêu dụ nhiều loại người khác nhau. Để làm như vậy, Kissinger tạo ra nhiều khuôn mặt cho từng loại người Kissinger muốn mua chuộc, lấy lòng, khi giao thiệp. Morton Halperin, một trong những cố vấn tổng thống như Kissinger trong toà Bạch ốc, nhưng sau này thưa Kissinger ra toà vì Kissinger ra lệnh thu âm đường điện thoại của Halperin, nói về Kissinger: “Không cần biết đúng hay sai, thật hay giả dối khi ông hứa hẹn, thương thuyết với một người nào: Kissinger nói đại ra rồi tính sau” [23] . Fritz Kraemer, người đỡ đầu từ lúc Kissinger mới vào lính, phải lên tiếng phê bình, “Dần dần, tôi thấy người này [Kissinger] chẳng những có một khác vọng về tri thức, mà còn có một tham vọng về sự nghiệp cá nhân”. Nahum Goldmann, một lãnh tụ tinh thần của cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái - và là bạn thân của gia đình Kissinger - tuyên bố, nếu Kissinger “bớt thông minh đi mười phần, và thêm vào đó mười phần chân thật, thì ông ta là một người vĩ đại”.
Trong liên hệ nghề nghiệp giữa cá nhân và cá nhân, Kissinger thường lấn quyền những người bạn đồng nghiệp, một đôi khi hất họ ra khỏi vòng ảnh hưởng của quyền lực nếu được. Lúc còn làm việc trong chánh quyền Kennedy, Kissinger đi lòn sau lưng cấp trên như McGeorge Bundy, tìm cách để được gần Kennedy đến độ vị tổng thống khó chịu, phải ra lệnh giới hạn lại sự ra vào của Kissinger [24] . Trong thời gian Nixon đang vận động tranh cử, chính Richard Allen trong ban tham mưu của Nixon là người giới thiệu và mời Kissinger về làm việc trong ban tham mưu. Nhưng khi trở thành cố vấn cho Nixon, Kissinger hất Allen ra, và cô lập ông này trong vòng ảnh hưởng quyền lực ở toà Bạch ốc. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với tướng Alexander Haig: khi thấy Haig được sự tính nhiệm của Nixon, Kissinger đề nghị Nixon thăng cấp cho Haig để cho ông tướng này trở về làm việc với quân đội ở Bộ Quốc phòng [25] .
Về phương diện nghề nghiệp công vụ, trong khi đi thương lượng ngoại giao, Kissinger coi trọng quyền lợi Hoa Kỳ trên tất cả quyền lợi của những quốc gia khác. Chuyện đó dễ hiểu và thông cảm được. Nhưng khi có sự xung đột giữa quyền lợi cá nhân của Kissinger và của quốc gia mà ông đang phụng sự, Kissinger đặt quyền lợi cá nhân của ông trên quyền lợi Hoa Kỳ: Kissinger coi trọng tên tuổi của mình hơn hết. Brzezinski gọi lối ngoại giao “bí mật, khuynh đảo, lừa dối” của Kissinger là vô luân, là đi ngược lại những nền tảng của người Mỹ”. Khi đi thương lượng, Kissinger thường nói xấu phía bên kia để lấy lòng phía bên này; qua bên này lại nói xấu bên kia. Nói chuyện với Trung Cộng, Kissinger chửi Nga; trước mặt thì vui cười, gọi Leonid Brezhnev là bạn, nhưng khi nói chuyện với các nhà ngoại giao Anh quốc thì chửi những nhà lãnh đạo Nga là “nói láo khủng khiếp”. Lúc khởi đầu thương lượng với Tàu, Kissinger khen ngợi Chu Ân Lai và Mao với Nixon; nhưng khi nói chuyện với Tổng thống Ford về sau này thì gọi những người đó “những thằng con rơi vô tình cảm”. Sau khi Kissinger bí mật liên lạc với Trung Cộng vào năm 1971, rồi đến chuyến viếng thăm lịch sử của Nixon vào năm 1972, để lấy lòng lá bài cộng sản Tàu, Kissinger đề nghị với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, là Hoa Kỳ sẽ cung cấp tất cả hình ảnh chụp bằng vệ tinh về vị trí đóng quân của Nga bên kia biên giới Trung Cộng, và sẽ cập nhật hoá những hình ảnh chiến lược đó nếu cần. Đến năm 1974, trong lúc thương lượng với Nga về vấn đề giảm thiểu hoả tiễn nguyên tử liên lục địa, khi đại sứ Nga Anatoly Dobrynin chất vấn Kissinger về việc Hoa Kỳ cung cấp hình ảnh vệ tinh cho Trung Cộng, Kissinger trả lời: “Anatoly, bạn nghĩ tôi tay mơ đến như vậy sao? Đó không phải là chuyện chúng ta cần lo lắng”. Kissinger cũng giả dối, lừa đảo như vậy khi thương lượng giảng hoà ở Trung Đông giữa Do Thái và khối Ả Rập. Vì sợ người ngoài thấy được sự gian dối và hai mặt của mình, Kissinger không bao giờ cho ai biết sự thương lượng đi đến đâu, đang điều đình chuyện gì, và thời khoá biểu ra sao. Kissinger giấu Ngoại trưởng William Roger khi thương lượng bang giao với Trung Cộng; giấu ban tham mưu liên quân khi thương lượng về vấn đề giảm thiểu vũ khí chiến lược; và trong trường hợp Việt Nam, Kissinger giấu Tổng thống Thiệu và cả đại sứ Ellsworth Bunker khi nói chuyện bí mật với cộng sản Bắc Việt về vấn đề Việt Nam [26] .
Hầu hết những người phục vụ cùng với Kissinger trong hai chánh phủ Nixon và Ford, không người nào nhắc đến Kissinger bằng tiếng tốt lời khen. Những hằn học và khinh bỉ về Kissinger càng gia tăng khi số lượng hồ sơ liên hệ về những việc làm bí mật của Kissinger được giải mật sau khi Kissinger rời công vụ, và sau khi hồ sơ mật đã mãn hạn theo luật định. Theo thời gian, những mảnh nhỏ từ chiếc mặt nạ của Kisisnger bị rớt ra, và đến nay chúng ta có thể thấy khá rõ khuôn mặt thật của Kissinger. Rất khôn ngoan, sau khi mãn nhiệm kỳ Tổng trưởng ngoại giao, Kissinger đem tất cả tài liệt của chính phủ, và tài liệu có liên hệ đến ông từ lúc còn làm Cố vấn an ninh quốc gia cho đến khi rời chính quyền, giao cho Thư viện Quốc hội (The Library of Congress) với điều kiện những tài liệu đó chỉ được bạch hoá năm năm sau khi ông chết. Tuy nhiên, từ đầu tập niên 1990, dựa vào Bộ luật Quyền Tự do Tin tức (Freedom of Information Act), Liên hội Báo chí và Tư nhân (sử gia, chuyên viên nghiên cứu, giáo sư), yêu cầu Nha Văn khố (The National Archives) và Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ phải giải mật một số tin tức tài liệu đang nằm trong hồ sơ của Kissinger, nếu những tài liệu đó không làm nguy hiểm đến nền an ninh quốc gia hay gây nguy hiểm cho cá nhân nào. Bắt đầu từ đó, một số văn kiện và tin tức được giải mật và công bố sau khi Toà án Liên bang xử cho phía nguyên cáo. Dựa vào những tài liệu được giải mật, dựa vào những hồi ký của những người từng làm việc chung hay có liên hệ với Kissinger, chúng không thể hoàn toàn tin Kissinger, khi so sánh sự kiện trên thư liệu và những gì Kissinger viết lại - nhất là những giai đoạn Kissinger thương lượng ngoại giao bí mật [27] . Sau này, với những chứng cớ được phơi bày, khi Kissinger được hỏi ông có thể giải thích những khác biệt giữa những gì ông viết và những gì được ghi lại chánh thức..., Kissinger trả lời là ông không còn nhớ rõ. Dĩ nhiên, nói theo tâm lý học hiện sinh, Kissinger chỉ nhớ những gì ông muốn nhớ; và quên những gì ông muốn chối. Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu chỉ huy trưởng hải quân Mỹ ở Việt Nam và sau này là tư lệnh hải quân Hoa Kỳ nói về Kissinger: “Lối viết sử của Kissinger giống lối viết sử của những người cộng sản: Họ bắt đầu từ hiện tại và giải thích ngược về trước; từng chi tiết một. Viết sử như vậy thì lịch sử không xảy giống như đã xảy ra” [28] .
Nhưng trong năm năm làm việc cho Nixon, tại sao Kissinger có thể lộng hành, tác quái, theo cá tính của ông ta được mà không bị một phản đối nào từ Nixon hay từ những viên chức cao cấp trong nội các của Nixon?
Nhiều tổng trưởng, cố vấn quan trọng đã lên tiếng phản đối Kisisnger với Nixon nhưng vô hiệu quả. Nixon biết lối làm việc của Kissinger, biết sự va chạm của Kissinger với những cố vấn khác, nhưng ông vẫn giữ Kissinger vì Nixon cần Kissinger để thi hành những kế hoạch riêng của Nixon. Chính Nixon thú nhận ông đã dùng một hai cố vấn thân cận chêm vào giữa Kissinger và các tổng trưởng khác để giảm thiểu những xung đột xảy ra hàng ngày giữa những cận thần thân tín của ông [29] . Nixon cần một người như Kissinger để làm những việc mà cương vị một tổng thống không thể nào làm được.
Nixon không phải là một chính trị gia có đạo đức hay lương thiện khi chúng ta so sánh ông với những người tiền nhiệm - nhất là sau khi những liên lạc, âm mưu, và thủ đoạn của Nixon được phơi bày ra công luận. Nhưng ngược lại, Nixon cũng không phải là một vị tổng thống bất tài, thiếu những cái nhìn chiến lược.


*

Khi Richard Milhous Nixon trở thành Tổng thống Hoa Kỳ vào ngày 20 tháng Giêng năm 1969, thì Nixon đã có nhiều kinh nghiệm trong đấu trường chính trị lắm rồi. Nixon đã phục vụ mười bốn năm trong chính phủ qua những chức vụ như là dân biểu, thượng nghị sĩ, và phó tổng thống trước khi trở thành tổng thống. Trong đoạn đường chính trị đó, Nixon được đối phương gán cho một hỗn danh là “Tricky Dick”. Hỗn danh đó không quá xa sự thật, dựa vào những thủ đoạn chính trị, ngoại giao Nixon đã áp dụng ở nội địa và ngoại quốc [30] .
Sanh năm 1913 tại Yobar Linda, California, trong một gia đình vừa đủ ăn. Theo hồi ký, Nixon nói thời ông còn nhỏ thì gia đình rất vất vả; nhưng lúc ông được hơn mười tuổi thì nhà có được một trạm bán xăng và đồ tạp hoá... và tương đối khá giả so với hàng xóm cùng thời. Tốt nghiệp trung học năm 17 tuổi, muốn qua miền đông theo học đại học nhưng nhà không đủ tiền nên theo học một trường đại học cộng đồng tại địa phương. Học được hai năm thì Nixon xin được một học bổng về luật của trường Đại học Duke ở Durham, North Carolina. Nixon qua North Carolina theo học và ra trường năm 1937, đứng hàng thứ ba của khoá tốt nghiệp năm đó. Trở lại California, lấy giấy phép hành nghề và làm việc cho một văn phòng luật sư ở Whittier. Nixon lập gia đình năm 1940, rồi xin được một việc làm với chính phủ liên bang ở Hoa Thịnh Đốn vào năm 1941, ngay khi Hoa Kỳ bước vào thế chiến thứ hai [31] . Làm công chức cho Nha Kiểm soát Vật giá ở Hoa Thịnh Đốn được chừng một năm thì Nixon tình nguyện đi sĩ quan hải quân. Mãn khoá căn bản quân sự, Nixon bị thuyên chuyển về Iowa, một tiểu bang ở miền trung Mỹ với một địa hình làm cho chữ hải quân trở nên khôi hài. Nhưng theo Nixon, cuộc sống ở Iowa rất bình yên cho cặp vợ chồng mới lấy nhau, tuy nhiên vì muốn chứng kiến mùi binh lửa, Nixon xin thuyên chuyển ra mặt trận Thái Bình Dương; và được chấp nhận. Ở Thái Bình Dương, mùi “binh lửa” mà Nixon kinh nghiệm được, chỉ dưới cái nhìn của một sĩ quan tiếp liệu, đóng ở những căn cứ hải quân dã chiến trên các đảo vừa chiếm lại được từ Nhật như New Caledonia, Bougainville, Guadalcanal.
Sau cuộc chiến, do sự thúc giục của các chức sắc trong Đảng Cộng hoà, Nixon quyết định ra tranh cử dân biểu của đơn vị nơi ông đang cư ngụ. Kết quả là Nixon được đắc cử với số phiếu khá xa đối phương. Trong thời gian làm dân biểu của Quốc hội thứ 80, Nixon được nhiều người biết đến vì được chỉ định nằm trong một uỷ ban điều tra về những công chức thân cộng đang phục vụ trong chính phủ Mỹ. Làm dân biểu sắp hết nhiệm kỳ thì Nixon quyết định tranh cử nghị sĩ. Và trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1950, Nixon thắng với tỉ số cao nhất trong các cuộc bầu cử nghị sĩ trên toàn quốc.
Năm 1951 trong một chuyến đi công lý bên Âu Châu, Nixon có dịp tiếp chuyện với thống tướng Eisenhower, lúc đó là Tổng tư lệnh quân đội NATO đóng ở Paris. Khi trao đổi ý kiến qua lại, Nixon nghĩ Eisenhower là người xứng đáng ra tranh cử tổng thống vào năm 1952. Trong vòng nội Đảng Cộng hoà năm đó, Robert Taft (con trai Tổng thống thứ 26, William Howard Taft) và Dwight Eisenhower là hai người có cơ hội đánh bại Adlai E. Stevenson của Đảng Dân chủ (cháu nội cựu Phó tổng thống Mỹ có cùng tên, thời Tổng thống thứ 24, Grover Cleveland). Với cuộc chiến đang xảy ra ở Đại Hàn; với làn sóng đỏ đang lấn dần ở Á Châu và Âu Châu, cử tri đoàn của Đảng Cộng hoà - và quan điểm của đa số của dân Mỹ lúc đương thời - nghĩ Eisenhower là ứng cử viên thích hợp cho thời cuộc: Eisenhower đã thắng Đức Quốc xã; Eisenhower sẽ đủ khả năng ngăn chận làn sóng đỏ trong thời kỳ bạo hành nhất sau đệ nhị thế chiến. Theo hồi ký, Nixon nói từ đầu năm 1952, Robert Taft có đến nói chuyện và nhờ ông ủng hộ Taft. Nhưng Nixon nói thẳng ông kính trọng Taft, nhưng đã dành sự ủng hộ cho Eisenhower. Với thái độ đó, Nixon được nội bộ của Eisenhower mời đến nói chuyện.
Sau khi Eisenhower được Đảng Cộng hoà đề cử, ông chọn Nixon để đứng chung liên danh [32] . Liên danh Eisenhower-Nixon thắng hai nhiệm kỳ liên tiếp - năm 1952 và 1956. Tuy nhiên vào năm 1956, không hiểu gì lý do gì, cử tri chọn tổng thống và phó tổng thống Đảng Cộng hoà nhưng lại dồn phiếu cho dân biểu và nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ, một hiện tượng chính trị lần đầu tiên xảy ra trong 108 năm của lịch sử chính trị Hoa Kỳ [33] . Trong tám năm làm Phó tổng thống, Nixon giữ vai trò như một đại sứ lưu động cho Tổng thống Eisenhower: ông công du vòng quanh thế giới, diễn đạt chủ thuyết tự do của Hoa Kỳ và đồng minh vis-a-vis chủ nghĩa cộng sản đang hăm doạ quyền tự do căn bản của nhân loại. Một trong những chuyến công du, Nixon có viếng thăm Việt Nam năm 1953; tranh luận với Nikita Khrushschev năm 1959 ở Moscow; và chuyến viếng thăm gây ra nhiều biểu tình bạo động ở Venezula vào năm 1958 - một thời điểm chống Mỹ cao nhất ở các quốc gia Nam Mỹ sau khi Fidel Castro chiếm được Cuba. Trong tám năm đó, Nixon được dư luận và báo chí đề cập nhiều vì thái độ cứng rắn trong đường lối đương đầu với cộng sản quốc tế [34] .
Eisenhower, sau khi mãn hạn hai nhiệm kỳ tổng thống theo hiến định, nhường ghế thủ lãnh Đảng Cộng hoà lại cho Nixon. Nixon đương nhiên được Đảng đề ra tranh cử tổng thống năm 1960. Cuộc bầu cử năm 1960 giữa hai liên danh Nixon-Lodge và Kennedy-Johnson được coi là một cuộc bầu cử có tỉ số chênh lệch sát nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nixon thua Kennedy chỉ 113000. phiếu trong tổng số 68 triệu 400 ngàn phiếu cử tri. Theo Nixon, chỉ cần thay đổi nửa phiếu ở mỗi đơn vị đầu phiếu thì kết quả cuộc bầu cử đã thay đổi. Có tin đồn nhiều vụ gian lận phiếu xảy ra ở hai tiểu bang Texas và Illinois... nhưng Nixon quyết định chấp nhận thua Kenney với kết quả công bố [35] .
Thua chức Tổng thống vào tay Kennedy, Nixon trở lại California nhận làm việc cho một công ty luật quen biết từ lâu. Nhưng với những kinh nghiệm và quen biết về chính trị từ trước, tuy trở lại một công dân thường hành nghề luật sư, nhưng Nixon vẫn tiếp tục sinh hoạt khi được những hội đoàn chính trị mời đến phát biểu ý kiến. Cuối năm 1961, qua sự thúc giục của cấp lãnh đạo Đảng Cộng hoà, Nixon quyết định ra tranh cử chức Thống đốc tiểu bang California. Qua những thăm dò ý kiến sơ khởi, đa số ý kiến cho thấy Nixon sẽ đánh bại đối phương dễ dàng. Nhưng không may cho Nixon vào năm đó: trong những tháng cuối cùng của cuộc bầu cử, báo chí California phanh phui ra là, em ruột của Nixon dựa vào tên tuổi của anh mình để mượn một số tiền khá lớn từ một công ty chuyên đấu thầu làm ăn với chính phủ Hoa Kỳ. Mặc dù vụ phanh phui đó không dẫn đến đâu, nhưng thanh danh của Nixon bị nghi ngờ vì báo chí đặc câu hỏi suốt thời gian tranh cử. Cái xui thứ hai cho Nixon - và cho cả đảng Cộng Hoà - là Kennedy, trong cuộc đối diện với Khrushchev ở Vịnh Cuba tháng 101962., đã dằn mặt Nga Sô bằng một thái độ thật cứng rắn khiến Nga phải tháo gỡ vũ khí nguyên tử khỏi Cuba. Vụ “thắng” được Khrushchev đã đưa Kennedy và Đảng Dân chủ lên cao trong lòng tin của cử tri Hoa Kỳ. Với hai biến cố đó, Nixon thất cử chức Thống đốc tiểu bang California - Nixon thua xa. Liền sau đó, qua một cuộc trao đổi với báo chí trong lúc được phỏng vấn, Nixon không dằn được nóng giận, công kích giới báo chí đã không công bằng khi điều tra và phanh phui, đặt nghi vấn về tư cách và liêm sĩ của ông. Lần đó Nixon thề ông sẽ không trở lại chính trường; và báo chí sẽ không bao giờ còn cơ hội để “đá lăn đá lóc” ông nữa. Lời tuyên bố của Nixon một lần nữa được giới truyền thông trên cả nước Mỹ bàn tán [36] .
Thua cuộc ở California; tuyên bố sẽ không bao giờ trở lại với chính trị, Nixon dọn về New York khi được một công ty luật danh tiếng mời gia nhập. Nhưng khi về New York, Nixon lại được thêm nhiều thân chủ cả về mặt thương mại lẫn chính trị: về thương mại, Nixon đại diện cho nhiều đại công ty có sản phẩm và chi nhánh trên toàn thế giới; về chính trị, Nixon vẫn được nhiều ứng cử viên trong Đảng Cộng hoà mời diễn thuyết giúp họ lấy phiếu cử tri ở cấp tiểu bang và quốc hội. Nixon giúp những ứng cử viên Đảng Cộng hoà khi được kêu gọi, nhưng rất bí mật và yên lặng về những dự tính chính trị trong tương lai. Từ năm 1962 đến cuối năm 1964, Nixon đứng bên ngoài chính trường, yên lặng quan sát cuộc bầu cử tổng thống năm 1964 giữa hai liên danh Johnson-Humphrey và Goldwater-Miller. Năm 1964 Đảng Cộng hoà bị thảm bại ở phòng phiếu: Goldwater thua Johnson đến 16 triệu phiếu phổ thông; 434 phiếu cử tri đoàn; và chỉ thắng được 6 trên 50 tiểu bang. Chẳng những được ghế Tổng thống, Đảng Dân chủ còn gia tăng số nghị viên của họ ở hai viện quốc hội. Sự thất bại ê chề của Barry Goldwater đưa uy tín Nixon lên cao hơn trong các tay lãnh đạo Đảng Cộng hoà còn lại. Cùng thời gian ở ngoài vòng chính trị đó, Nixon có dịp đi nhiều nơi trên thế giới, nói chuyện với nhiều nhà lãnh đạo, thấy được phản ứng và thái độ của họ đối với chính sách ngoại giao Hoa Kỳ dưới quyền lãnh đạo của Johnson.
Năm 1965, khi Johnson bắt đầu đưa quân tác chiến vào Việt Nam, Đảng Cộng hoà kiếm cớ chỉ trích Tổng thống Johnson để hy vọng lấy được phiếu trong mùa bầu cử tới. Riêng cá nhân Nixon, dù nói với mọi người là ông chưa quyết định trở lại với chính trị, nhưng trong năm đó Nixon nói chuyện nhiều về chính trị hơn là về nghề nghiệp. Thư từ liên lạc, lời mời đi diễn thuyết chính trị nhiều đến độ người thư ký và vợ ông làm không hết. Nixon mướn thêm nhân viên để bắt đầu thiết lập một ban tham mưu chẩn bị cho hai kỳ bầu cử quan trọng của năm 1966 và 1968 [37] . Cuối năm 1965, để coi ảnh hưởng chính trị của mình còn hay không đối với cử tri Hoa Kỳ, Nixon quyết định đứng ra vận động giùm cho các ứng cử viên thuộc Đảng Cộng hoà trong mùa bầu cử quốc hội và thống đốc năm 1966. Trong mùa bầu cử năm 1966, Nixon nói chuyện với hơn 400 hội đoàn ở 40 tiểu bang, và quyên được hơn bốn triệu mỹ kim để vận động bầu cử cho các ứng cử viên Đảng Cộng hoà.
Khi kết quả cuộc bầu cử năm 1966 được công bố, Nixon biết tương lai chính trị của mình đang trên đường khôi phục: nhờ những vận động và hỗ trợ của Nixon, Đảng Cộng hoà thắng 47 ghế ở Hạ viện; 3 Thượng viện; 8 thống đốc; và 470 nghị viên ở quốc hội cấp tiểu bang. Đảng Cộng hoà thắng lớn lần này giống như Đảng Dân chủ đã thắng hai năm về trước. Và Nixon có quyền nói - cũng như không ai phủ nhận - nhờ có bàn tay Nixon trong chiến thắng đó.
Đầu năm 1967 Nixon quyết định: ông ra lệnh cho ban tham mưu chuẩn bị thâu thập tin tức, nghiên cứu tình hình chính trị để chuẩn bị cho năm bầu cử tổng thống 1968. Nixon nói với ban tham mưu ông vẫn yên lặng và giữ kín kế hoạch chính trị đến giữa năm 1967, nhưng ông đốc thúc ban tham mưu phải làm việc hăng hái hơn để có thể đánh bại các đối thủ trong đại hội đề cử toàn quốc của Đảng Cộng hoà vào mùa hè 1968.
Từ tháng Giêng cho đến tháng 6.1967, Nixon đi thăm viếng nhiều nơi trên thế giới (trong đó có Việt Nam) một lần nữa để thăm dò phản ứng thế giới về đường lối ngoại giao đương thời của Mỹ. Khi đến Á Châu, Nixon nói với hầu hết các nhân vật lãnh đạo để lấy cảm nghĩ của họ về vai trò của Hoa Kỳ ở Á Châu, đối với Trung Cộng, và đối với cuộc chiến đang xảy ra ở Việt Nam. Trở lại Mỹ, sau khi đi thăm cựu Tổng thống Eisenhower và nói chuyện với hầu hết các thống đốc tiểu bang thuộc Đảng Cộng hoà, Nixon viết một tham luận, nói lên ý kiến về đường lối ngoại giao Hoa Kỳ đối với Á Châu, nhất là đối với Trung Cộng. Đại ý chính của bài viết đăng tạp chí Foreign Affairs là: Cộng sản Trung Cộng chỉ buông tha - nếu không nói là không xâm lấn được - các quốc gia lân bang ở Á Châu, nếu các quốc gia này có sức lực về kinh tế, quân sự và chính trị... Và Hoa Kỳ chỉ nói chuyện với Trung Cộng nếu quốc gia này chấp nhận những luật lệ căn bản quốc tế. Hoa Kỳ muốn thấy Trung Cộng phát triển theo cộng đồng thế giới, chứ không phải là một trung tâm của cách mạng thế giới [38] .
Dựa vào nhiều cuộc thăm dò dư luận, sau khi biết chắc mình đang đứng ngang ngửa với các ứng cử viên tổng thống của hai đảng, Nixon tuyên bố ra tranh cử tổng thống vào đầu năm 1968. Nixon không quan tâm nhiều về hai đối thủ trong cùng Đảng Cộng hoà là Rockefeller và George Romney; Nixon chỉ sợ phải đương đầu với đương kim Tổng thống Johnson. Nhưng khi Johnson tuyên bố không ra tái cử thêm một nhiệm kỳ nữa, và phía Dân Chủ chỉ còn Hubert Humphrey và George Wallace, Nixon thấy bớt lo ngại đối với hai đối thủ còn lại. Từ lúc tuyên bố ra tranh cử cho đến những ngày cuối cùng trước khi đầu phiếu, Nixon lúc nào cũng dẫn đầu đối phương không ít thì nhiều. Đương kim Tổng thống Johnson, sau khi không ra tái cử, tìm nhiều cách giúp Humphrey lấy phiếu cử tri. Nhưng hoặc là quá trễ, hoặc là lòng cử tri Mỹ đã muốn thay đổi, Humphrey chưa bao giờ đứng trước Nixon trong các cuộc thăm dò dư luận người đi bầu.
Vấn đề sôi động nhất của năm bầu cử 1968 là chiến tranh Việt Nam. Biết được sự ưu tư của quần chúng Mỹ về vấn nạn đó, Nixon cẩn thận chỉ trích từng điểm sai lầm của chính phủ Johnson trong cuộc chiến và trong sách lược giải quyết cuộc chiến. Khi Johnson ra lệnh ngưng dội bom để khuyến khích Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị, Nixon ngoài mặt lên tiếng ủng hộ, nhưng ở phía sau, Nixon sai những phụ tá lên tiếng chỉ trích Johnson đã quyết định quá hấp tấp. Như đã nói đến ở chương trước, Nixon bí mật liên lạc với Tổng thống Thiệu, khuyên ông Thiệu phản đối kế hoạch của Johnson. Với những mánh khoé chính trị đó, Nixon rất xứng đáng với hỗn danh “Tricky Dick” [39] . Nixon đắc cử năm 1968; tỉ số thắng không xa, nhưng đủ thắng. Cũng vào năm bầu cử 1968, trong khi Đảng Cộng hoà chiếm được toà Bạch ốc, toà nhà Quốc hội thì rơi vào tay Đảng Dân chủ: ở Thượng và Hạ viện, Đảng Dân chủ chiếm khối đa số.


--------------------------------------------------------------------------------

[1]Tuần báo Der Studermer của Julius Streicher hô hào nhiều đường lối bạo hành và sự triệt tiêu toàn diện chủng tộc Do Thái. Sau khi Đức đầu hàng, Streicher bị đưa ra tòa án tội phạm chiến tranh ở Nuremberg, và bị kết án tử hình bằng treo cổ.
[2]Về giai đoạn từ thiếu thời cho đến ngày Kissinger nhập ngũ, đọc: Walter Isaacson, Kissinger: A Biography, trang 17-39.
[3]Isaacson, Sđd, trang 53. Về thân thế và trí thức của Kraemer, đọc: Issacson, trang 44-45; Marvin Kalb và Bernard Kalb, Kissinger, trang 38-39.
[4]Isaacson, Sđd, trang 61-64. Trong phạm vi triết học, Luận về lý trí thuần tuý và Luận về lý trí thực tiễn là hai tác phẩm được coi là khó hiểu nhất của Immanuel Kant.
[5]Tiểu luận ra trường bậc cử nhân của Kissinger có tựa là “The Meaning of History: Reflections on Spengler, Toynbee and Kant”. Giới sinh viên đồn với nhau là Carl Friedrich (hay là Elliott), một trong những giáo sư triết của Kissinger ở Harvard, chỉ đọc đến 150 trang tiểu luận của Kissinger rồi bỏ vì giọng văn quá chán. Kissinger đậu bằng cử nhân hạng summa cum laude (tối ưu). Đọc: Isaacson, Sđd, trang 64- 67; Marvin Kalb và Benard Kalb, Kissinger, trang 42-46.
[6]Mỗi khoá hội thảo có chừng 35 hội viên tham dự, đến từ mọi nơi trên thế giới. Một trong số những người đến Harvard International Seminar sau này lãnh đạo nước họ, như các thủ tướng, tổng thống, là Valery Giscard dEstaíng (Pháp); Yasuhiro Nakasone (Nhật); Leo Tindermans (Bỉ); Mahathir Bin Mohammad (Mã Lai Á); Bulent Ecevit (Thổ Nhĩ Kỳ); Yigal Allon (Do Thái); hay Pierre Trudeau (Gia Nã Đại). Chương trình kéo dài đến năm 1967 thì bị báo chí khui ra là do CIA cấp ngân quỹ. Chương trình Harvard International Seminar chấm dứt vào năm 1969.
[7]Một số tác giả góp bài viết cho Confluence là McGeorge Bundy; Paul Nitze; Hans Morgenthau; Czeslaw Milosz; Walt Rostow; Arthur Schlesinger; John Kenneth Galbraith. Trong thời gian đó, có tin đồn Kissinger làm mật báo viên cho FBI. Không chắc chắn tin đồn này có thật hay không, nhưng đặc san Confluence với khuynh hướng chống chủ nghĩa cộng sản rất được lòng Chính phủ Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu của chiến tranh lạnh. Hơn nữa, Harvard International Seminar là một nơi qui tụ nhiều thành phần ưu tú quốc tế... nên sự chú ý của các cơ quan tình báo Hoa Kỳ không phải là một điều ngạc nhiên. Một chi tiết khác đáng chú ý: theo hai tác giả Marvin Kalb và Bernard Kalb trong Kissinger (trang 49), trong hai năm 1951-52, Kissinger được mướn làm cố vấn tư cho lục quân, và Ban tham mưu liên quân, với nhiệm vụ nghiên cứu về quân đội Hoa Kỳ ở Nam Hàn, và về chiến lược tâm lý chiến. Hồ sơ và tường trình của FBI về Kissinger được nhắc đến trong Isaacson, Sđd, trang 71; và ở phụ chú 23.
[8]Về vai trò và lý thuyết ngoại giao của Metternich và Castlereagh, đọc Isaacson, Sđd, trang 74-77; David Landau, Kissinger: The Uses of Power, trang 29-30; và Kalb, Sdd, trang 46-48. Luận án của Kissinger được một giải thưởng về giá trị khoa bảng.
[9]Arthur Schlesinger, Jr là bạn của John F. Kennedy. Khi Kennedy trở thành tổng thống, Schlesinger được Kennedy mời làm phụ tá đặc biệt. Khi Kennedy chết, Schlesinger được gia đình Kennedy mời làm sử gia chính thức của cố Tổng thống Kennedy. Trong thập niên 1950, dưới thời Tổng thống Eisenhower, chiến lược nguyên tử của Hoa Kỳ và đồng minh NATO là trả đũa toàn bộ và huỷ diệt toàn bộ nếu phải khai chiến với Nga Sô hay chư hầu. Schlesinger chỉ trích kế hoạch này không còn hiệu quả vì Nga Sô đã theo kịp Hoa Kỳ về số lượng vũ khí nguyên tử sản xuất hàng năm. Bài phê bình của Kissinger, “Military Policy and the Defense of the Grey Areas,” (Foreign Affairs, April, 1955) cũng đi theo đường lối tương tự như của Schlesinger, nhưng nhấn mạnh một chủ thuyết mới về đường lối sử dụng vũ khí nguyên tử: giới hạn và theo từng vùng, từng địa phương; sự trả đũa của Hoa Kỳ và đồng minh là một sự trả đũa giới hạn tuỳ theo vùng xâm lấn và mức xâm lấn của Nga Sô và chư hầu.
[10]Council on Foreign Relations là một tổ chức tư, do gia đình tỉ phú Rockefeller thành lập năm 1921. Với ảnh hưởng về kinh tế và thế lực tài chánh, Rockefeller Foundation mời và chiêu dụ được rất nhiều nhân vật danh tiếng trong xã hội Mỹ về làm giám đốc và đứng trong ban chấp hành. Các giám đốc của Council on Foreign Relations phần lớn là những người lãnh đạo trong chính quyền về hưu, hay từ nhiệm để về làm cho Council. Tờ Foreign Affairs do Council on Foreign Relations ấn hành; chủ biên của tờ đó là những người có rất nhiều kinh nghiệm trong Chính phủ Mỹ, như William Bundy, William Hyland, Leslie Gelb... Về một số khuôn mặt trong Council, đọc David Landau, Sdd, trang 43-48; Kalb, Sđd, 52-58.
[11]Hai phía khen chê tác phẩm của Kissinger đều đến từ những người có tên tuổi. Phó tổng thống Nixon viết thư riêng khen ngợi; ngoại trưởng John Foster Dulles đồng ý lý thuyết “chiến tranh giới hạn và vũ khí nguyên tử chiến thuật” có lý (Dulles là người từng hăm doạ Nga Sô, nếu có chiến tranh, thì đó sẽ là một chiến tranh toàn diện; một sự huỷ diệt không giới hạn). Giới chỉ trích lý thuyết của Kissinger có những người như George Kennan, Paul Nitze, Dean Rusk, là những tay lão luyện trong ngành ngoại giao Hoa Kỳ. Đọc Landau, Sđd, trang 55-57; 76-78; Isaacson, Sdd, trang 88-90; Charles R. Ashman, The Adventure of Super-Kraut, trang 65-68; Kalb, Sđd, trang 54-55. Kissinger trả một giá đắt về phương diện tình cảm gia đình cho công trình này. Kissinger sống trong một thế giới hoàn toàn khác biệt trong thời gian viết sách: ông ta yều cầu vợ không được nói chuyện với ông nếu không cần thiết. Đọc Kalb, Sđd, cùng trang đã dẫn.
[12]Nelson Aldrich Rockefeller (1908-1979) là cháu nội của nhà tỉ phú đầu tiên, John D. Rockefeller. Khởi đầu từ John Rockefeller, dòng họ Rockefeller thành lập vô số cơ sở bất vụ lợi lo về từ thiện, giáo dục, cũng như kinh tế, ngoại giao hay chính trị. Đại Học Chicago; Đại học Rockefeller; Council on Foreign Relations; Rokefeller Brothers Fund... là một trong những cơ sở tượng trưng của dòng họ Rockefeller. Nelson Rockefeller làm Thống đốc tiểu bang New York gần bốn nhiệm kỳ (10 năm) rồi ra tranh cử ứng viên tổng thống sơ tuyển trong Đảng Cộng hoà. Năm 1974 ông là Phó tổng thống dưới thời Tổng thống Gerald Ford.
[13]Theo Isaacson, Sđd, trang 92, năm 1960 Nelson Rockefeller trả cho Kissinger 12.000$; năm 1964, 18.000$; và năm 1968, 20.000$. Như một so sánh, 12 ngàn mỹ kim của năm 1960 tương đương với 50 ngàn của năm 2000; và 50 ngàn mỹ kim Kissinger nhận từ Rockefeller vào năm 1969, tương đương 200 ngàn hiện nay.
[14]Như chúng ta biết, năm 1960 Henry Cabot Lodge đứng chung liên danh với Richard Nixon của Đảng Cộng hoà tranh cử đối lại liên danh Kennedy-Johnson Đảng Dân chủ. Liên danh Kennedy thắng cử. Nhưng để có một ý kiến đa đảng trong đường lối ngoại giao về Việt Nam, Kennedy bổ nhiệm Lodge làm đại sứ tại Sài Gòn năm 1963. Lodge ra mặt ủng hộ cuộc đảo chánh Tổng thống Diệm; và sau khi cuộc đảo chánh thành công, Lodge từ nhiệm trở lại Hoa Kỳ tham dự cuộc bầu cử tổng thống năm 1964. Lần này Johnson của Đảng Dân chủ cũng thắng nữa, và Johnson lại bổ nhiệm Lodge làm đại sứ tại Việt Nam lần thứ hai. Khi nhận nhiệm sở vào năm 1965, Lodge yêu cầu Thứ trưởng Vụ Viễn Đông, William Bundy (anh của McGeorge Bundy, Cố vấn An ninh Quốc gia cho Kennedy và Johnson) mướn con của ông (đang là một giáo sư dạy ở Harvard) và Kissinger để làm tư vấn cho ông về vấn đề Việt Nam. Lodge nói lý do ông cần hai người đó vì ông muốn có một cái nhìn mới về vấn đề Việt Nam từ những chuyên viên ở bên ngoài, thay gì những ý kiến của các nhân viên chính phủ từ bên trong như đã và đang xảy ra. Henry Cabot Lodge có liên hệ sâu đậm đối với Việt Nam từ năm 1963 cho đến lúc ông từ chức Trưởng phái đoàn thương thuyết ở Hội nghị Paris vào giữa năm 1969, khi Nixon lên nhậm chức Tổng thống.
[15]Lối làm việc của Kissinger là ông tường trình cho từng người nghe, và không bao giờ có nhiều người nghe cùng một lúc. Theo một nhân vật trong cuộc, những tường trình của Kissinger không nhất thiết giống nhau khi ông báo cáo lại cho mỗi thẩm quyền. Marvin and Bernard Kalb, Sđd, trang 68.
[16]Marcovich lúc đó là một nhà sinh vật học vi phân; Aubrac, tốt nghiệp từ hai đại học nổi tiếng MIT và Harvard, là viên chức của Liên hiệp quốc, làm cho cơ quan Lương nông Thế giới ở Rome. Theo Aubrac, năm 1946, khi Hồ Chí Minh qua Pháp thương thuyết với Chính phủ Pháp về vấn đề chủ quyền của Việt Nam, ông ở nhà Aubrac, và hai người thân nhau đến độ ông Hồ Chí Minh nhận con của Aubrac làm con đỡ đầu. Xem David Kraslow và Stuart H. Loory, The Secret Search for Peace in Vietnam, trang 219-224. Sử liệu cộng sản Việt Nam viết về những hội họp bí mật trong thời gian đầu nằm trong, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Paris (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2000).
[17]Về những liên lạc ngầm đầu tiên này với mật danh “Pennsylvania” đọc Isaacson, Sđd, trang 121-123. Cuộc hội ngộ giữa Hồ Chí Minh và Aubrac ở Hà Nội được ghi lại trong Kalb, Sđd, trang 71-73. Tài liệu chính phủ Hoa Kỳ sơ lược từng chi tiết về “Pennsylvania” nằm trong The Pentagon Papers, Gravel Edition, Vol. IV, Chương 4.
[18]Tranh cử vòng sơ tuyển nội đảng là primaries và caucuses để chọn một trong những ứng cử viên cùng một đảng, trước khi đi đến nghị hội đề cử toàn quốc (national nomination convention). Ở nghị hội đề cử, ứng cử viên có nhiều phiếu từ những đại biểu các tiểu bang sẽ được đảng đề cử ra tranh cử với ứng cử viên của đảng đối lập. Bộ sách The Making of the President của Theodore White là bộ sách rất hay để biết về hệ thống bầu cử, vận động bầu cử, và đường lối chính trị chung quanh nền tổng thống hiện đại Hoa Kỳ.
[19]Isaacson, Sđd, trang 126-128.
[20] Isaacson, op. cit., trang 214. Người gọi mời Kissinger là Richard Allen, sau này là Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Ronald Reagan trong một thời gian ngắn.
[21]Về những tin tức Kissinger cung cấp cho Nixon về hội đàm ở Paris, và những gì Nixon biết được từ những đường giây khác (Chennault, Bùi Diễm...), tác giả đã viết một số chi tiết ở chương 9. Tổng thống Nixon trong The Memoirs of Richard Nixon, trang 323- 324, nói những tin tức do Kissinger cung cấp đôi khi mơ hồ và có vẻ bí mật. Nixon nói ông nhận tin từ Kissinger nhưng không hoàn toàn tin lắm.
[22]Phụ tá quân sự cho Cố vấn An ninh Quốc gia thường là cấp chuẩn tướng trở lên. Kissinger nhận Alexander Haig làm phụ tá cho ông lúc Haig còn là đại tá. Haig được thăng chuẩn tướng đầu năm 1970 để có cấp bực phù hợp với chức vụ. Người phụ tá quân sự thứ nhì của Kissinger là trung tướng không quân Brent Scowcroft. Scowcroft thay Kissinger làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Ford.
[23]Isaacson, Sđd, ý kiến của Ulam về Kissinger ở trang 97-98; Brzezinski, trang 699-700; Halperin và Schlesinger, trang 763-764. Chương 34 trong sách của Isaacson nói rất hay và sâu sắc về tâm lý của Kissinger.
[24]Isaacson, Sđd, trang 762. Để giới hạn khuôn khổ của các phụ chú trong bài viết, người viết chỉ chú dẫn những lời phê bình, chỉ trích quan trọng về tư cách và đạo đức Kissinger. Ngoài một số thư liệu phụ, người viết đọc năm tác phẫm viết về Kissinger để soạn chương này: Kissinger, của hai anh em ký giả Marvin Kalb và Bernard Kalb; Kissinger: A Biography, của Walter Isaacson; Kissinger: The Uses of Power, của David Landau; The Trial of Henry Kissinger, của Christopher Hitchens; và The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, của Seymour M. Hersh. Sách của anh em Kalb viết thiên vị về Kissinger; Isaacson thì viết trung thực, có khen chê. Sách của Hersh và Landau hoàn toàn nói về những khiếm khuyết đạo đức và tư cách lừa dối của Kissinger. Sách của Hitchens như tựa sách đã gợi ý kết án Kissinger về vụ đảo chánh bên Chí Lợi và những vụ dội bom bí mật ở nội địa Cam Bốt. Về sự khó chịu của Kenendy đối với Kissinger, đọc Isaacson, Sđd, trang 111.
[25]Haig nói, “Kissinger thăng cấp để cho tôi văng khỏi toà Bạch ốc”, Seymour, Sđd, trang 621. Alexander Haig được thăng chức từ thiếu tướng lên đại tướng trong vòng sáu tháng (mang chức Đại tướng, Tư lệnh phó lục quân, vào tháng 1.1973; tháng 6.1972 vẫn còn mang lon thiếu tướng).
[26]Isaacson, Sđd, trang 764-765; đối thoại giữa Kissinger và Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai; và Leonid Brezhnev. Anatoly Dobrynin, nằm trong tài liệu thuộc Nixon Presidential Materials Collection/Presidént’s Office Files/Memoranda for the President, hiện lưu trữ tại National Archives. Nhật báo Washington Post có sơ lược nội dung trong số báo ra ngày Chủ Nhật 10.1.1999. Trong khoảng 1969-1974, các chuyên viên quan sát quốc tế đều biết Hoa Kỳ đang dùng lá bài Trung Cộng để chèn ép Nga và dùng lá bài Nga để đưa Trung Cộng vào quỹ đạo quốc gia tư bản Tây phương. Từ những tài liệu giải mật nói trên, nhiều văn kiện cho thấy Nga đã gián tiếp hỏi Mỹ nghĩ thế nào nếu họ tấn công những căn cứ chiến lược của Trung Cộng bằng vũ khí nguyên tử. Vào tháng 4.1972, Kissinger bí mật gặp đại sứ Trung Cộng tại Liên hiệp quốc là Hoàng Hoa, đề nghị Mỹ sẽ cung cấp thêm những phóng ảnh vệ tinh về vị trí các đơn vị của Nga dọc theo biên giới Nga-Hoa. Trong cuộc gặp bí mật đó, không biết hai bên có bàn gì liên hệ đến Việt Nam hay không (thời gian đó là ngay vào trận “mùa hè đỏ lửa”), nhưng vài tháng sau, Hoàng Hoa viết thư cho Kissinger hỏi Hoa Kỳ có phản ứng gì khi Trung Cộng tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa hay không. Kissinger trả lời là hạm đội Mỹ được lệnh tránh xa khỏi những quần đảo đang tranh chấp đó, và Chính phủ Hoa Kỳ không có ý kiến hay muốn tham sự vào những tranh chấp đang xảy ra. Được đèn xanh, hải quân Trung Cộng tiến đánh quần đảo Hoàng Sa vào tháng 11.974. Đọc thêm, Nayan Chanda, Brother Enemy, trang 20-21; Kissinger, White House Years, trang 1114.
[27]Kissinger viết tất cả (đến năm 2002) 15 quyển sách và 45 tiểu luận. Trong số đó bốn tác phẩm có nhắc đến Việt Nam là White House Years (1979); Years of Upheaval (1982); Diplomacy (1994), và Ending the Vietnam War (2002). Chúng ta sẽ nói đến những chi tiết liên hệ trong những tác phẩm này ở chương tới.
[28]Larry Berman, No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and the Betrayal in Vietnam, trang 9. Đọc, Elmo Zumwalt, On Watch, trang 411-511, để thấy Ban tham mưu liên quân khinh miệt Kissinger như thế nào. Sau khi giải ngũ, Zumwalt là người công khai chỉ trích tư cách của Kissinger trong các vụ thương lượng ngoại giao. Đọc Isaacson, Sđd, trang 696-698.
[29]Đọc RN: The Memoirs of Richard Nixon, trang 443-444.
[30] Hỗn danh “Tricky Dick” được nữ dân biểu Hellen Douglas gọi Nixon lần đầu tiên khi hai người tranh ghế nghị sĩ vào năm 1950. “Dick” là tiếng rất thân mật để gọi tên “Richard”. Trong tập quán Mỹ, chỉ cha mẹ, người thân lâu đời, hay được cho phép, thì mới gọi người có tên Richard là Dick. Nhưng, “dick” lại là tiếng lóng tục để chỉ dương vật của đàn ông. “Tricky” là mánh khoé, mưu mô. Đây là một lối chơi chữ khi gọi Richard Nixon là “Tricky Dick”.
[31]Phần lớn những chi tiết về cá nhân của Nixon, tác giả trích theo hồi ký của Richard Nixon, RN: The Memoirs of Richard Nixon.
[32]Richard Nixon, Sđd, trang 78-88. Nhưng liên danh Eisenhower - Nixon gặp nhiều trở ngại từ lúc được đề cử cho đến ngày bầu cử vì Nixon bị tố cáo đang sử dụng một quỹ đen do nhiều thương gia cung cấp, để vận động cho quyền lợi của họ ở quốc hội. Sau này, trong năm năm rưỡi làm tổng thống (1969-1974), Nixon lại bị báo chí và đối thủ khui ra chuyện sử dụng quỹ đen thêm lần nữa. Về những nghi vấn của quỹ đen năm 1952, đọc cùng sách, trang 92-110.
[33]Những năm bầu cử tổng thống cũng là năm bầu lại tất cả dân biểu và một phần ba thượng nghị sĩ (và một số thống đốc ở các tiểu bang). Thông thường, uy tín chính trị của ứng cử viên tổng thống giúp thêm các ứng cử viên quốc hội cùng đảng lấy thêm được cử tri, và như vậy, người tổng thống tương lai có được đa số nghị viên cùng đảng trong quốc hội một lợi thế cho tổng thống khi cần dự luật nào đó được phê chuẩn. Ít khi nào một đảng thắng chức Tổng thống nhưng lại thua tỉ lệ đa số ở hai viện Quốc hội như trường hợp của Eisenhower vào năm 1956. Năm 1972 hiện tượng chính trị này xảy ra một lần nữa: Nixon thắng cử Tổng thống nhưng Đảng Dân chủ chiếm phần đa số ở Quốc hội. Chính những nghị viên Đảng Dân chủ đối lập đó đã gây nhiều khó khăn cho Nixon, từ những dự luật phản đối chiến tranh Việt Nam cho đến giới hạn quyền hành pháp của Tổng thống, và sau cùng là quyết nghị hạ bệ Nixon vào tháng 8.1974 qua vụ phạm pháp ở Watergate. Đọc Nixon, cùng sách, trang 180.
[34]Một trong những chi tiết về tổng thống Nixon ít được sách báo nói đến, là liên hệ của ông trong cuộc chiến Việt - Pháp vào những ngày cuối cùng: Nixon đề nghị gởi thêm chuyên viên cơ khí không quân (trước đó Mỹ đã gởi 200 người rồi) để gia tăng đầu cầu không vận hầu cứu vãn Điện Biên Phủ; đề nghị dùng không quân oanh tạc mạnh để đánh tiếng với Trung Cộng và Việt Minh là Hoa Kỳ sẵn sàng can thiệp nếu người Pháp không giữ nổi. Nixon có mặt trong tất cả các cuộc họp quan trọng của Hội đồng An ninh Quốc gia về tình hình Điện Biên Phủ trong tháng cuối cùng trước khi Pháp thất thủ. Về chuyến viếng thăm Sài Gòn, Hà Nội, của Nixon, đọc Richard Nixon, Sđd, trang 122-125; về những quyết định liên hệ đến Điện Biên Phủ, trang 150-155.
[35]Nixon, Sđd, trang 224-226. Kết quả số phiếu chính thức là, Kennedy, 34.221.463; Nixon, 34.108.528. Kennedy được 49,7%; Nixon 49,6%. Hai bên cách nhau 0,07%. Về chuyện lương lận, phiếu giả ở Texas, Johnson đã một lần bị tai tiếng về chuyện đó trong cuộc bầu cử thượng nghị sĩ năm 1949. Về cuộc bầu cử hào hứng Kennedy - Nixon, đọc Theodore H. White, The Making of the President 1960, phụ lục số 1.
[36]Nixon, Sđd, 442-447.
[37]Nixon, Sđd, trang 271-272.
[38]Nixon, Sđd, trang 285.
[39]Ở Chương 9, “Những con khỉ của năm Mậu Thân”, người viết đã sơ lược một số chi tiết quan trọng của năm bầu cử 1968 giữa Nixon và Humphrey. Nếu Johnson đã có vài mưu lược để giúp Humphrey, thì Nixon cũng đối lại bằng một số xảo thuật chính trị đang có trong tay (dùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để làm đình trệ kế hoạch của Johnson). Đọc Nixon, Sđd, trang 322-335, để thấy Nixon thú nhận ông quan tâm về những mánh khoé của Johnson vào những tuần cuối trước ngày bầu cử; một tác phẩm khác thật hay của William Safire, Before the Fall, về những mưu lược và kế hoạch chính trị của Nixon từ khi tuyên bố tranh cử vào tháng Giêng 1967, cho đến khi đắc cử vào tháng 11.1968.

Phần 2



Sau hai năm làm dân biểu, bốn năm nghị sĩ, tám năm phó tổng thống, và hai lần thất cử, Richard Nixon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ vào đầu năm 1969.
Trong năm năm tám tháng giữ chức vụ tổng thống, những thành quả của Nixon được nhiều người nhắc đến là thoả ước giảm thiểu vũ khí nguyên tử giữa Mỹ và Nga; thiết lập ban giao với Trung Cộng; và đưa quân đội và trách nhiệm của Hoa Kỳ ra khỏi chiến trường Việt Nam.
Chúng ta phải phân biệt chuyện Nixon đưa quân đội Mỹ khỏi Việt Nam, và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Vì mọi người đều thấy: Nixon đã thành công đưa quân đội Mỹ ra khỏi cuộc chiến, nhưng cuộc chiến vẫn còn sau khi người Mỹ rút đi. Nixon đã ép buộc VNCH phải ký vào hiệp định Ba Lê năm 1973, với lời hứa là nếu phía cộng sản xâm phạm hiệp ước, Nixon sẽ dùng biện pháp mạnh để bảo vệ những điều khoản đã ghi trong hiệp ước. Nixon hứa riêng với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là ông sẽ dùng tất cả khả năng của một vị tổng thống để bảo đảm giá trị của một hiệp ước mà ông xin muốn VNCH phải ký. Nhưng sự kiện lịch sử cho thấy Nixon không có cơ hội để chứng tỏ với VNCH - và những đồng minh bị bỏ rơi trên thế giới, như trong trường hợp Đài Loan - là ông có giữ đúng lời hứa hay không. Nixon không có dịp để chứng tỏ danh dự của ông vì bị truy tố trước Quốc hội Hoa Kỳ và phải từ chức để khỏi phải bị truất phế.
Ở phần dưới đây chúng ta sẽ bàn sơ về thái độ và hành động của Nixon đối với chiến tranh Việt Nam từ lúc ông lên nắm quyền cho đến ngày từ nhiệm.
Từ năm 1953 cho đến năm 1967 Nixon viếng thăm Việt Nam tất cả bốn lần. Sau mỗi lần quan sát, ý kiến của Nixon về cuộc chiến Việt Nam vẫn giống nhau: Nga và Trung Cộng đứng sau lưng cộng sản Bắc Việt trong cuộc chiến xâm lấn miền Nam. Và chỉ có một cách để làm CSBV từ bỏ ý định xâm lược là áp dụng áp lực quân sự. Nixon không sợ mang tiếng là kẻ ỷ mạnh hiếp yếu; ngược lại, Nixon thích cho đối phương biết ông ta sẵn sàng hiếp đối phương nếu cần. Trong những lần phát biểu ý kiến về chiến tranh Việt Nam lúc ứng cử tổng thống, Nixon chỉ trích chánh phủ Johnson là Hoa Kỳ đã không quyết tâm giải quyết cuộc chiến Việt Nam bằng quân sự. Trong chuyến thăm Sài Gòn vào tháng 4.1967, ông được giới chỉ huy quân sự trình bày cho ông biết sự bực tức của họ khi không được thẩm quyền quân sự cho phép đánh qua biên giới, hay đánh thẳng vào bất cứ nơi nào CSBV dùng làm sào huyệt. Nixon, trong một vài lần phát biểu, đã nhận định rất đúng về tình hình “trung lập” của Lào. Đối với Nixon, khi để Lào thành một quốc gia trung lập kiểu đó, Lào đã nằm trong quỹ đạo - nếu không nói thuộc về - CSBV và cộng sản Tàu. Một mình đơn độc, Nixon nhấn mạnh, Lào không bao giờ có thể giữ được sự trung lập theo ý nghĩa một quốc gia được độc lập về ý thức hệ chính trị với một lãnh thổ toàn vẹn. Suy luận song song theo chiều hướng chiến lược quân sự đó, Cam Bốt cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự như Lào. Nixon chỉ trích chính phủ Johnson đã không thật lòng khi không đặt vấn đề, hay giải quyết, hai yếu tố quan trọng Lào và Cam Bốt trong cuộc chiến Việt Nam. Nixon tuyên bố vào năm 1967, nếu Hoa Kỳ không đối diện với tình hình Cam Bốt và Lào; nếu Hoa Kỳ không thú nhận sự phức tạp của chiến tranh Việt Nam trong địa hình của Đông Dương ngay bây giờ, thì Hoa Kỳ sẽ phải thú nhận và đối diện vấn nạn đó về sau. Nixon nhấn mạnh - và chúng ta thấy điều đó thật đúng vào những năm cuối cùng của cuộc chiến - chiến tranh Việt Nam không phải chỉ giới hạn vào Việt Nam, mà là toàn cõi Đông Dương [1] .
Chúng ta nên để ý sự khác biệt về tinh thần của các Tổng thống Kennedy, Johnson và Nixon trong chiến tranh Việt Nam: Kennedy thích hào hùng, quân tử, nhưng bên trong thì nhát; Johnson thì hăm hở cuồng nộ nhưng không có trí thông minh, tài ngoại giao, hay sự kiên nhẫn để thực hiện ý định; còn Nixon thì có tất cả những tánh tình của hai tổng thống kia, cộng thêm tánh thích hành động bí mật từ bên trong hay nhờ tay người khác hành động cho mình, và đôi khi hành động ngoài vòng pháp luật. Nixon “mánh mung” hơn Kennedy và Johnson khi muốn hoàn tất một ý định. Từ Truman cho đến Nixon, mỗi vị tổng thống đều có liên hệ đến cuộc chiến Việt Nam bằng một hay nhiều quyết định và mỗi quyết định được thực hiện qua cách này hay cách khác. Truman, vì những quyền lợi của Mỹ ở Âu Châu, phải đành nhượng bộ và ít niều giúp Pháp để tiếp tục sự đô hộ ở Việt Nam. Eisenhower và Kennedy, với ý định muốn thiết lập một tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á gắng bồi đắp và gầy dựng một nền tự do dân chủ ở một quốc gia mới gọi là Việt Nam Cộng hoà. Sau Kennedy, Tổng thống Johnson muốn giải quyết cuộc chiến nhanh hơn với quân tác chiến, với vũ khí cơ hữu, với cấp số vài ba quân đoàn. Bây giờ cuộc chiến chuyền đến tay Nixon. Đến Nixon thì nhiệm vụ khó khăn hơn: ông phải đem người Mỹ ra khỏi cuộc chiến trong chiến thắng - hay ít ra, phải bảo vệ miền Nam với một nền hoà bình trong danh dự.
Khi ra tranh cử tổng thống, cũng không khác hơn những ứng cử viên trước và cùng lúc với ông, Nixon hứa sẽ chấm dứt cuộc chiến Việt Nam, sẽ đem lại hoà bình trong danh dự. Nixon không hứa hẹn gì về một chiến thắng quân sự, hay một thương thuyết ngoại giao nào để kết thúc chiến tranh. Một tháng sau khi đắc cử, Nixon rất tự tin ông sẽ giải quyết cuộc chiến Việt Nam trong vòng 12 tháng [2] . Nhưng khi thấy Hà Nội chỉ lợi dụng cuộc thương thuyết để câu giờ và cuộc chiến đã kéo dài ngoài dự định, Nixon quyết định cho đối phương thấy ông là người biết dùng vũ lực để thuyết phục, và Nixon đã không ngần ngại dùng vũ lực. Chúng ta có thể thấy một phần tinh thần của Nixon đối với cuộc chiến Việt Nam khi ông tuyên bố trước công chúng: “Lỗi lầm quan trọng nhất lúc tôi còn là tổng thống, là tôi đã không làm vào đầu năm 1969 những gì tôi đã làm vào ngày 3 tháng 5.1972, và 15 tháng 12.1972, nghĩa là dội bom và phong toả Bắc Việt. Tôi có bàn chuyện này với Kissinger. Nhưng kẹt là chính phủ tiền nhiệm Johnson đã quyết định ngừng dội bom để đi đến hội đàm Paris... tôi không tin họ [CSBV] muốn thương thuyết thật sự, và dĩ nhiên sau này chúng ta đã thấy sự giả tạo của cuộc thương thuyết đó. Nếu chúng ta thực hiện chuyện đó [dội bom và phong toả Bắc Việt] chúng ta có thể kết thúc cuộc chiến vào năm 1969 chứ không phải đến năm 1973. Đó là lỗi lầm lớn nhất của tôi trong thời gian làm tổng thống” [3] .
Nhiều tác giả loại “bồ câu”, phản chiến, và chống Nixon, thường luận bàn là sau năm 1968, sau khi CSBV chịu vào bàn thương nghị, lẽ ra cuộc chiến Việt Nam đã có cơ hội chấm dứt... Nhưng khi lên kế vị Johnson, Nixon đã kéo dài thêm cuộc chiến, đưa đến hơn hai mươi ngàn cái chết của quân nhân Hoa Kỳ, hơn một trăm ngàn quân VNCH và bốn hay năm lần số thương vong đó bên phía Bắc Việt [4] . Lý luận này không vững ở điểm những tác giả, sử gia nói trên không nói tại sao Nixon không thể chấp nhận những “đề nghị thương thuyết” căn bản của CSBV [5] .
Từ ngày đầu nhậm chức, Nixon đã cho phép giới quân sự dùng mọi kế hoạch, kể cả những kế hoạch quân sự phạm luật của Quốc hội Mỹ và công pháp quốc tế, để cho Hà Nội thấy Hoa Kỳ - dưới sự lãnh đạo của Nixon - biết dùng sức mạnh khi cần. Sau khi Tổng thống Johnson ra lệnh ngưng dội bom từ vĩ tuyến 20 trở lên, Nixon ra lệnh cho MACV [6] dùng tất cả không lực dùng vào miền Bắc trước đó để đánh vào chiến trường Lào và những căn cứ hậu cần của CSBV dọc theo biên giới Cam Bốt. Tuy nói là ngưng dội bom, nhưng thật sự phi vụ oanh tạc gia tăng nhiều hơn. Năm 1968 không lực Hoa Kỳ bay 3.377 phi vụ trên hệ thống đường xâm nhập Hồ Chí Minh; năm 1969 số phi vụ tăng lên 5.567, với khoảng 160 ngàn tấn bom thả xuống Hạ Lào. Chỉ trong năm tháng đầu năm 1969, bộ tư lệnh Đoàn 559 ở Trường Sơn đã thấy được cường độ oanh tạc dưới nội các mới [7] . Nhưng chưa đủ, Nixon muốn CSBV thấy rõ ý định của ông hơn. Đầu tháng 3.1969, Nixon nghe theo đề nghị của ban tham mưu liên quân - một đề nghị bị bỏ quên nhiều năm vì McNamara và Johnson không cho phép thực hiện - là phải huỷ diệt cơ sở hậu cần của CSBV bên trong nội địa Cam Bốt. Nhưng đánh qua Cam Bốt thì không được (ít ra là trong thời điểm đó), dội bom thì lại vi phạm công pháp quốc tế vì tính chất trung lập của Cam Bốt. Chỉ còn một cách duy nhất là bí mật dội bom - bí mật ở đây cũng có nghĩa là phạm luật [8] . Với tất cả thận trọng để đánh lừa báo chí và Quốc hội, Nixon cho phép Bộ tư lệnh Không quân Chiến lược và MACV hành động. Từ tháng 3.1969 cho đến tháng 4.1970, không quân chiến lược bay 3630. phi vụ, bỏ 110 ngàn tấn bom xuống các căn cứ hậu cần và binh trạm của CSBV nằm trong lãnh thổ Cam Bốt từ vùng tam biên ở Pleiku cho đến Mỏ Vịt ở Tây Ninh.
Để tránh bom, quân đội CSBV lấn sâu vào nội địa Cam Bốt về hướng tây, gần các khu dân cư. Với chiến thuật này, CSBV đã vô hiệu hoá các cuộc oanh tạc chiến lược bằng B-52 của Hoa Kỳ vào mật khu của họ trên đất Cam Bốt. Khi đại tướng Abrams tư lệnh MACV báo cáo Hoa Thịnh Đốn vấn đề đó, Nixon không ngần ngại quyết định tiến xa hơn: dùng bộ binh đánh qua Cam Bốt. “Chúng ta phải chứng tỏ cho đối phương biết chúng ta cương quyết với những gì đã hứa ở Việt Nam”, Nixon phát biểu khi đồng ý kế hoạch đánh qua Cam Bốt [9] . Để giới hạn những phản đối đến từ các nghị viên đối lập ở Quốc hội và các cuộc biểu tình của sinh viên trong và ngoài nước, Nixon chỉ cho phép quân đội Hoa Kỳ hoạt động trong vòng 30 cây số trong nội địa Cam Bốt, và quân Mỹ sẽ rút ra khỏi Cam Bốt sau 60 ngày. Thêm vào đó, quân đội VNCH sẽ khai diễn cuộc tấn công trước và sẽ là thành phần chủ động. Cuộc hành quân qua Cam Bốt chỉ thâu gặt được một số thành công giới hạn: ba sư đoàn cơ hữu của Việt Cộng, 5, 7, và 9, được lệnh phân tán mỏng từ một tháng trước đó. Các đơn vị CSBV được lệnh tránh giao tranh nếu không cần thiết và rút xa về hướng tây, về một cứ địa mới ở tỉnh Kratie. Tuy không gài bẫy được các đơn vị cộng sản như ý muốn, quân đội VNCH và đồng minh khám phá và tịch thu một số quân trang dụng, vũ khí và lương thực đủ trang bị và tiếp tế cho tất cả các đơn vị cộng sản ở miền Nam hơn một năm trời [10] .
Nixon đã trả một giá rất cao về uy tín chính trị với cuộc tấn công qua Cam Bốt: sau khi bốn sinh viên bị Vệ binh Quốc gia bắn chết trong một cuộc biểu phản chiến ở đại học Kent State, tiểu bang Ohio, hơn hai trăm ngàn người tham dự biểu tình chống Nixon ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn - một thành phố rất nhỏ để chứa hai trăm ngàn công dân bực tức. Quốc hội Hoa Kỳ chỉ trích Nixon; thẩm vấn lại quyền hạn hiến pháp của tổng thống có hay không khi đem quân tấn công qua một quốc gia “trung lập” như Cam Bốt. Nhưng đối với một chính trị gia lão luyện như Nixon, những cuộc biểu tình hay những ý kiến đối lập từ quốc hội là chuyện thường: Nixon tiếp tục gia tăng lực quân sự đối với CSBV. Hai ngày sau khi quân đội Mỹ và VNCH vượt biên giới, Nixon đích thân đến Ngũ giác đài để được tường trình về biến chuyển của cuộc hành quân. Khi nhìn bản đồ ghi chú địa điểm các căn cứ hậu cần khác của CSBV ở bắc Cam Bốt và Hạ Lào, Nixon hỏi những sĩ quan đang có mặt, là quân đội VNCH và Hoa Kỳ có khả năng tấn công tất cả những căn cứ đó không. Khi được trả lời là những cuộc tấn công tiếp theo qua biên giới sẽ gây nhiều phản ứng bất lợi từ dư luận và Quốc hội..., Nixon trả lời cho các sĩ quan là chuyện lợi hại về chính trị để ông lo, ông chỉ muốn họ trả lời là đánh được hay không. “Chúng ta đã bị thiệt hại về chính trị trong cuộc hành quân [qua Cam Bốt] này rồi. Nếu có thể huỷ diệt được tất cả các mật khu của địch để giảm thiểu thiệt hại cho quân ta, thì đây là đúng lúc để hành động... Tôi muốn tấn công tất cả các căn cứ đó. Chuẩn bị các kế hoạch cần thiết và thực hiện ngay”, Nixon tuyên bố với ban tham mưu liên quân [11] . Vài tháng sau khi VNCH và Mỹ kết thúc cuộc hành quân ở Cam Bốt, Tướng Abrams của MACV trình lên ban tham mưu liên quân kế hoạch đánh qua Lào. Tháng 12.1970 ban tham mưu liên quân đồng ý kế hoạch và một tháng sau, Nixon cho phép tiến hành. Trong khi kế hoạch đánh qua Lào vào tháng 2.1971 có thành công như tiên liệu hay không là một vấn đề chúng ta sẽ bàn cãi sau, ở đây, qua những quyết định quân sự, chúng ta muốn chứng minh tinh thần quyết liệt của Nixon khi thương lượng với Hà Nội. Trước đó, vào cuối tháng 11.1970, Nixon cho phép thực hiện một kế hoạch rất táo bạo: dùng đơn vị lực lượng đặc biệt bay từ Thái Lan qua Sơn Tây, một tỉnh chỉ cách Hà Nội vài chục cây số, để tiếp cứu vài chục tù binh Mỹ, dù biết biết kế hoạch có xác suất thất bại nhiều hơn thành công, nhưng Nixon muốn làm để cho đối phương thấy ông sẵn sàng chấp nhận may rủi nếu phải hành động [12] .
Đầu tháng 4.1972, khi nghe tin CSBV đem tất cả lực lượng tinh nhuệ của họ tấn công ba mặt ở miền Nam, Nixon phản ứng mãnh liệt với một cường độ làm ngay cả giới quân nhân phải quan tâm: Nixon muốn di chuyển tất cả B-52 mà bộ tư lệnh quân chiến lược có thể di chuyển được, đem qua Thái Lan và Guam để trả đũa CSBV. Khi CSBV ồ ạt xua quân chủ lực tấn công VNCH, Nixon nóng mặt vì thái độ ngoan cố của Hà Nội đã làm tổn thương danh dự của một vị tổng thống. Cùng lúc, Nixon thấy mình bị Nga và Trung Cộng lừa vì hai đàn anh quan trọng của Hà Nội đã thất hứa trong việc kiềm toả đàn em của họ. Tháng Giêng vừa qua Nixon có viết cho Brezhnev một lá thư, trong đó nhắn khéo với ông Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga là “Hoa Kỳ không có chọn lựa nào khác hơn là phản ứng mạnh nếu Bắc Việt có những hành động làm nhục chúng tôi". Rồi đến tháng Hai, Nixon vừa hoàn tất cuộc viếng thăm lịch sử ở Trung Cộng, nói chuyện với Mao và Chu Ân Lai. Đã cảnh cáo trước, Nixon không thể để những lời cảnh cáo của Tổng thống Hoa Kỳ bị coi thường. Hơn nữa, năm 1972 là năm bầu cử tổng thống, cuộc tấn công của Hà Nội không được để đi quá xa để trở thành một sự kiện có thể làm hư kế hoạch đắc cử nhiệm kỳ thứ nhì của Nixon. Theo hồi ký của nhiều nhân chứng và theo những tài liệu được giải mật về sau, đích thân Nixon chỉ huy cuộc phản công vào những ngày đầu khi CSBV tấn công toàn diện miền Nam vào năm 1972. Trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, chúng ta có thể nói đó là cuộc chiến của cá nhân Nixon - đó là thái độ của Nixon vis-a-vis VNCH và Hà Nội. [13]
Để đối phó với cuộc tổng tấn công của CSBV, Nixon ra lệnh hải quân được quyền xử dụng hai hạm đội cho chiến trường Đông Nam Á, nếu cần. Ý Nixon muốn nói, nếu hải lực của Hạm đội 7 chưa đủ, bộ tư lệnh Thái Bình Dương có quyền trưng dụng chiến hạm của Hạm đội 1 (trong thời gian đó ở vùng biển Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có hai hạm đội, đệ Nhất và đệ Thất). Nixon ra lệnh nếu bộ tư lệnh không quân Thái Bình Dương cần thêm không lực chiến thuật (vì lúc đó Hoa Kỳ đã sử dụng phân nửa không lực chiến lược, B-52, để phản công) họ có toàn quyền trưng dụng từ những bộ tư lệnh khác trên thế giới. Và đây là mệnh lệnh do đích thân Nixon phán, chứ không phải đến từ ban tham mưu liên quân, hay có sự yêu cầu của đại tướng Abrams ở MACV.
Cũng trong những tuần lễ đầu tiên của cuộc tấn công, nhiều tài liệu cho thấy Nixon có nhắc đến hai kế hoạch để triệt tiêu tài nguyên và nhân sự của miền Bắc. Hai kế hoạch Nixon nhắc đến - qua hội đàm hay điện thoại với các cố vấn thân cận - là dội bom những bờ đê quan trọng dọc trên sông Hồng Hà và sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật giới hạn để huỷ diệt quân đội CSBV. Nhưng phải nói, cho đến bây giờ, sau khi khảo sát những tài liệu và nghe lại điện đàm đã được giải mật, chúng ta vẫn không có đủ yếu tố để xác định Nixon nói đến việc sử dụng bom nguyên tử chiến thuật như là một tính toán thận trọng, hay chỉ là những phát ngôn trong cơn thịnh nộ đối với kẻ thù. Đây không phải là lần đầu tiên một vị tổng thống Hoa Kỳ nghĩ đến chuyện sử dụng vũ khí nguyên tử ở chiến trường Á Châu hay Việt Nam. Truman có đặt vấn đề đó ở chiến tranh Triều Tiên khi quân Mỹ đối diện với chiến thuật biển người của Trung Cộng; Eisenhower bàn luận về bom nguyên tử chiến thuật trong lúc thời gian Điện Biên Phủ đang hấp hối; và Johnson yêu cầu ban tham mưu cho ông biết kế hoạch nguyên tử, nếu cần phải sử dụng, khi hơn ba sư đoàn CSBV bao vây Khe Sanh. Nixon nghĩ đến vũ khí nguyên tử trong trường hợp này không phải là một ngoại lệ. Nhưng ở đây chúng ta không hiểu được được tâm lý và tinh thần của Nixon ra sao khi ông nói đến chuyện đó. Có thể Nixon đã uống quá nhiều và nói trong cơn say, trong ý nghĩa rượu nói - và chuyện Nixon uống nhiều vào cuối tuần, hay khi cần phải quyết định đại sự, là chuyện mọi cố vấn thân cận đều biết. Trong khi chúng ta không biết rõ Nixon nói thật hay chơi khi nói đến võ khí nguyên tử, nhưng chúng ta biết rõ Nixon cương quyết không để cho miền Nam bị tràn ngập trong cuộc tổng tấn công năm 1972 [14] .
Ngày 2 tháng 51972., khi nhận được tin Quảng Trị thất thủ trước sự tấn công ồ ạt của hơn ba sư đoàn CSBV, Nixon một mặt ra lệnh gia tăng phi vụ oanh tạc các cứ điểm quân sự chung quanh Hải Phòng và Hà Nội, mặt khác, Nixon đích thân đánh một điện văn cho Tổng thống Thiệu, cho ông biết Hoa Kỳ vẫn đứng sau lưng VNCH trong giờ phút nghiêm trọng như lúc này. Cùng ngày, Nixon ra lệnh cho ban tham mưu liên quân phát hoạ kế hoạch phong toả các giang cảng, bến tàu ở Bắc Việt bằng thuỷ lôi [15] .
Liền sau khi ban hành lệnh, khi thấy giới quân sự có vẻ chậm chạp trong lúc thi hành các phi vụ trên miền Bắc (không lực của hải và không quân chỉ cung cấp được trên hai trăm phi vụ ở Bắc Việt mỗi ngày vì thời tiết không cho phép), Nixon viết cho Kissinger một huấn lệnh, yêu cầu Kissinger tìm cách đốc thúc giới quân sự và các viên chức trong Hội đồng An ninh Quốc gia phải tìm mọi cách để gia tăng áp lực quân sự với Bắc Việt. Trong huấn lệnh cho Kissinger, Nixon đồng thời đặt câu hỏi về sự trung thành của những viên chức cao cấp ở Bộ Quốc phòng và Ngoại giao. Theo hồi ký của đại tướng Alexander M. Haig - một trong những phụ tá thân cận của Kissinger và Nixon - Tổng thống Nixon đã mất tin tưởng vào Đại tướng tư lệnh MACV, Abrams, và Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Lair. Nixon nghĩ hai viên chức trên không thật sự giúp VNCH hết lòng như ý ông muốn. Nixon viết: “Tôi không thể nhấn mạnh thêm hơn, là tôi đã quyết định chúng ta sẽ đánh cạn láng. Và chúng ta phải làm sao cho địch thấy được ấn tượng đó... Đối phương đã quyết định đánh cạn láng; chúng ta cũng đánh cạn láng. Chúng ta có trong tay quyền lực huỷ diệt bộ máy chiến tranh của họ. Nhưng câu hỏi là chúng ta có ý chí để sử dụng quyền lực đó không. Sự khác biệt giữa tôi và Tổng thống Johnson là, tôi có ý chí đó [sử dụng quyền lực] rất rõ ràng. Nhưng nếu chúng ta thất bại lần này thì cũng tại vì những viên chức quan lại ở Bộ Quốc phòng và những đồng minh của họ ở Bộ Ngoại giao. Họ cố gắng tìm cách phá hoại những quyết định mạnh bạo và quyết liệt mà tôi muốn chúng ta phải thi hành” [16] .
Ngày 5 tháng 5.72, khi Kissinger từ Paris trở về báo cáo là Hà Nội đã từ chối tiếp tục thương thuyết, Nixon không chần chờ: trưa ngày 8 ông ra lệnh cho Đô đốc Thomas H. Moore, Tham mưu trưởng liên quân, chuẩn bị phong toả tất cả giang và hải cảng Bắc Việt, và chuẩn bị khởi diễn cuộc hành quân không lực Linebacker. Chín giờ tối cùng ngày, Nixon lên đài truyền thông, thông báo cho dân chúng Mỹ ý định của ông. Trong thông điệp, Nixon nói Hoa Kỳ có ba chọn lựa: lập tức rút tất cả quân đội Hoa Kỳ khỏi Đông Nam Á; tiếp tục thương lượng với Hà Nội để tìm một giải pháp; và, dùng áp lực quân sự để ép buộc đối phương. Nhưng, Nixon tuyên bố, kinh nghiệm đã cho thấy hai chọn lựa đầu chỉ kéo dài cuộc chiến, kéo dài thêm chết chóc. Bây giờ chỉ còn chọn lựa thứ ba: Hoa Kỳ sẽ oanh tạc cho đến khi nào Bắc Việt chịu ngồi lại thương thuyết.
Ngày 9 tháng 5, hải quân thả thuỷ lôi phong toả Vịnh Bắc Việt. Tàu bè ngoại quốc có 48 tiếng đồng hồ để rời bến. Sau thời hạn đó, ngòi nổ tự động của thuỷ lôi sẽ hoạt động kể từ sáng ngày 11. Ngày 10 tháng 5, cuộc hành quân không lực Linebacker khởi diễn. Hôm đó, chỉ trong 12 tiếng đồng hồ, phi cơ chiến thuật của không và hải quân bay 414 phi vụ thả bom chung quanh Hải Phòng và Hà Nội [17] .
Nixon tự nhận mình là một tay đánh phé giỏi, biết coi mặt để đoán bài đối phương [18] . Nixon biết lúc nào phải tố; và càng tố mạnh khi có bài trong tay. Đến cuối tháng 9.1972, cuộc tổng tấn công của CSBV đã hoàn toàn thất bại: An Lộc được giải toả; Kontum vẫn nằm trong tay quân đội VNCH như từ lúc đầu của cuộc tấn công; và cờ của VNCH đã tung bay trở lại ở cổ thành Quảng Trị. Đối diện với sự thất bại quân sự, Bắc Việt chịu trở lại bàn hội nghị. Nhưng Hoa Kỳ - và VNCH - không thể chấp nhận hai đề nghị của Hà Nội đưa ra vào ngày 26 và 27 tháng 9.1972 ở Paris. Trong khi Kissinger tiếp tục thương lượng với Hà Nội - và khẩn nài Sài gòn phải nghe theo kế hoạch của Mỹ - Nixon vẫn giữ yên lặng về thái độ của CSBV cho đến qua ngày bầu cử tổng thống. Kết quả bầu cử cho thấy Nixon được sự tính nhiệm lớn của cử tri Hoa Kỳ. Với kết quả đắc cử trong tay, ngày 14 tháng 12.1972 Nixon quyết định cho Hà Nội thấy họ không có chọn lựa nào khác. Đi ngược lại những cố vấn quân sự của Tổng trưởng Quốc phòng Laird, Ban tham mưu liên quân, và Tư lệnh Thái Bình Dương, ngày 17 tháng 12, Nixon ra lệnh khai diễn cuộc hành quân không lực Linebacker II tiếp theo. Trong ba ngày đầu dội bom, hỏa tiễn địa không của Bắc Việt bắn rớt 14 B-52. Khi thấy Ban tham mưu liên quân và Bộ tư lệnh Thái Bình Dương nao núng, Nixon ra lệnh cho Đô đốc Moorer tiếp tục cường độ oanh tạc và bắt vị tham mưu trưởng liên quân này phải đích thân chịu trách nhiệm về kết quả của chiến dịch oanh tạc. [19] Sau mười một ngày dội bom, hơn một ngàn phi vụ chiến thuật và 770 phi vụ chiến lược B-52, Lê Đức Thọ xin trở lại bàn hội nghị lần cuối.
Không ai có thể nói Hiệp định Ba Lê 1973 đã đem lại một nền hoà bình cho Việt Nam, hay một danh dự cho Hoa Kỳ. Hiệp định Ba Lê 1973 chỉ là một văn kiện để cho Hoa Kỳ rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam một cách danh chánh ngôn thuận. Trong khi một số người chỉ trích hành động dội bom của Nixon, đa số dân chúng Hoa Kỳ coi đường lối của Nixon là một phương cách duy nhất để khuất phục CSBV. Từ đầu tháng 5.1972, bắt đầu chiến dịch Linebacker, khi Nixon tuyên bố ông sẵn sàng thất cử nhiệm kỳ hai hơn là để mất miền Nam, cho đến đầu tháng Giêng khi Nixon tái đắc cử, và kết thúc chiến dịch Linebacker II, những cuộc trưng cầu dân ý cho thấy 67% dân chúng ủng hộ đường lối của Nixon [20] .
Không ai phủ nhận Nixon là một chính trị gia loại Machiavelli hành động tốt xấu gì cũng được, miễn sao có lợi cho mục đích tối hậu của chính trị. Để giữ lời hứa “đưa quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam” với cử tri Hoa Kỳ, Nixon đã làm những gì một chính trị gia có thể làm vis-a-vis kẻ thù; đồng minh; và người dân đã bỏ phiếu cho mình: áp dụng vũ lực quân sự đối với kẻ thù; bắt buộc người bạn đồng minh phải chấp nhận một thực tế chính trị; và chấp nhận ý muốn của cử tri là đã đến lúc Hoa Kỳ phải rời Việt Nam. Sau đó, liên hệ còn lại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ là những lời hứa đến từ cá nhân của một tổng thống - khi còn làm tổng thống - của Richard M. Nixon.
Lịch sử sẽ có nhiều bí ẩn nếu một hoàn cảnh lịch sử được giả định bằng chữ nếu. Nếu Nixon không liên hệ đến vụ Watergate và không phải từ chức, thì Nixon có giữ lời hứa với Tổng thống Thiệu, với Việt Nam Cộng Hoà khi Bắc Việt tấn công cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975 hay không? Nếu Nixon không bị mất tín nhiệm ở Quốc hội, và Quốc hội Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chương trình viện trợ quân sự kinh tế cho VNCH thì vận mệnh của VNCH có đổi khác không? Những câu hỏi này là những tranh luận không ngừng của sử gia [21] .
Khi Nixon được ghi vào lịch sử những vị tổng thống Hoa Kỳ, ông có thể được liệt kê là xấu hoặc tốt; giỏi, hay dỡ. Nhưng không ai có thể phủ nhận Nixon có một sự nghiệp chính trị ngoại hạng.
Ngoài những bí ẩn, lịch sử còn có nhiều trớ trêu: sự nghiệp chính trị ngoại hạng của Nixon bị sụp đổ chỉ vì một sơ hở của những tên ăn trộm chuyên nghiệp nhưng làm biếng.
Và cũng có nhiều nhận định cho rằng, định mệnh của Việt Nam Cộng Hoà có một phần nào đó liên luỵ đến hậu quả của những tên ăn trộm lười biếng này [22] .


--------------------------------------------------------------------------------

[1]Nixon, Sđd, trang 270-271.
[2]Nixon, Sđd, trang 390.
[3]Nixon tuyên bố trên hệ thống truyền hình NBC, ngày 10 tháng 4.1988, hơn 14 năm sau khi từ chức. Trích theo Bruce Oudes, trong From: The President. Richard Nixons Secret Files, trang 1.
[4]Trích theo A. J. Langguth, Our Vietnam: The War 1954-1975, trang 622. Về số tử thương hàng năm của quân đội Mỹ từ 1945 đến 1975, đọc James Olson, ed., Dictionary of the Vietnam War, Appendix E.
[5]Trong hai năm đầu nói chuyện với CSBV, Hà Nội khăng khăng đề nghị phải thi hành hai điều kiện tiên quyết: thay (nếu cần, ám sát) Tổng thống Thiệu và rút quân ra khỏi Việt Nam, rồi sau đó Hà Nội sẽ thật sự thương lượng. Nhưng nếu Mỹ thi hành hai điều kiện đó thì tương đương với đầu hàng. Henry Kissinger, Diplomacy, trang 695; Jeffrey Kimball, Nixons Vietnam War, trang 233, 270, 272. Ở chương sau chúng ta sẽ đi vào chi tiết hơn về những gặp gỡ bí mật giữa Hoa Kỳ và CSBV.
[6]MACV: Military Assistance Command-Vietnam, Sở chỉ huy chiến trường ở các địa phương trong chiến tranh Việt Nam (talawas).
[7]Seymour M. Hersh, The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, trang 55 (phụ chú). Theo tác giả Trường Sơn, Cuộc hành trình năm ngàn ngày đêm (đường Hồ Chí Minh), (Thành Phố HCM: NXB Văn Nghệ, 1992), trang 185, trong năm tháng đầu của năm 1969, bộ tư lệnh Trường Sơn (Đoàn 559) bị chết 2.500, bị thương 2.938, và có 1.000 xe bị tiêu huỷ. Con số thiệt hại này rất khiêm nhường so với các tài liệu khác. Cũng theo tác giả, không lực Hoa Kỳ làm đình trệ bốn mươi lăm phần trăm công tác của hệ thống xâm nhập trong thời gian trên. Trường Sơn là bút hiệu của đại tá Phạm Tề, một cựu sĩ quan của Đoàn 559.
[8]Giải thích một cách vắn tắt ở đây, kế hoạch dội bom bí mật và giấu các thẩm quyền quân sự khác được thực hiện như sau: bộ tư lệnh MACV ở Sài Gòn yêu cầu những phi vụ B-52 dội bom những nơi tập trung quân dọc theo biên giới Việt-Căm Bốt như thường lệ. Nhưng vài giờ trước khi các phi vụ cất cánh, MACV cho người đến trung tâm điều khiển oanh tạc (tất cả các phi vụ B-52 được điều khiển bằng hệ thống radar hướng dẫn mục tiêu ở dưới đất) với những tọa độ mới. Trên đường bay đến mục tiêu, một số phi công nhận những thay đổi vào giờ chót, và được hướng dẫn đến mục tiêu mới. Sau mỗi phi vụ, quân lệnh ghi toạ độ được thiêu huỷ; các sĩ quan liên hệ không được bàn luận về những phi vụ đó với bất cứ ai. Sự việc đổ bể khi một số đơn vị đóng quân bên này biên giới chứng kiến bom rơi bên kia biên giới, trong nội địa Cam Bốt, và họ viết thư về kể chuyện này với nghị viên Quốc hội Hoa Kỳ. Một trong những tác phẩm viết chi tiết nhất về kế hoạch dội bom B-52 bí mật trong nội địa Cam Bốt là Sideshow: Kissinger, Nixon and the Destruction of Cambodia của William Shawcross. Nixons Vietnam War của Kimball, và The Price of Power của Hersh cũng có vài chương với nhiều tài liệu phong phú về cuộc dội bom này.
[9]Nixon, Sđd, trang 445.
[10]Về các chi tiết quan trọng của cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, đọc: Chuẩn tướng Trần Đình Thọ, “The Cambodian Incursion". Theo Lewis Sorley, trong A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedies of Americas Last Years in Vietnam, trang 208-209, tài liệu tịch thu ở Cam Bốt cho thấy các đơn vị Việt Cộng trong vùng hành quân đã nhận được chỉ thị trước về cuộc hành quân và cuộc đảo chánh Sihanouk của tướng Lon Nol từ giữa tháng 3.1970. Trương Như Tảng, trong A VietCong Memoir: An Inside Account of the Vietnam War and Its Aftermath, trang 176-178, có nói sơ về cuộc di tản của Mặt trận Giải phóng miền Nam và Chánh phủ Cách mạng Lâm thời về tỉnh Kratie khi quân VNCH đánh vào sào huyệt họ. Cũng trong những trang đã trích, Trương Như Tảng nói đầu tháng 3.1970, dựa vào tin tức từ tình báo Nga, Hà Nội báo cho họ biết Sihanouk sắp bị đảo chánh, và có thể có một cuộc tấn công trong tương lai của VNCH.
[11]Nixon, Sđd, trang 453-454. Chữ “tất cả” in nghiêng là nguyên thuỷ của Nixon.
[12]Nixon, Sđd, trang 860. Về chi tiết cuộc hành quân giải cứu tù binh ở Sơn Tây, đọc Benjamin F. Schemmer, The Raid. Tuy cuộc đột kích giải cứu tù binh không thành công (tù binh được dời di trại khác vì bị mưa lụt), cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thú nhận với nhà báo Seymour Hersh là, Hoa Kỳ có khả năng tấn công tận hậu cứ của họ, và họ phải cẩn thận canh chừng khả năng “dám liều” đó. Đọc Hersh, Sđd, trang 305-306. Hersh nói chuyện với Nguyễn Cơ Thạch khi đến Hà Nội vào tháng 3.1972.
[13]Về lời cảnh cáo Hà Nội, nhắn qua Nga và Trung Cộng, của Nixon, đọc Seymour Hersh, Sđd, trang 504-505; Jeffrey Kimball, Nixons Vietnam War, trang 294.
[14] Khi một số tài liệu và điện đàm tối mật của Nixon và cố vấn than cận được giải mật vào tháng 2.2002, công luận mới nghe và đọc được chuyện Nixon nói về ý định dội bom các bờ đê ở Hà Nội và dùng bom nguyên tử chiến thuật để chận đứng CSBV, trong lần họp với Kissinger ở toà Bạch ốc vào ngày 25 tháng 4.1972. Lý do chúng ta không xác định được thái độ hư thực của Nixon, vì sau khi nghe lại cuốn băng, một số ký giả cho rằng Nixon nói với một giọng nghiêm trọng; một số khác thì cho đó chỉ là những phát ngôn trong lúc Nixon nóng giận. Đọc Jeffrey Kimball, The Vietnam War File: Uncovering the Secret History of Nixon-Era Strategy, trang 214-218. Nhưng trước đó, vào giữa năm 1971, Nixon cũng có nói về chuyện sử dụng bom nguyên tử đối với CSBV. Đọc Seymour, Sđd, trang 396 (phụ chú). Rất nhiều sách và nhân chứng nói về tật uống rượu cuối tuần của Nixon. Vào cuối tuần Nixon thường về Camp David, một nhà nghỉ mát của tổng thống chỉ cách Hoa Thịnh Đốn chừng 150 cây số. Nixon cũng thường uống rượu một mình ở toà Bạch ốc trong lúc phải quyết định chuyện quan trọng hay lúc viết huấn lệnh cho thuộc cấp. Một trong số những tài liệu giải mật, có một đoạn nói Thủ tướng Anh McMillian gọi Nixon muốn nói chuyện, nhưng Kissinger ra lệnh cho phụ tá trả lời là Nixon không thể nói chuyện được vì ông đã quá say rồi. Những thí dụ khác về tật uống rượu của Nixon, đọc Seymour, Sđd, ở những trang 108-110, 396, 486, 513, và 528.
[15]Nixon, Sđd, Nixon ra lệnh cho Ngũ giác đài, trang 587; viết điện tín cho Tổng thống Thiệu, trang 600.
[16]Nixon, Sđd, trang 607. Chữ nghiêng nguyên thuỷ của Nixon. Sự bất tín nhiệm của Nixon đối với Tổng trưởng Laird và Đại tướng Abrams được Đại tướng Alexander M. Haig viết trong hồi ký Inner Circles: How Ameica Changed the World, trang 282-283.
[17]Về chi tiết ngày đầu cuộc hành quân không lực Linebacker, 10 tháng 5.1972, đọc One Day in a Long War, của Jefrrey Ethell và Alfred Price. Đây là quyển sách rất đầy đủ về một ngày dội bom của Hành Quân Linebacker.
[18]Nixon, Sđd, trang 29, 34. Sau khi rời quân ngũ, trở về đời sống dân sự và chuẩn bị ra tranh cử, khi Nixon nói về tình trạng tài chánh của gia đình, ông có kể luôn khoản tiền ăn được từ những canh bài phé.
[19]Nixon, Sđd, trang 734; Haig, Sđd, trang 311. Sự thiệt hại của không quân Mỹ xảy ra một phần vì hoả lực phòng không của CSBV quá mạnh, nhưng phần lớn do kế hoạch hành quân quá vội vàng của bộ tư lệnh không quân chiến lược. Ba ngày oanh tạc đầu tiên, Hoa Kỳ thiếu phản lực cơ yểm trợ và quấy nhiễu các hệ thống ra đa trước pháo đài bay B-52 đến mục tiêu. Khuyết điểm thứ hai là các phi vụ bay đúng giờ và cùng một đường bay, rất dễ cho đối phương đoán biết trước. Sau ba ngày thiệt hại, bộ tư lệnh các không lực thay đổi chiến thuật tấn công, và Hoa Kỳ không bị một thiệt hại nào ngoài số thiệt hại đã nói. Đọc thêm, Carl Berger, chủ biên, The United States Air Force in Southeast Asia: 1961-1973, trang 97-98.
[20]Haig, Sđd, trang 285, 314.
[21] Pat Buchanan, trưởng phòng báo chí toà Bạch ốc của Nixon, tuyên bố, những ai đã phá hoại nền tổng thống của Nixon cũng đồng thời liệng sự hy sinh của 58.000 quân nhân Mỹ ở Việt Nam xuống ống cống. Ý Buchanan muốn nói, nếu Nixon không từ chức, chưa chắc miền Nam bị rơi vào hoàn cảnh như đã xảy ra và sự hy sinh của các quân nhân Mỹ không trở thành vô ích. Pat Buchanan, trả lời phỏng vấn trên chương trình “Today” của hệ thống truyền hình NBC, thứ Bảy, 4 tháng 5.2005.
[22]Đêm 16 tháng 6.1972, năm người có liên hệ với một số viên chức đang làm việc trong toà Bạch ốc, đột nhập vào một khách sạn/chung cư sang trọng có tên là The Watergate, toạ lạc cách toà Bạch ốc vài cây số, với ý định đặt máy thu âm và chụp một số tài liệu. Vì cửa ra vào ở các khách sạn tự động khoá lại khi ra vào, thay vì dùng chìa khoá để mở cửa mỗi khi ra vào, những người này dùng băng keo dán chốt khoá lại để đỡ tốn thì giờ ra vô. Một nhân viên an ninh của khách sạn tuần hành ngang và để ý thấy chốt khoá bị băng keo dán lại. Tưởng rằng nhân viên sửa chữa dán lại trong khi làm việc, anh ta không quan tâm, tháo băng keo ra và đóng cửa lại. Nhưng lần tuần hành thứ nhì trở lại, chốt khoá lại bị dán kín nữa. Nghi ngờ là có vụ trộm đang xảy ra, anh ta gọi cảnh sát: Vụ Watergate bắt đầu từ đó, và hơn hai năm sau đưa đến sự từ nhiệm của Nixon. Năm người “ăn trộm” nói trên không phải là những tay trộm tài tử, mà là những người đã từng hoạt động nhiều điệp vụ bí mật. Một tháng trước, họ đã đột nhập vào Watergate, đã đánh cắp được một số tài liệu mật của Đảng Dân chủ. Họ trở lại lần này vì cần phải gắn lại một máy thu âm mới. Toán ăn trộm này nằm dưới sự điều động của vài nhân viên cao cấp đang làm việc cho Nixon. Họ từng phục vụ trong ngành tình báo quân sự và dân sự của Chính phủ Hoa Kỳ (thí dụ như Gordon G. Lily, FBI; Howard Hunt, CIA; và Charles Colson, tình báo quân đội). Rất nhiều tài liệu nói về vụ Watergate và sự sụp đổ của Chính phủ Nixon bắt nguồn từ vụ Watergate. Vài tài liệu căn bản: Carl Bernstein and Bob Woodward, All the Presidents Men (New York: Simon & Schuster, 1974); và, The Final Days (New York: Simon & Schuster, 1976). Về những điều tra, tang chứng và kiện tụng trước toà án, đọc Leon Jaworski, The Right and the Power (New York; Readers Digest Press, 1976). Alexander Haig, Inner Circles, cũng có nhiều chi tiết bên trong toà Bạch ốc trong những ngày cuối của Nixon.
Phần 3



Chương 11
Việt Nam hóa và rút quân
Trong cuộc chiến chống cộng, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) có một số lỗi lầm quan trọng về chiến thuật và chiến lược. Một trong những lỗi lầm nghiêm trọng nhất VNCH vấp phải là sự chậm trễ trong nỗ lực tổng động viên, dồn tất cả nhân lực của quốc gia vào mục tiêu chống cộng.
Ở miền Bắc, từ sau quyết nghị “phải dùng vũ lực để thống nhất miền Nam” của Lê Duẩn vào tháng 5-1959, chính quyền cộng sản đã động viên nhân lực nhiều lần để thực hiện mục đích xâm lăng của họ. Trong khi đó, phía VNCH chỉ chính thức ban hành luật động viên một cách phổ quát sau cuộc tổng công kích Mậu Thân 1968 của Cộng sản Bắc Việt (CSBV). Những năm trước đó, tháng 8-1957 và tháng 1-1959, các sắc luật về động viên có tính cách giai đoạn, nằm dưới hình thức Nghĩa vụ Quân sự. Hai sắc luật trên qui định: Nam công dân tuổi từ 20 đến 21 phải phục vụ trong quân đội một thời gian là 18 tháng rồi được trở về đời sống dân sự. Hai sắc luật này rất lỏng lẻo, và nhà chức trách cũng không thực tâm thi hành triệt để. Tháng 4-1964, sau cuộc đảo chánh thứ nhì trong vòng hai tháng (đảo chánh Ngô Đình Diệm 1-11-1963; và Nguyễn Khánh “chỉnh lý” Dương Văn Minh, 1-1-1964) một sắc luật mới được ban hành, qui định về Nghĩa vụ Quốc gia và Phòng vệ Dân sự. [1]
Luật tổng động viên 1968 do Quốc hội ban hành (thay vì chỉ là sắc luật tạm thời) là kết quả của sự thúc bách khi VNCH đối diện vấn đề một sống một còn với cộng sản. Tháng 3 năm 1968, sau khi cuộc tổng công kích của cộng sản bị bẻ gãy và tình hình an ninh tương đối ổn định, Quốc hội VNCH ban hành luật tổng động viên, bắt tất cả công dân nam, tuổi từ 18 đến 35, phải thi hành nghĩa vụ quân sự trong một thời gian vô hạn định. [2] Chính phủ đồng thời gọi tái ngũ những cựu quân nhân trong hạn tuổi nói trên nếu chưa có đủ năm năm quân vụ trong quá khứ.
Nhưng đầu năm 1968, trong khi chính phủ VNCH bắt đầu kế hoạch tổng động viên để có đủ nhân lực đối phó với CSBV, thì Hoa Kỳ đã muốn thay đổi vai trò của họ ở Việt Nam: Sau hơn ba năm chia sẻ gánh nặng ngoài mặt trận, Hoa Kỳ bắt đầu nghĩ đến kế hoạch “nhường” cuộc chiến lại cho quân đội VNCH và chuẩn bị rút quân.
Ở chương này chúng ta sẽ nói về kế hoạch Việt Nam hóa và kế hoạch rút quân của người Mỹ ra khỏi chiến trường i và chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, chúng ta cũng nói đến những gánh nặng của quân lực VNCH khi phải nhận thêm những vai trò của người Mỹ bỏ lại; sự thành công qua chương trình bình định và phát triển Nông thôn; và nhất là những cơ hội VNCH đã bỏ lỡ trong cuộc chiến chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt N những cơ hội mà chúng ta có thể gọi là những chiến thắng bị bỏ lỡ. [3] Đây là những giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc chiến, và cũng là những cố gắng cuối cùng của người Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh Việt Nam.


*

Năm 1969.
Vừa nhậm chức, tổng thống Nixon ra lệnh cho Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger soạn thảo một kế hoạch để giải quyết chiến tranh Việt Nam nhanh chóng như những gì ông đã hứa với cử tri lúc vận động tranh cử.
Như đã nói ở chương trước, Nixon N và bây giờ có thêm Kissinger rất phấn khởi và tự tin về những gì ông có thể thực hiện để kết thúc cuộc chiến. Nixon tuyên bố với các viên chức cao cấp trong buổi họp đầu tiên của nội các, ông sẽ kết thúc cuộc chiến trong vòng một năm. Cùng lúc, tân Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger nói với người ngoài và bạn bè cũ ở đại học Harvard ông chỉ cần sáu tháng. [4]
Trước đó, ngay sau khi được Nixon bổ nhiệm chức Cố vấn An ninh Quốc gia T 27 tháng 11-1968 cho đến ngày Nixon tuyên thệ nhậm chức 20 tháng 1-1969 Kissinger đã nhờ công ty RAND thực hiện làm một nghiên cứu tổng quát để thu thập ý kiến của các giới chức cao cấp trong chính phủ về chiến tranh Việt Nam. Người soạn thảo bản nghiên cứu đó là Daniel Ellsberg, một nhân vật mà hai năm sau gây ra một chấn động cho chính quyền Nixon. [5] Bản nghiên cứu của Ellsberg cho thấy đầu năm 1969, trong nội các mới của Nixon có ba nhóm, với ba ý kiến và nhận định khác nhau về kế hoạch kết thúc chiến tranh Việt Nam: Nhóm A, gồm các viên chức cao cấp ở ban tham mưu liên quân, MACV, bộ ngoại giao và nhân viên tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, lạc quan về đường lối cuộc chiến đang diễn biến. Ý kiến của Nhóm A là cứ tiếp tục dùng áp lực quân sự cho đến khi nào phía cộng sản chịu thương lượng, hay bị đánh bại, thì lúc đó cuộc chiến mới được coi là kết thúc. Nhóm này đề nghị Hoa Kỳ không nên rút quân ra khỏi Việt Nam nhiều hay quá nhanh; phải cần ít nhất một năm, hay một năm rưỡi nữa mới nên nói chuyện rút quân. Nhóm B, gồm có ông tổng trưởng quốc phòng, các nhân viên cao cấp dưới quyền, một thiểu số ở bộ ngoại giao, và một số viên chức CIA, có ý kiến bi quan về cuộc chiến. Họ nghĩ chiến lược truy lùng và triệt tiêu của tướng Westmoreland không có hiệu quả; và cuộc chiến không thể kéo dài dưới sự tốn kém về tài nguyên và nhân lực như đang xảy ra. Nhóm B đề nghị Hoa Kỳ nên thương lượng, nên nhân nhượng với cộng sản N thí dụ như chấp nhận một chánh phủ liên hiệp ở miền Nam. Chỉ có cách đó, Nhóm B đề nghị, thì Hoa Kỳ mới có thể rút khỏi Việt Nam trong danh dự. Một nhóm khác, không có đại diện chính thức và không có tiếng nói quan trọng trong chánh quyền, gọi là Nhóm C, thì có ý kiến rất thẳng và hoàn toàn khác hai nhóm trên: Hoa Kỳ có được chiến thắng về quân sự hay không; cuộc thương lượng chính trị với cộng sản ở Ba Lê có thành công hay không, Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam trong vòng một, hay hai năm c dù có hay không có sự tán thành hay đồng ý của chính phủ VNCH. [6]
Với nhiều ý kiến trái ngược đến từ các cơ quan và nhân viên cao cấp chính quyền, Kissinger muốn xác định lại một lần nữa trước khi quyết định tổng kết một đường lối rõ rệt cho Việt Nam. “Đồng ý với nhau còn chưa xong, thì làm gì có được một lập trường chung,” Kissinger phê bình những ý kiến gởi về. Nhận thấy điều đó, Ellsberg đề nghị N và Kissinger đồng ý một nghiên cứu mới: thay gì hỏi ý kiến tổng quát và giống nhau ở các cơ quan, lần này bản nghiên cứu nên hỏi riêng biệt từng cơ quan, với một số câu hỏi dựa vào trách nhiệm cụ thể cơ quan đó đối với cuộc chiến.
Ngày 21 tháng Giêng, 1969, Kissinger gởi đến bộ ngoại giao, ban tham mưu liên quân, CIA, đại sứ Bunker ở Sài Gòn, và Bộ quốc phòng, một huấn lệnh có tên là NSSM 1. Huấn lệnh NSSM 1 có 29 câu hỏi chánh và 50 câu hỏi phụ, liên quan đến kế hoạch và ý kiến của mỗi cơ quan về cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù câu hỏi hơi khác nhau tùy theo nơi nhận, phần lớn các câu hỏi có nội dung như: tình hình cuộc thương thuyết ở Ba Lê [7] ; khả năng của quân đội VNCH; tiến triển của chương trình bình định và Xây dựng Nông thôn; nội tình chính trị của VNCH; tình hình của địch; và, hiệu quả về các hoạt động quân sự của quân đội Hoa Kỳ đang diễn ra. [8] Tổng hợp các ý kiến và câu trả lời trong bản nghiên cứu lần thứ nhì gởi về cho hội đồng an ninh quốc gia không khác hơn lần trước. Tuy nhiên, lần này bản nghiên cứu có những nhận định được gọi là tương đối tổng hợp các ý kiến chung của thẩm quyền Mỹ ở Việt Nam. Ý kiến chung là: trước khi Hoa Kỳ rút đi, chính phủ VNCH phải chỉnh đốn giai cấp lãnh đạo trong quân đội để nâng cao tinh thần chiến đấu; quân đội VNCH có khả năng đối đầu với bất cứ cuộc tấn công nào của CSBV nếu được sự yểm trợ hỏa lực của quân đội Hoa Kỳ; tuy nhiên trên đường dài, VNCH không thể đương đầu với một cuộc tổng tấn công qui mô của CSBV nếu không nhận được tiếp tế đầy đủ về kinh tế và quân sự; và sau cùng ự cũng là vấn đề quan trọng nhất nếu Hoa Kỳ quyết định rút quân, nhịp độ và số lượng quân rút đi sẽ là một ảnh hưởng quan trọng trong thời kỳ quân đội VNCH đang cố gắng bành trướng để thay vào chỗ trống của quân đội Hoa Kỳ.
Cuối tháng 3-1969, hội đồng an ninh quốc gia họp để điều nghiên về kết quả của NSSM 1. Nhưng theo những gì chúng ta biết được sau này, Kissinger và Nixon không quan tâm nhiều đến những ý kiến trả lời cho huấn lệnh NSSM 1. Hoặc họ hỏi để mà hỏi, hoặc họ chỉ muốn nhận diện ai là “bồ câu,” ai “diều hâu” đối với cuộc chiến. “Hỏi để cho biết,” Kissinger tuyên bố về bản nghiên cứu NSSM 1 sau này. Lý do Nixon và Kissinger không quan tâm đến những câu trả lời, vì đối diện với một mớ ý kiến lộn xộn và trái ngược của những giới chức đang điều hành cuộc chiến, Nixon và Kissinger quyết định để ra vài tháng để đi tìm một kế hoạch khả dĩ phù hợp với quần chúng và đường lối chính trị đương thời. [9]
Mặc dầu danh từ Việt Nam hóa (Vietnamization) được dùng một cách phổ thông trên báo chí từ lúc Nixon lên nắm quyền, khái niệm Việt Nam hóa cuộc chiến Việt Nam được nảy sanh từ tổng trưởng McNamara vào cuối năm 1967, và được chánh quyền Johnson áp dụng một cách phôi thai từ giữa năm 1968 năm cuối cùng Lyndon Johnson làm tổng thống. Trong bản tường trình cuối cùng trước khi từ chức, tổng trưởng quốc phòng McNamara đặt lại chủ đích của Hoa Kỳ và có ý hoài nghi về một chiến thắng quân sự chiến trường Việt Nam. McNamara kết luận trong bản báo cáo cho tổng thống Johnson bằng với đề nghị: (a) tìm một giải pháp thương lượng chính trị; và (b) lần lần giao lại trách nhiệm tác chiến và bình định cho quân đội VNCH. [10] Tháng 3-1968, trong cao điểm của cuộc tổng công kích Mậu Thân 1968, mặc dù thẩm quyền dân sự ở Hoa Thịnh Đốn [11] từ chối không tăng viện thêm 200 ngàn quân cho đại tướng Westmoreland, nhưng họ đồng ý tăng thêm quân viện và ngân sách với mục đích giúp VNCH thành lập ra nhiều đơn vị mới để hoàn toàn gánh vác trách nhiệm chiến đấu thay quân đội Hoa Kỳ trong những ngày sắp tới. [12] Theo đại sứ Bùi Diễm, giới chức Hoa Kỳ đã có khái niệm về Việt Nam hóa từ năm 1965, nhưng đã không áp dụng cho đến năm 1968, vì nghĩ họ có thể đánh bại cộng sản trong một thời gian ngắn mà không cần sự trợ lực của quân đội VNCH. Nhận định của cựu đại sứ Bùi Diễm không xa sự thật lắm, vì vào năm 1965, thái độ của Hoa Kỳ giống như thái độ của một anh chàng khổng lồ cao mười trượng, nai nịch giáp phục, quay qua nói với người bạn Đồng minh VNCH đại khái như, “Các anh đứng qua một bên chờ tôi, để tôi giải quyết chuyện này cho ... sẽ không tốn nhiều thì giờ đâu ...” [13] Thái độ tự tin đó cũng được thể hiện qua lời tuyên bố của đại tướng Westmoreland vào năm 1966, khi ông nói với tổng thống Johnson ông tin tưởng cuộc chiến sẽ kết thúc vào mùa Hè năm tới. [14] Nhưng sau ba năm đổ máu với gần ba mươi ngàn tử sĩ, các tư lệnh quân đội Mỹ mới thấy được sự giới hạn của vũ khí cơ giới trong chiến trường du kích ở rừng núi Đông Dương; và sự giới hạn về những gì họ được phép và không được phép thực hiện, ở một chiến trường mà luật tác chiến bị qui định bởi nhu cầu chính trị ở bên nhà. Cùng lúc, con số 14.491 quân nhân Hoa Kỳ tử thương trong năm 1968 (so với hơn 9.000 của năm 1967), đã làm giới dân sự ở Hoa Thịnh Đốn nghĩ lại chiến thuật quân sự của MACV ở Việt Nam. [15]
Trong khái niệm nguyên thủy của chương trình Việt Nam hóa chương trình lúc được phác họa và đề nghị dưới thời tổng thống Johnson bộ tư lệnh MACV của đại tướng Abrams và đại sứ Ellsworth Bunker có ba nhiệm vụ:
(1) cấp tốc gia tăng các chương trình huấn luyện và trang bị các đơn vị VNCH theo tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ. Sau khi các đơn vị VNCH đủ khả năng để thay thế đơn vị Hoa Kỳ ở một vùng trách nhiệm nào đó, đơn vị Hoa Kỳ sẽ rút đi;
(2) giảm tối đa thiệt hại nhân mạng của quân đội Mỹ, bằng cách chuyển từ chiến lược truy lùng và triệt tiêu của Westmoreland qua chiến lược bảo vệ cứ điểm và bình định cứ điểm đang chiếm đóng;
(3) gia tăng các chương trình bình, Xây dựng và phát triển Nông thông để loại trừ hạ tầng cơ sở của cộng sản.
Nói một cách khác, quân đội và các cơ cấu dân sự của Hoa Kỳ sẽ rút ra khỏi chiến trường Việt Nam theo nhịp độ và khả năng thay thế của VNCH. Thêm vào đó, kế hoạch Việt Nam hóa nguyên thủy khác kế hoạch được áp dụng khi Nixon lên cầm quyền là, quân đội Hoa Kỳ sẽ không rút đi hết mà họ sẽ giữ lại một số đơn vị căn bản ở Việt Nam để nâng cao tinh thần quân đội VNCH và canh chừng những cuộc tấn công qui mô bất ngờ của CSBV. Một mô hình tương tự như mô hình quân đội Đồng minh đóng lại ở Nam Hàn sau hội nghị đình chiến ở Bàn Môn Điếm trong chiến tranh Đại Hàn. [16]
Nhưng khi Nixon lên thay Johnson; và Melvin Laird thay Clark Clifford (Clifford thay McNamara trước đó không đầy một năm) ở Bộ quốc phòng, chương trình Việt Nam hóa được coi là một kế hoạch tiêu biểu của của chính phủ mới đối với Việt Nam N nhưng với một nội dung hoàn toàn đổi khác, theo ý muốn của tân tổng trưởng Laird. Vừa lên nhận chức, tổng trưởng quốc phòng Laird bay sang Việt Nam vào tháng 3-1969, để quan sát tình hình. Khi về lại Hoa Thịnh Đốn, Laird gởi bộ tư lệnh MACV ở Sài Gòn một huấn lệnh. Chỉ thị trong huấn lệnh của Laird làm đại tướng Abrams ngỡ ngàng: Quân đội Hoa Kỳ sẽ rút đi theo lịch trình và số lượng định sẳn, bất chấp tiến trình hay khả năng thay thế của quân đội VNCH. [17] Cũng trong huấn lệnh đó, Laird muốn MACV phải bắt đầu giảm thiểu các cuộc hành quân có tánh cách tấn công; nhiệm vụ của quân đội Hoa Kỳ từ đây về sau là giúp đỡ và huấn luyện quân đội VNCH mà thôi. Nội dung huấn lệnh của tổng trưởng Laird có một hàm ý rất quan trọng: bộ tư lệnh MACV phải tìm mọi cách để giới hạn số thương vong của quân nhân Hoa Kỳ dù phải giới hạn những cuộc hành quân truy lùng và triệt tiêu CSBV. Với huấn lệnh mới, bộ tư lệnh MACV thêm một lần nữa phải thay đổi chiến lược và chiến thuật ngoài mặt trận theo nhu cầu chính trị ở bên nhà. Đáng tiếc hơn, quân đội VNCH bây giờ trở thành nạn nhân bất đắc dĩ cho một Chủ thuyết mới Chủ thuyết Nixon (the Nixon Doctrine).
Trong ba tháng đầu của năm 1969, phía VNCH có ý chờ một đường lối ngoại giao và quân sự rõ ràng từ tổng thống Nixon, để từ đó VNCH mới thay đổi đường lối chiến lược chiến thuật song song với người bạn Đồng minh trong cuộc chiến. Từ cuối năm 1968, phía VNCH đã thỏa mãn ý muốn của Hoa Kỳ bằng cách gởi một phái đoàn đến tham dự hòa đàm ở Ba Lê. Cuộc họp đầu tiên giữa VNCH-Hoa Kỳ và CSBV-MTGPMN (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) vào ngày 25 tháng 1-1969 cho thấy VNCH chấp nhận chuyện đối thoại với MTGPMN như là một chuyện tất yếu. Nhưng từ tháng 3 trở đi, những tuyên bố từ các nhân viên cao cấp Hoa Kỳ càng lúc càng trở nên “hiếu hòa” trước những cuộc pháo kích và tấn công của CSBV vào nhiều thị tứ ở miền Nam trong sáu tháng đầu của năm 1969. Tháng 4, ngoại trưởng Rogers tuyên bố, “Hoa Kỳ không muốn đi tìm một chiến thắng quân sự ở Việt Nam...“ Cùng lúc, tổng trưởng quốc phòng Laird tuyên bố, Hoa Kỳ sẽ rút quân nếu một trong ba điều kiện xảy ra... Một trong ba điều kiện đó là ...khi quân lực VNCH đủ sức gánh vác cuộc chiến một mình. Tuy tuyên bố như vậy, nhưng bên trong Laird đã thuyết phục Kissinger và Nixon phải rút quân ngay trong năm và từ từ chuyển giao tất cả trách nhiệm tác chiến lại cho quân đội VNCH. Với sự đồng ý của Nixon, đầu tháng 4-1969, Kissinger gởi Laird một huấn lệnh, yêu cầu Bộ quốc phòng sơ thảo một lịch trình rút tất cả quân tác chiến, nhân viên bán quân sự, nhân viên hành chánh, cố vấn, quân nhu dụng và võ khí. Theo lịch trình soạn thảo của Bộ quốc phòng, cuộc rút quân sẽ được chia làm 14 giai đoạn, kéo dài 44 tháng. Bắt đầu từ tháng 7-1969 cho đến tháng 11-1972, Hoa Kỳ sẽ rút tất cả số quân 549.500 người đang có mặt tại Việt Nam. [18]
Hơn nửa năm trước, từ tháng Giêng, nhiều hãng thông tấn loan tin Hoa Kỳ sẽ rút đi ít nhất hai mươi ngàn quân trong vài tháng tới. Mặc dầu giới chức Hoa Kỳ M và ngay cả tổng thống Nixon phủ nhận chính phủ Mỹ đang có kế hoạch rút quân hay có kế hoạch Việt Nam hóa cuộc chiến, nhưng những lời phủ nhận xuất hiện tới lui nhiều đến độ dư luận có ấn tượng giới chức Hoa Kỳ đang thả nổi trái bóng rút quân và chương trình Việt Nam hóa để thăm dò dư luận của VNCH. Và thật sự, với tất cả sự ái ngại, Nixon đang cố gắng che đậy ý định lừa dối của ông bằng nhiều tuyên bố ngược xuôi. Trong bài diễn văn đầu tiên về Việt Nam, đọc trên hệ thống truyền thanh toàn quốc ngày 14 tháng 5 1969, Nixon tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện rút quân đơn phương, hay không có ý kiến chung với VNCH. Nhưng sau này, trong một hồi ký viết về đường lối của ông đối với chiến tranh Việt Nam, Nixon nói, ngay sau khi lên nhậm chức thì “chuyện rút quân hay không, không còn là một câu hỏi nữa. Câu hỏi bây giờ là quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam như thế nào và họ phải để lại gì khi sau khi rút đi.” [19]
Nhưng Hoa Kỳ không thể che giấu kế hoạch của họ dài lâu được: Nixon thấy sự thật - dù phũ phàng như thế nào - cần phải được thông báo cho phía VNCH. Cuối tháng 5, tòa Bạch Ốc loan báo hai tổng thống Thiệu và Nixon sẽ gặp nhau ở đảo Midway vào thượng tuần tháng 6, để trao đổi ý kiến và kế hoạch về Việt Nam. Hai bên gặp nhau ngày 8 tháng 6-1969. Trong cuộc hội thảo, theo những gì chúng ta biết được sau này, phía VNCH chỉ trao cho Hoa Kỳ một bản kế hoạch, trong đó nói về quân số và khả năng của quân đội VNCH đương thời; và những nhu cầu về tân trang và yểm trợ cho một khả năng quân sự tương lai để thay vào chỗ trống của quân đội Mỹ. Chỉ như vậy, và VNCH không biết gì chi tiết về kế hoạch rút quân của Hoa Kỳ. [20] Sau cuộc hội thảo, sau khi trở lại Hoa Thịnh Đốn, Nixon tuyên bố: với sự đồng ý của tổng thống Thiệu và đề nghị của tướng Abrams, quân đội Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam trong hai tháng tới. Nhưng khi Nixon nói “có sự đồng ý của tổng thống Thiệu và tướng Abrams,” thì Nixon đã phóng đại sự thật: cả Abrams và ông Thiệu đều phản đối đề nghị của Nixon về việc rút quân, mặc dù những phản đối đó chưa bao giờ được để lộ ra ngoài công cộng. Sau này trong hồi ký, chính Nixon cũng công nhận ông đã “phóng đại” khi tuyên bố có sự đồng ý của tổng thống Thiệu và đại tướng Abrams. [21]
Sau khi đã “thổ lộ” ý định thật về kế hoạch của Hoa Kỳ đối Việt Nam trong vài năm tới, hơn một tháng sau, trên đường đi thăm viếng các quốc gia ở Á châu, Nixon tuyên bố cho tất cả các Đồng minh một chiến lược mới của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương: Hoa Kỳ vẫn sẳn sàng yểm trợ các Đồng minh về mọi mặt để chống lại sự xâm lấn của cộng sản - trừ việc yểm trợ về nhân lực. Hoa Kỳ sẽ không lập lại kinh nghiệm ở Đại Hàn và Việt Nam, Nixon tuyên bố. Nghĩa là, trong tương lai Hoa Kỳ chỉ yểm trợ về vật chất, nhưng sẽ không trực tiếp đem quân vào tác chiến như đã làm ở Đại Hàn và Việt Nam. Nói một cách khác, Hoa Kỳ sẳn sàng đổ tiền và yểm trợ vật chất, nhưng người Đồng minh bản xứ là người phải đổ máu trong cuộc chiến bảo vệ tự do cho quê hương của họ. Khi tuyên bố Chủ thuyết này, không biết Nixon có nhắm vào Việt Nam như một thí dụ hay không. Nhưng cái gọi là “Chủ thuyết Nixon” đối với chương trình Việt Nam hóa ở chiến trường Việt Nam. [22] Khi Nixon ghé thăm Sài Gòn ngày 30 tháng Giêng, 1969, ông nói thêm ý định của Hoa Kỳ về chuyện rút quân. Lần này Nixon nói rõ hơn: Hoa Kỳ sẽ rút quân theo lịch trình, và nếu cần, sẽ rút quân dù có sự đồng ý của VNCH hay không. [23]
Chương trình Việt Nam hóa, dù được nhìn qua góc độ lạc quan nhất, chỉ là một kế họach tạp nhạp, thiếu hợp nhất ở thượng và hạ tầng cơ sở, và thiếu thực tế khi được áp dụng. Nếu nhìn ở một góc độ bi quan nhất - theo lời phát biểu của một ứng cử viên tổng thống Mỹ - thì chương trình Việt Nam hóa chỉ là một kế hoạch thay đổi màu da của tử sĩ. [24]
Ngay cả danh xưng của kế hoạch cũng làm cho nhiều quân nhân VNCH thấy ái náy: nếu đến bây giờ mới Việt Nam hoá cuộc chiến, thì từ 1955 đến ngày nay cuộc chiến này do ai gánh vác và đã chết vì nó? Với hơn 100 ngàn chiến sĩ VNCH đã hy sinh, những hy sinh đó không phải là hy sinh cho mảnh đất VNCH và lý tưởng tự do của họ hay sao? [25] Đồng ý là Hoa Kỳ đã cùng chung đứng mũi chịu sào, nhưng nếu người Mỹ gọi đó là Việt Nam hóa thì quá vô tình. Khi người Mỹ gọi như vậy thì chẳng khác nào ý nói quân dân VNCH đã đứng ngoài cuộc chiến từ bao lâu nay, và đồng thời tự thú nhận chiến thuật chiến lược của họ đã sai lầm trong cuộc chiến. [26] Tuy được gọi là Việt Nam hóa, nhưng phía VNCH không biết gì, hay có ý kiến gì trong thời gian kế hoạch được tính toán và soạn thảo. Kế hoạch được Hoa Kỳ trao đổi với VNCH bằng miệng một cách tổng quát. Cả hai quốc gia không có một thỏa hiệp nào nói về về yếu tố và điều kiện rút quân viết ra trên giấy tờ thành văn kiện. Bộ tư lệnh MACV, như đã nói ở trên, không đồng ý về thời gian và số lượng quân rút đi một cách quá cấp tốc như tổng trưởng quốc phòng Laird muốn. Nhưng chính đại tướng Abrams cũng không có một kế hoạch nào cụ thể, vì kinh nghiệm cho ông biết số lượng và thời gian quân đội Mỹ rút đi không phụ thuộc vào tình hình ở chiến trường Việt Nam, mà tùy thuộc vào tình hình chính trị ở nội địa Hoa Kỳ. [27] Ngay cả khi đồng ý trên căn bản là phải rút quân, Abrams và Bộ quốc phòng cũng không đồng ý về đơn vị nào rút trước, rút sau. Abrams, với nhiều quan sát đã có trong quân đội, muốn các đơn vị rút đi được chia đều ra, để các đơn vị còn lại vẫn còn một số hạ sĩ quan và sĩ quan đã có kinh nghiệm về chiến trường ở Việt Nam để chỉ dẫn những quân nhân chưa kinh nghiệm. Nhưng Bộ quốc phòng thì muốn cho các đơn vị rút đi theo tiêu chuẫn thâm niên, bất chấp các đơn vị ở lại còn đủ sĩ quan kinh nghiệm hay không. Abrams rất bực tức về chuyện đó, nhưng lệnh là lệnh. Chẳng những như vậy, ngay lần rút quân đầu tiên, tổng trưởng Laird muốn rút đi hai đơn vị thiện chiến như một chứng minh cho dư luận Hoa Kỳ thấy chiến trường Việt Nam đã lắng dịu đủ để cho các đơn vị đó rút đi. [28] Ban đầu, khi nói rút quân đi, ban tham mưu MACV và Abrams nghĩ số quân rút đi sẽ là số quân tác chiến và yểm trợ đang đóng ở Việt Nam. Nhưng nửa chừng, Bộ quốc phòng cho biết các đơn vị không và hải lực yểm trở bên ngoài lãnh thổ và và ngoài khơi duyên hải cũng nằm trong danh sách những đơn vị rút đi (như những phi đoàn Không quân đóng ở Thái Lan với nhiệm vụ không kích hệ thống đường xâm nhập Hồ Chí Minh; hay các chiến hạm cung cấp hải lực để tuần phòng đường xâm nhập miền duyên hải). Những lực lượng không lực yểm trợ này rất quan trọng để cầm chân CSBV, và quân lực VNCH không thể nào thay vào khả năng do Hoa Kỳ đảm nhiệm.
Ban tham mưu MACV tính toán và biết trách nhiệm giao lại cho quân lực VNCH quá nặng, nặng hơn sức chịu đựng của người lính Việt Nam vào lúc đương thời. Bộ tư lệnh MACV biết, với tất cả dụng cụ cơ giới giao lại, với tất cả kỹ thuật chiến tranh quân đội Mỹ đang dùng, các chuyên viên kỹ thuật của quân đội VNCH phải cần được huấn luyện một thời gian để có thể am tường, rồi từ đó dạy lại các đơn vị hữu trách cách sử dụng đúng cách. MACV cũng biết, với hơn 200 ngàn quân gia tăng trong ba năm, những tân binh của các đơn vị tân lập không thể nào có được kinh nghiệm chiến đấu qua đêm hay một sớm một chiều. Trong khi tất cả những khó khăn nói trên cần một thời gian để giải quyết, thì một yếu tố mà chính quyền Nixon không có nhiều trong lúc đó lại là thời gian. Trong những năm 1969-1972, tất cả trách nhiệm đổ lên vai người lính VNCH cùng một lúc nhiều đến độ đô đốc John McCain, tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, lên tiếng lưu ý bộ tư lệnh MACV, nếu tiến nhanh quá chương trình Việt Nam hóa sẽ tự đánh bại lại mục đích của nó. [29]
Nhưng lệnh từ Hoa Thịnh Đốn là lịch trình rút quân sẽ được áp dụng: chuẩn bị hay chưa chuẩn bị, quân đội VNCH phải thay vào chổ trống khi quân đội Hoa Kỳ rút đi.
Ngày 22 tháng 11-1969, ý định và quyết định của tổng trưởng quốc phòng Laird (chắc chắn phải có sự đồng ý của Nixon) được thông báo rõ cho bộ tư lệnh MACV ở Sài Gòn. Trong một buổi họp có tất cả các sĩ quan và viên chức dân sự quan trọng nhất của thẩm quyền Hoa Kỳ tại Việt Nam, huấn lệnh của Laird được đọc cho đại tướng Abrams và tất cả những người có mặt nghe. Kế hoạch rút quân và Việt Nam hóa thông báo cho MACV có những điểm quan trọng sau. (1) Chương trình Việt Nam hóa chấm dứt vai trò tác chiến của quân đội Mỹ tại Việt Nam. (2) Trong kế hoạch Việt Nam hóa của chính phủ trước (Johnson), Bộ quốc phòng ước lượng quân đội Bắc Việt sẽ rút khỏi lãnh thổ miền Nam, và vai trò của quân đội VNCH chỉ giới hạn vào mục tiêu đương cự với các lực lượng Việt Cộng còn lại ở miền Nam. Trong kế hoạch mới của chính phủ Nixon và tổng trưởng Laird, vai trò của quân đội VNCH không chỉ giới hạn vào nhiệm vụ chống lại quân Việt Cộng, mà họ còn có nhiệm vụ đương đầu với các đơn vị chánh qui từ miền Bắc đưa vào dù quân đội Bắc Việt có rút khỏi miền Nam hay không.
Buổi họp ngày thứ Bảy có hai ông đại sứ; ba đại tướng; sáu trung tướng; năm thiếu tướng; chín chuẩn tướng; năm đại tá; và bốn, năm, nhân viên dân sự cao cấp. Những người đang có mặt là đại diện cho tất cả sức mạnh của Hoa Kỳ ở Việt Nam - nếu không nói là cho cả sứ mạnh của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Thái độ của tất cả sau khi nghe huấn lịnh của Laird là ngỡ ngàng, bực tức ... thấy chút xấu hổ đối người bạn Đồng minh Việt Nam. Theo những gì được ghi lại, khi đại tướng Abrams nghe người thuyết trình đọc đến đoạn ...quân đội VNCH được giao phó luôn vai trò bảo vệ nội an (đương đầu với Việt Cộng) và chống lại quân đội xâm lăng miền Bắc... ông ta cắt ngang lời người đọc, nói rằng ông chưa hề được thông báo trước về chuyện này, và trong kế hoạch rút quân/Việt Nam hóa cũng không dự liệu chuyện này. Nhưng rất tiếc, rất tiếc, bây giờ thì Abrams được thông báo rồi, và ông cũng không làm gì ngược lại được. Buổi họp kéo dài trong một bầu không khí ngột ngạt, chua chát. Mỗi tư lệnh khi phát biểu đều không dấu được sự thất vọng giống như họ bị thua cuộc - bất khả kháng trước huấn lệnh của thẩm quyền từ bên nhà. Trong buổi họp, Abrams than phiền là từ đầu năm, vì ngân quỹ thiếu hụt, Bộ quốc phòng đã ra lệnh cho MACV giảm đi 50% phi vụ B-52; 20% phi vụ oanh tạc chiến thuật; và 22% các yểm trợ hải pháo. ... Và bây giờ, Bộ quốc phòng còn hối thúc rút nhanh, rút nhiều quân hơn.
Khi buổi họp kết thúc, đại tướng Abrams phát biểu một câu mà hàm ý nói lên tất cả ý nghĩa của chương trình Việt Nam hóa: “Tôi vẫn thường nói, ngày vui nhất của tôi là ngày đại tướng Cao Văn Viên gọi điện thoại và xài xể tôi. Ngày đó là ngày tôi vui nhất. Nhưng tướng Viên sẽ không làm chuyện đó; ông ta quá lịch sự. Nhưng tôi muốn ông ta làm như vậy.” [30] Tướng Abrams cũng không quên nhắc những người hiện diện trong trong buổi họp là những gì được bàn luận ngày hôm đó là những bí mật tuyệt đối, không được tiết lộ ra ngoài, hay cho những cộng sự viên dưới quyền biết. Abrams không muốn chuyện này đến tai phía VNCH trong lúc MACV chưa chuẩn bị để giải thích một sự thay đổi đột ngột như vậy. Cũng có lẽ Abrams muốn đích thân là người báo tin không vui cho tổng thống Thiệu và đại tướng Viên.


*

Cuối năm 1968 quân đội VNCH có hơn 717 ngàn quân. Trong đó, 365 ngàn thuộc về các đơn vị chủ lực như sư đoàn Nhảy dù; sư đoàn Thủy quân lục chiến (TQLC); 10 sư đoàn Bộ binh 1, 2, 5, 7, 9, 18, 21, 22, 23, và 25; 11 Tiểu đoàn (thiết đoàn) Thiết kỵ; 30 Tiểu đoàn Pháo binh; 20 Tiểu đoàn Biệt động quân; một Tiểu đoàn Lực lượng Đặc biệt (Tiểu đoàn 81 Biệt kích Nhảy dù, và vào năm 1972, trở thành Liên đoàn 81 Biệt kích Nhảy dù). Hải quân và Không quân có khoảng 16, 17 ngàn người ở mỗi quân chủng. Số còn lại là 185 ngàn Địa phương quân và 167 ngàn Nghĩa quân. [31]
Trong năm năm bành trướng, từ đầu 1969 đến cuối năm 1973, quân lực VNCH tăng thêm gần 400 ngàn quân, nâng tổng số lên 1.100.000. Trong số này hơn phân nửa (530 ngàn) thuộc về các đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân. [32]
Lục quân (kể luôn sư đoàn Nhảy dù và TQLC) từ 358 ngàn tăng lên thành 450 ngàn quân. Cuối năm 1971, Bộ binh có thêm một sư đoàn mới (sư đoàn 3), tổng cộng thành 11 sư đoàn. Trong giai đoạn này, mỗi trung đoàn có cấp số bốn Tiểu đoàn. Hỏa lực một trung đoàn Bộ binh tân trang khá hùng hậu, với một Tiểu đoàn Pháo binh và một thiết đoàn kỵ binh làm đơn vị cơ hữu cho trung đoàn. Ngoài ra, đóng kèm theo bản doanh của sư đoàn mẹ là một Tiểu đoàn Pháo binh 155 ly. Tương tự, ở mỗi quân khu, ngoài các sư đoàn Bộ binh cơ hữu dưới quyền, bộ tư lệnh quân khu còn có một Tiểu đoàn pháo 175 ly nòng dài; một Tiểu đoàn chiến xa M-48; và một lữ đoàn Thiết kỵ, như là những đơn vị nòng cốt cho quân khu. TQLC, vào mùa xuân 1969, được nâng cấp lên thành sư đoàn, với cơ cấu và cấp số như sư đoàn Nhảy dù. Đây là hai sư đoàn tổng trừ bị duy nhất của quân đội VNCH. Hai binh chủng Địa phương quân và Nghĩa quân được hiện đại hóa và trang bị vũ khí tối tân hơn, để họ có thể tiếp tay và thay thế các đơn vị chủ lực trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh ở vùng trách nhiệm địa phương. Song song với Địa phương quân và Nghĩa quân, lực lượng Cảnh sát Quốc gia cũng được gia tăng rất mạnh. Từ nhân số 16.900 vào năm 1962, đến đầu năm 1973 Cảnh sát Quốc gia có một lực lượng khoảng 116.000 nhân viên. [33]
Hai quân chủng tăng trưởng mạnh nhất và nhiều nhất, nếu tính theo tỉ lệ, là Hải quân và Không quân. Cuối năm 1972, Hải quân có quân số khoảng 43 ngàn và được trang bị với 1.680 chiến hạm, giang đĩnh. Không quân có quân số 64 ngàn, với hơn 1.000 phi cơ đủ loại. [34]
Để huấn luyện và đào tạo sự bành trướng của số quân nói trên, chỉ trong năm 1970, ba mươi ba trung tâm huấn luyện và trường chuyên nghiệp của các quân binh chủng trên bốn vùng chiến thuật đã đào tạo hơn 500 ngàn quân cán chính. [35] Nhưng người lính chỉ là một con số chứ chưa là chiến sĩ nếu không được huấn luyện thuần thục, và tất cả vũ khí, quân cụ tối tân sẽ trở thành vô dụng nếu quân nhân không biết sử dụng một cách hiệu quả. Nhận biết điều đó, bộ tổng tham mưu và MACV cố gắng tuyển chọn các huấn luyện viên Việt và Mỹ có kinh nghiệm tác chiến về dạy tại các trung tâm huấn luyện, để học viên, tân binh học hỏi được hiệu quả hơn từ những kinh nghiệm ở ngoài chiến trường của huấn luyện viên. Trong năm 1969-1970, 3.700 huấn luyện viên Hoa Kỳ có mặt tại các trung tâm huấn luyện, và ngoài chiến trường, 14.332 cố vấn Mỹ có mặt từ Quân đoàn xuống cấp Tiểu đoàn. [36]
Song song với kế hoạch giao lại cuộc chiến cho quân đội VNCH, chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh MACV và đại sứ Bunker tìm mọi cách giúp đỡ chính phủ VNCH gia tăng các kế hoạch bình định và phát triển có tính cách dân sự. Từ sau cuộc tổng tấn công năm Mậu Thân 1968, các cố gắng đem lại an ninh và cơ cấu hành chánh cho làng xã để phát triển đời sống cho người dân ở nông thôn, được chính phủ coi là những mục tiêu ưu tiên.
Các kế hoạch chương trình bình định phát triển nông thôn được những cơ quan như CORDS của Hoa Kỳ yểm trợ. CORDS được thành lập giữa năm 1968 như một cơ cấu hỗn hợp giữa bộ tư lệnh quân sự MACV và tòa đại sứ Hoa Kỳ để cung cấp chuyên viên, ngân quỹ và cố vấn cho các chương trình có tính cách dân sự hay bán quân sự. [37] Về mặt dân sự, CORDS giúp đỡ các chương trình tái định cư cho hơn hai triệu người tị nạn từ các thành phố, làng xã bị hủy hoại sau trận Mậu Thân, hay từ những vùng hoàn toàn bị cộng sản chiếm đóng. CORDS cung cấp ngân quỹ cho các chương trình phát triển y tế, giáo dục, huấn luyện cho các cán bộ Xây dựng Nông thôn hay các cán bộ hành chánh cấp địa phương. Về mặt bán quân sự, CORDS thành lập các cơ quan khá bí mật để giúp và huấn luyện Cảnh sát; Cảnh sát Dã chiến; các toán Thám sát Tỉnh; trung tâm Thẩm vấn và Điều tra Tỉnh ... nhằm vào các mục đích triệt tiêu hạ tầng cơ sở, cắt đứt đường giao liên của Việt Cộng đang hoạt động tại địa phương. Cố vấn từ CORDS có mặt ở các chương trình như Chiêu hồi; trung tâm huấn luyện cán bộ Xây dựng Nông thôn; Nhân dân Tự vệ; Chiến dịch Phượng hoàng; hay các chương trình có tính cách tâm lý chiến như hai chương trình phát thanh của đài Gươm thiêng Ái quốc và Mẹ Việt Nam. [38]
Những kế hoạch của CORDS cũng như các chương trình bình định và phát triển Nông thôn của chính phủ VNCH đã gây nhiều khó khăn, thiệt hại cho cộng sản trong những năm 1969-1973. Với nhiều cơ sở, đường giây giao liên bị cắt đứt và phá hủy; với nhiều cán bộ địa phương bị khám phá và truy lùng, Trung ương Cục miền Nam - nếu còn được gọi là Trung ương Cục miền Nam sau những thiệt hại nặng vào hai cuộc tấn công của năm 1968 và 1969 - ra lệnh cho các đơn vị cộng sản “ở đâu nằm đó,” và tránh giao tranh với quân đội VNCH để bảo toàn lực lượng. Chỉ thị trên của cộng sản được xác định thêm lần nữa vào tháng 7-1969, khi giới lãnh đạo CSBV ban xuống cấp dưới một huấn lệnh có tên là có tên là Nghị quyết 9. Nghị quyết 9, dài 42 trang, chỉ thị các cấp phải thay đổi chiến lược chiến thuật để phù hợp với tình hình mới của mặt trận mới. Sau hai lần tấn công qui mô trong hai năm 1968 và 1969, giới lãnh đạo quân sự và chính trị CSBV thú nhận họ không thể nào chiến thắng về quân sự nếu quân đội Mỹ còn có mặt ở Việt Nam. Quyết nghị 9 chỉ thị cấp dưới thi hành kế hoạch mới là: Cố gắng tạo điều kiện để quân đội Mỹ rút ra khỏi chiến trường Việt Nam càng sớm càng tốt; phá rối mọi kế hoạch Việt Nam hóa đang được thực hiện về mặt quân sự và dân sự; ngăn chận mọi nỗ lực trong các chương trình bình định và phát triển nông thôn; và, xây dựng lại cơ cấu hạ tầng cơ sở để hoạt động và đấu tranh nếu có một thương lượng ngưng bắn xảy ra trong tương lai. Sau khi Nghị quyết 9 được thông báo, CSBV bắt đầu tránh đụng độ ở chiến trường lớn; mọi nỗ lực chỉ nhắm vào thôn quê, làng xã; các đơn vị lớn phân tán ra từng đơn vị và lực lượng nhỏ, để dể dàng di chuyển, dể dàng đánh du kích theo lý thuyết trường kỳ kháng chiến. Một số các đơn vị chủ lực cũng được lệnh di chuyển qua Lào hay đi trở ngược về miền Bắc để tái trang bị và bổ sung. CSBV phải quay ngược về chiến tranh du kích vì hạ tầng cơ sở của họ bị phá hủy hoàn toàn. Theo lời thú nhận của một cấp chi huy cao cấp cộng sản ở vùng Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn, sau trận Mậu Thân, “Ba đồng chí Bí thư, một đồng chí Tư lệnh phân khu (đều là ủy viên thường vụ Khu ủy Sài Gòn-Gia Định trước đây) và hơn phân nửa ủy viên Phân khu ủy đã hy sinh sau Mậu Thân. Một đại đội bảo vệ của Bộ tư lệnh Phân khu 1 trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ và tiếp tế lương thực đã hy sinh gần hết. Một tư lệnh quân sự của B2 cũng cho biết một tư lệnh sư đoàn và một phó tư lệnh quân khu đã hy sinh trong hai cuộc tấn công trong trận Mậu Thân.” [39]
Nếu VNCH có một cơ hội để chiến thắng trong cuộc chiến chống cộng thì những năm 1969-1971 là một cơ hội không bao giờ trở lại. Đó là một giai đoạn mà những người quan sát về chính trị quân sự sau này gọi là một chiến thắng bỏ lỡ; nột chiến thắng đã nằm trong tay nhưng để vuột đi. Qua những thú nhận từ các cán bộ cao cấp của cộng sản đã trình bày ở trên, chúng ta thấy các lực lượng địa phương và chủ lực của cộng sản bị thiệt hại nặng qua những đợt tấn công trong hai năm 68 và 69 vào thị tứ và căn cứ của VNCH. CSBV không còn phương tiện hay nhân lực để chiến đấu; họ đã đánh cạn láng trong một canh bạc rất sai lầm. Phía VNCH, sau khi đánh tan những cuộc tấn công và ổn định lại tình hình an ninh, hai kế hoạch tổng động viên và bình định Xây dựng nông thôn do chính phủ đưa ra tiếp tục gây thêm nhiều khó khăn cho cộng sản. Những con số cán binh ra đầu thú hay hồi chánh trong ba năm 69-71 cho thấy sự tuyệt vọng của các cán binh cộng sản; những con số về sự an ninh và kiểm soát dân cư ở những xã ấp nông thôn cho thấy người dân tin và ngả về với chính phủ hơn. Nếu con số 16 ngàn cán binh hồi chánh trong năm 1968 chưa cho thấy sự chán nản của phía bên kia, thì con số 45 ngàn cán binh về đầu thú trong năm 1969 sẽ cho thấy. Trước năm 1968 chính phủ chỉ hy vọng kiểm soát và đem lại an ninh cho chừng 72-75% làng xã và dân cư, đến đầu năm 1971 chính phủ VNCH đã kiểm soát và đem lại an ninh cho 85% dân cư trên toàn lãnh thổ. [40]
Với sự an ninh ở nông thôn được tương đối duy trì và bảo vệ, nền kinh tế nông nghiệp phát triển thấy rõ. Tổng số lúa gạo thu hoạch trong năm 1969 vượt hơn 5 triệu tấn, và lên đến 5 triệu 700 ngàn tấn trong mùa lúa năm 70-71. Những con số này cho thấy kế hoạch bình định và phát triển nông thôn của chính phủ VNCH đã thành công rực rỡ; và cũng cho thấy các cơ sở địa phương của cộng sản bị bứng đi theo đà phát triển của kế hoạch an ninh địa phương của chính phủ VNCH. Trong những năm 1970-71, tình hình an ninh ở các vùng quê được bảo đảm đến mức một số nhân vật cao cấp Việt-Mỹ lái xe Jeep không hộ tống, đi thăm viếng ngoại thành Quảng Trị-Huế ban đêm, để thấy sự thay đổi về an ninh ở một nơi được gọi là tuyến đầu của chiến tuyến. [41]


*

Trong hai năm 1970 và 1971 T khoảng thời gian mà báo chí và bộ tư lệnh MACV gọi là Việt Nam hóa quân đội VNCH đã chứng tỏ khả năng tác chiến của họ, nếu được yểm trợ và trang bị đúng nhu cầu, qua hai cuộc hành quân lớn tấn công vào sào huyệt của CSBV ở Cam Bốt và Lào.
Từ năm 1964, nếu không nói trước đó, đất Cam Bốt là cửa ngõ nhận hàng quân nhu dụng của Trung Cộng tiếp tế cho CSBV. Hàng được tàu Trung Cộng hay của các quốc gia trong khối cộng sản Đông Âu được chuyên chở bằng đường biển đến hải cảng Shihanoukville (bây giờ là Kompong Som), và từ đó bằng đường bộ chuyển về các trạm hậu cần của CSBV thiết lập dọc theo biên giới VNCH-Cam Bốt. Tài liệu tịch thu được của CSBV cũng như tin tức của nhiều cơ quan tình báo Hoa Kỳ cho thấy số lượng quân nhu dụng cung cấp cho CSBV qua hải cảng Shihanoukville nhiều hơn số lượng di chuyển bằng đường bộ qua hệ thống đường xâm nhập Hồ Chí Minh trong thời gian đó. Nhưng từ năm 1964 đến năm 1969, bộ tư lệnh MACV và thẩm quyền dân sự Mỹ không có quyết định nào rõ ràng để đối phó với các căn cứ hậu cần CSBV đang hoạt động ở nội địa Cam Bốt. Giới thẩm quyền phân vân giữa hai tin tức đến từ hai cơ quan tình báo khác nhau: Một mặt, tin tình báo từ CIA cho biết số lượng quân nhu dụng nhập cảng từ Shihanoukville rất khiêm nhường so với những gì CSBV có thể vận chuyển vào nam qua hệ thống đường xâm nhập Hồ Chí Minh; mặt kia, tin tức tình báo quân sự của MACV thì nói ngược lại: năm 1964 đến năm 1968, số lượng hàng đi qua cửa khẩu Shihanoukville bằng hoặc nhiều hơn số lượng hàng đi qua vĩ tuyến 17 đi vào nội địa Lào. Với hai tin tức trái ngược này, cộng với thái độ ngụy tín đi hàng hai của Hoàng thân Shihanouk, thẩm quyền Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn rất phân vân và ái ngại khi muốn giải quyết vấn đề quân CSBV trú đóng ở đất Cam Bốt.
Về phương diện chính trị và chủ quyền quốc gia, từ năm 1964 đến năm 1970 vương quốc Cam Bốt sống trong một thế giới nửa thật nửa ảo. Hoàng thân Shihanouk ngấm ngầm cho phép CSVN đóng trong đất Cam Bốt để thâu tiền và đồng thời cho phép các sĩ quan dưới quyền nhận hối lộ của các đơn vị CSBV đóng quân ở vùng trách nhiệm của họ. Tài liệu cho thấy năm 1964 Shihanouk đã cho một sĩ quan cao cấp của ông đích thân đi qua Bắc Kinh để thương lượng giá cả với Chu Ân Lai của Trung Cộng khi nhận hàng qua Shihanoukville và chuyển đến tay CSBV. Nhưng cùng lúc, Shihanouk nhắm mắt để cho Không quân Mỹ dội bom xuống những cứ địa của CSBV vì thật sự Shihanouk không muốn thấy CSBV có mặt trên đất Cam Bốt, khi ông thấy trò chơi hai hàng càng ngày càng nguy hiểm. Trong khi ở phiá CSBV, dù các căn cứ bị tàn phá và thiệt hại nặng về nhân mạng từ những trận bom B52, nhưng họ không dám lên tiếng vì từ trước đến giờ lúc nào họ cũng phủ nhận sự hiện diện trái phép trên đất Cam Bốt. Bên phía Hoa Kỳ thì lại càng vô lý hơn: họ dội bom các căn cứ CSBV ngày đêm bằng hàng ngàn tấn bom, nhưng cố dấu hành vi đó vì sợ công pháp quốc tế lên án sự di phạm nền “trung lập” của Cam Bốt. Cả ba chính phủ đều biết chuyện gì xảy ra trên đất Chùa tháp, nhưng cả ba đều cố gắng giữ kín chuyện họ làm để chữ “trung lập” của Cam Bốt được toàn vẹn. [42]
Tình hình chính trị của Cam Bốt thay đổi vào thượng tuần tháng 3-1975, khi thủ tướng Lon Nol đảo chánh Shihanouk và lên nắm quyền. Lập tức Lon Nol ra lệnh giới hạn hàng nhập cảng Shihanouk và đồng thời thông báo cho CSBV biết họ phải rời khỏi đất Cam Bốt trong vòng 72 tiếng đồng hồ. CSBV, thấy được chiều hướng bất lợi cho họ khi một người thân Tây phương như Lon Nol nắm quyền, liên kết với cộng sản Cam Bốt (Khmer Đỏ sau này) ra mặt tấn công các vị trí của quân đội hoàng gia Cam Bốt. Với số quân hỗn hợp chừng 40 đến 60 ngàn, CSBV và Khmer Đỏ đánh về hướng tây, về hướng thủ đô Nam Vang (Phnom Penh). [43]
Với tình hình chính trị Cam Bốt có chiều hướng thuận lợi cho Hoa Kỳ và VNCH, giữa tháng 3-1970, tướng Abrams của MACV đến “dọ hỏi” tướng Cao Văn Viên ở bộ tổng tham mưu về những cuộc hành quân đột kích vào mật khu của CSBV ở bên kia biên giới. Đây không phải là lần đầu tiên bộ tư lệnh MACV nghĩ đến chuyện đánh qua Cam Bốt. Từ đầu Xuân năm 1969, một số viên chức cao cấp Hoa Kỳ như đô đốc John McCain của bộ tư lệnh Thái Bình Dương, William Colby của chương trình CORDS (thật sự là đại diện CIA ở CORDS) và tướng Abrams đã có ý tấn công qua Cam Bốt. Cuối năm 1969, ban tham mưu liên quân từ Hoa Thịnh Đốn yêu cầu MACV sơ thảo một kế hoạch cho quân đội VNCH đánh qua Cam Bốt (chỉ có quân VNCH, không có quân đội hay cố vấn Mỹ đi kèm). Abrams lưỡng lự về kế hoạch này, vì theo ông, ngay cả quân đội Hoa Kỳ cũng có thể gặp khó khăn khi đánh qua Cam Bốt, nếu để quân đội VNCH đơn độc đánh qua một mình thì ông rất ái ngại. [44] Nhưng đến tháng 3-1971 thì MACV được phép đột kích giới hạn vào các căn cứ của CSBV ở bên kia biên giới. Tuy nhiên, không phải đợi đến lúc Hoa Kỳ đề nghị thì quân lực VNCH mới có kế hoạch truy kích các đơn vị cộng sản bên đất Cam Bốt. Sau khi thấy Shihanouk bị lật đổ và một chánh phủ Lon Nol thân thiện với VNCH lên thay, bộ tổng tham mưu đã ra lệnh cho các đơn vị ở vùng III và IV được quyền truy kích qua biên giới nếu tình trạng chiến sự cho phép. Ngày 14 tháng 4-1970, quân khu III mở cuộc hành quân Toàn Thắng 41 đánh qua Cam Bốt ở một vùng đối diện với địa phận ranh giới hai tỉnh Kiến Tường và Tây Ninh. Trong cuộc đánh qua biên giới này, quân VNCH chỉ có sự hỗ trợ của Pháo binh Hoa Kỳ. Trận tấn công này làm quân đội VNCH phấn khởi: chỉ bị tổn thất tám tay súng để đổi lại 378 xác địch, 37 tù binh, và nhiều cơ sở bị phá hủy. Với sự khả quan đó, hai tuần sau quân khu III tiếp tục một cuộc hành quân khác đánh qua biên giới. Tuy nhiên, vì tầm yểm trợ Pháo binh của Hoa Kỳ giới hạn từ bên này biên giới, quân đội VNCH chỉ tấn công không hơn mười cây số vào nội địa Cam Bốt trong hai lần đột kích đầu tiên này. [45]
Hạ tuần tháng 4, ban tham mưu liên quân thông báo cho tướng Abrams, là “thẩm quyền tối cao” đồng ý trên nguyên tắc về một cuộc hành quân hỗn hợp Việt-Mỹ qua Cam Bốt. Ngày 29 tháng 4-1970 thẩm quyền tối cao không ai khác hơn là tổng thống Nixon, cho phép cuộc hành quân tiến hành. Tuy nhiên, để giữ một lễ nghi ngoại giao đối với dư luận quốc tế, Nixon đề nghị để một lực lượng của VNCH tấn công qua biên giới trước, rồi lực lượng Mỹ theo chân liền sau đó.
Cuộc hành quân, với tên Toàn Thắng ở phía Việt Nam và Operation Rockcrusher bên phía Hoa Kỳ, khởi sự ngày đầu của tháng 5-1970, chia ra làm ba hướng: hai lực lượng không kỵ Hoa Kỳ và Nhảy dù VNCH đánh ở hướng bắc xuống nam (vùng Lưỡi Câu), tiến vào vào Krek và Snoul; ở phía nam (Mỏ Vẹt), quân VNCH đánh vào Svay Rieng tiến ngược về hướng bắc, đi vào Kampong Trach. [46] Phía Hoa Kỳ có chừng 19.300 quân, phía VNCH có 29.000 tay súng. Cuộc tấn công gặp vài kháng cự đáng kể vào hai ngày đầu, nhưng đến ngày thứ năm của cuộc hành quân thì mặt trận kể như tàn: CSBV bỏ căn cứ và rút nhanh về hướng tây, sâu vào nội địa Cam Bốt đối diện với sức tiến quân của các đơn vị VNCH và Hoa Kỳ. Hơn hai tuần trước đó, bộ tư lệnh B3 đã ra chỉ thị cho các đơn vị ở Cam Bốt phải, “tránh kháng cự, rút quân khỏi mặt trận, để bảo toàn lực lượng.” [47] Trong cuộc hành quân này, vì bị giới hạn bởi luật của Quốc hội Hoa Kỳ, các đơn vị Mỹ (kể luôn cố vấn đi kèm theo các đơn vị VNCH) chỉ được tiến vào đất Cam Bốt không quá ba mươi cây số, và không được ở lại đó sau ngày 30 tháng 6 (60 ngày từ ngày bắt đầu hành quân). [48]
Vũ khí tịch thu từ những căn cứ của CSBV cho thấy những tiên đoán, uớc lượng của MACV và tình báo VNCH là đúng ấ và những tin tức từ CIA là sai, sai một cách đáng xấu hổ. [49] Quân đội VNCH và Hoa Kỳ tịch thu được 23 ngàn súng cá nhân; 2 ngàn 500 súng cộng đồng; hơn 16 triệu viên đạn súng cá nhân; 143 ngàn đạn súng cối, hỏa tiến, đại pháo; 200 ngàn đạn phòng không và 7.000 tấn gạo. Đó là chưa kể những dụng cụ, thuốc y dược, hay những quân nhu dụng linh tinh khác bị phá hủy. Khoảng 75 phần trăm số quân nhu dụng tịch thu đến từ Trung Cộng. Số vũ khí tịch thu đủ để trang bị cho 74 Tiểu đoàn, và số gạo lấy được có thể nuôi tất cả các đơn vị cộng sản ở B2 trong nửa năm. Về tổn thất nhân sự: VNCH có 638 chết và hơn 3.000 bị thương; Hoa Kỳ có 338 chết và 1.525 bị thương. Phía CSBV chết hơn 11 ngàn lính và 2.500 bị bắt làm tù binh. [50] Sau khi tất cả quân đội Mỹ rút khỏi Cam Bốt theo thời hạn đã định, quân đội VNCH vẫn truy lùng, tảo thanh những đơn vị còn lại của địch sâu trong biên giới. Một trong những cuộc đụng độ quan trọng vào những ngày cuối của cuộc hành quân, là khi quân đội VNCH tiến về Kampong Cham và đồn điền cao su Chup. Tại đây quân đội VNCH đã đánh tan một đơn vị của sư đoàn 9 Việt Cộng đang gây áp lực vào thủ đô Nam Vang chỉ cách đó 75 cây số. Tất cả các đơn vị VNCH thuộc Vùng III rút khỏi Cam Bốt vào ngày 22 tháng 7-1970. Tuy nhiên từ đó cho đến cuối năm 1972, bộ tư lệnh Vùng III vẫn đột kích ra vào trên đất Cam Bốt để truy kích các đơn vị CSBV theo nhu cầu quân sự.
Cuộc hành quân tấn công qua Cam Bốt, không thể chối cãi, là một chiến thắng quân sự. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, phía sau chiến thắng đó nhiều phản ứng bất lợi xảy đến cho VNCH và Hoa Kỳ - những phản ứng bất lợi mà không ai có thể tiên đoán trước được. Một trong những bất lợi về mặt quân sự là, khi VNCH và Đồng minh đánh tan các căn cứ CSBV, quân đội cộng sản không còn cách nào khác hơn là phải đánh mở đường máu về hướng tây, đánh sâu vào nội địa Cam Bốt và gây áp lực về hướng thủ đô Nam Vang. Như vậy, nếu nhìn từ góc độ quân sự chiến lược, địa bàn cuộc chiến Việt Nam lan rộng hơn: Hoa Kỳ và VNCH phải canh chừng cả Lào và Cam Bốt. “Cuộc chiến tranh Đông Dương” có ý nghĩa là trong giai đoạn này: địa bàn của cuộc chiến đã lan tràn gần như toàn cõi Cam Bốt. Khi CSVN ra mặt tấn công quân đội Cam Bốt để tìm đường sống, Hoa Kỳ và VNCH không còn chọn lựa nào khác hơn là phải tiếp cứu người bạn Đồng minh bất ngờ. Phản ứng bất lợi về chính trị là sự chống đối mạnh mẻ của giới sinh viên và nhiều nhóm nghị viên của Quốc hội Mỹ. Sự tấn công qua Cam Bốt gây nhiều náo động trong nội địa Mỹ, nhất là sau vụ lính vệ binh quốc gia bắn tử thương bốn sinh viên ở đại học Kent, tiểu bang Ohio. Liền sau đó tất cả các đại học ở các tiểu bang lớn gần như đồng nổi loạn với sinh viên ở 441 đại học biểu tình và bãi khóa. Về phía Quốc hội Hoa Kỳ, để trừng phạt Nixon, một số ủy ban ở hạ và thượng viện bắt đầu nhóm họp để đưa ra một số dự luật nhằm vào việc giới hạn những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam, nếu không nói ở toàn Dông Dương. Ngay trong khi quân đội VNCH và Hoa Kỳ vẫn còn hiện diện trong đất Cam Bốt, ngày 24 tháng 6-1970, thượng viện Mỹ ra quyết nghị rút lại (hủy bỏ) Quyết Nghị Vịnh Bắc Bộ 1964 (Tonkin Gulf Resolution). Ngày 30 cùng tháng, thượng viện chấp thuận một dự luật cấm quân đội Mỹ hoạt động trên lãnh thổ Cam Bốt nếu không có sự ưng thuận của Quốc hội. Tuy nhiên dự luật bị hạ viện bác bỏ khi được đưa xuống cho hạ viện phê chuẩn. [51] Một bất lợi khác có ảnh hưởng nhiều đến chương trình Việt Nam hóa: Sự thành công mỹ mãn của quân đội VNCH ở Cam Bốt làm cho Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc quá lạc quan về sự thành công của chương trình Việt Nam hóa. Và từ đó họ suy luận: nếu quân đội VNCH đã thành công như vậy thì quân đội Hoa Kỳ có thể rút nhanh hơn và có thể nhường gánh nặng chiến trường lại cho quân đội VNCH nhiều hơn. Đây là một lạc quan rất lầm lẫn, rất ngộ nhận cho chương trình Việt Nam hóa. Sự lạc quan của Hoa Kỳ đi xa sự thật và quá vội. Cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt không phải không có khuyết điểm. Qua cuộc hành quân, các sĩ quan tham tham mưu cao cấp của quân lực VNCH nhận thấy quân đội còn một vài khuyết điểm: Nhiều đơn vị gặp trở ngại về tiếp vận và bảo trì khi di chuyển trên một mặt trận xa, nhất là các đơn vị cơ giới; khả năng ngôn ngữ (Anh ngữ) còn yếu khi phải liên lạc với các sĩ quan cố vấn trong vấn đề yểm trợ hỏa lực hay chấm tọa độ cho phi cơ bạn đánh bom; Bộ binh không tận dụng hết khả năng yểm trợ của Pháo binh cơ hữu; phối hợp tác chiến giữa các đôn vị Bộ binh và thiết giáp. ... Những khuyết điểm này phải cần thêm một thời gian huấn luyện nữa thì mới thuần thục. [52] Cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, để tóm gọn lại, là một quyết định chẳng đặng đừng: không giải quyết một nguy hiểm quân sự thì không được; giải quyết được nguy hiểm quân sự thì phải chịu đựng những bất lợi về chính trị.


--------------------------------------------------------------------------------

[1]Về những giai đoạn động viên, cơ chế quân dịch, hay các sắc luật về nghĩa vụ quân sự, đọc, trung tướng Đồng Văn Khuyên, The RVNAF, trang 33-37; Đoàn Thêm, Việc từng ngày: 1954-1964; Việc từng ngày: 1968, tháng 8-1957; 1-1959, 4-1964; và 6-1968; chuẩn tướng James Lawton Collins, Jr., The Development and Training of the South Vietnamese Army, trang 12, 57, và 68. Quyển The RVNAF (nguyên tác bằng Anh ngữ, RVNAF là chữ tắt của Republic of Vietnam Armed Forces - Quân đội Việt Nam Cộng hòa) là một tác phẩm rất chi tiết về cơ sở, quân số và cấu trúc, của quân lực VNCH, từ lúc thành hình cho đến ngày thất thủ.
[2]Luật Tổng động viên 1969 được tổng thống Thiệu chánh thức ban hành ngày 19 tháng 6-1969 (ngày Quân lực) tại Phú Văn Lâu, Huế.
[3]William Colby, Lost Victory; và Stephen B. Young, Cuộc chiến thắng bỏ lỡ (bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Vạn Hùng), là hai tác phẩm nói về những cơ hội có thể đem lại chiến thắng mà VNCH không đạt được trong những năm 1969-1972.
[4]Về chuyện Nixon tin tưởng chiến tranh Việt Nam sẽ kế thúc trong vòng năm tới, đọc trang 542, Chương 10 trong sách này. Tháng 5-1969, Kissinger tuyên bố cuộc chiến sẽ được giải quyết trong vòng sáu tháng. Đọc, Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 120. Sách của Hersh, The Price of Power, trang 119, nói Kissinger tuyên bố “sẽ có kết quả trong vòng ba tháng.”
[5]Daniel Ellberg, giữa năm 1971, thất vọng về đường lối cuộc chiến Việt Nam, ăn cắp tài liệu tối mật do Ngũ Giác Đài, do ông và một số viên chức cao cấp soạn thảo về lịch sử và liên hệ của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, đưa cho báo chí đăng tải. Ellsberg đã phục vụ ở Việt Nam như một quan sát viên quan trọng của Bộ Quốc phòng. Là một tay khoa bảng từ đại học Harvard (tiến sĩ đại học Harvard, bạn với Kissinger), Ellsberg gia nhập chính phủ với chức vụ phụ tá cho John McNaughton, nhân vật đứng hàng thứ ba trong Bộ Quốc phòng dưới thời của McNamara. Tài liệu Ellsberg đánh cắp từ Ngũ Giác Đài là căn bản của các ấn bản The Pentagon Papers sau này. Ellsberg xuất bản hai tác phẩm, Papers on the War, và Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers. Ngoại trừ tính chất tối mật của những Việc Ellsberg làm được ghi lại trong sách, hai tác phẩm của Ellsberg không có gì hay nếu không nói là dở.
[6]Jeffrey Kimball, Nixon s Vietnam War, trang 91-93.
[7]Paris. BT
[8]Tất cả các câu hỏi này nằm dưới dạng Huấn lệnh Nghiên cứu An ninh Quốc gia số 1 (National Security Study Memorandum 1), gởi ra từ Hội đồng An ninh Quốc gia của Kissinger. Đọc Ellsberg, Secrets, trang 235-241; Kimball, sđd, trang 94. Về chi tiết của các câu hỏi, đọc Jeffrey Clarke, Advice and Support: The Final Years, 1965-1973, trang 341-342. Về các câu hỏi liên quan đến quân đội Mỹ và VNCH, đọc, trung tướng Phillip B. Davidson, sđd, trang 588-589.
[9]Sau này, trong hồi ký, Kissinger nói huấn Lệnh NSSM 1 chỉ là một tham khảo sơ lược về cuộc chiến. Năm 1972, khi MSSM 1 bị lộ ra ngoài báo chí, đại tướng Alexander Haig, đang làm phụ tá cho Kissinger, tuyên bố, khi NSSM 1 đến tay các thẩm quyền thì “đã lỗi thời và quá xa [thẩm quyền trung ương]” để được áp dụng. Đọc, Kalb and Kalb, sđd, trang 129. Cũng theo hai tác giả Kalb, phúc trình gởi trả lời huấn Lệnh NSSM 1 dầy hơn một ngàn trang.
[10]Bản tường trình cuối cùng của McNamara, viết cho Johnson ngày 1 tháng 11-1967, có những đề nghị hoàn toàn trái ngược với tinh thần “diều hâu” của ông từ sáu năm qua. McNamara đề nghị không cho thêm quân; ngưng dội bom vô hạn định, và trao nhiệm vụ tác chiến lại cho quân đội VNCH để giới hạn thiệt hại về nhân mạng cho quân đội Hoa Kỳ. Đọc, Deborah Shapley, Promise and Power: The Life and Times of Robert McNamara, trang 436. Hơn một tuần sau, Johnson bổ nhiệm McNamara làm giám đốc Ngân Hàng Thế Giới (the World Bank), một chức vụ McNamara giữ đến tám năm sau.
[11]Oasinhton. BT
[12]Theo đô đốc Elmo R. Zuwalt, Jr., cựu Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, và sau này là Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ, từ tháng 8-1968 ông đã nhận được chỉ thị của đại tướng Abrams cấp tốc huấn luyện và chuyển giao vùng trách nhiệm cho Hải quân Việt Nam. Zumwalt nói Abrams nhận lệnh này từ tổng thống Johnson. Đọc, Zumwalt, On Watch, trang 36-37. Về những huấn Lệnh liên quan đến chương trình Việt Nam Hóa của Bộ Quốc phòng, và quân số sự định của VNCH vào các tháng đầu của năm 1968, đọc, chuẩn tướng James Collins, sđd, trang 86-90.
[13]Bùi Diễm, trong tuyển tập Vietnam as History, Peter Braestrup, chủ biên, trang 62. Ở cùng trang, đại sứ Bùi Diễm nói thêm, ông nghĩ kế hoạch Việt Nam hóa được đề ra để đáp ứng với nhu cầu chính trị một cách tạm thời, hơn là một kế hoạch có tính toán kỹ càng. Cũng nên nhắc lại, khi Hoa Kỳ đổ bộ đơn vị TQLC đầu tiên lên Đà Nẵng vào tháng 3-1965, họ quên thông báo cho VNCH cho đến khi đặc chân xuống lãnh thổ VNCH. Và trong một ý nghĩa nào đó, Hoa Kỳ muốn “Mỹ hóa” cuộc chiến hai tháng sau, khi hai Tiểu đoàn tác chiến của lữ đoàn 173 Nhảy dù đổ bộ ở Vũng Tàu ngày 5 tháng 5. Đọc, Bui Diem with David Chanoff, In the Jaws of History, trang 131-132; Shelby Stanton, The Rise and Fall of an American Army, trang 45-46.
[14]Trích theo Sorley, A Better War, trang 5. Tháng 2-1967, Tham mưu trưởng liên quân Wheeler sau khi sang thăm Việt Nam, trở về báo cáo với tổng thống Johnson, “[theo chiều hướng này] chúng ta có thể thắng về quân sự nếu chúng ta tiếp tục áp lực như đang áp dụng ở miền Bắc và miền Nam.” Chữ nếu của Wheeler đã không được Johnson và McNamara theo đuổi tới mức. Op. cit., ibid.
[15]Về tổn thất của Hoa Kỳ, VNCH, CSBV, trong năm 1968, đọc, Doulas Pike, chủ biên, The Bunker Papers, Vol. 3, trang 647; về con số thương vong của Mỹ trong các năm trước đó, đọc, James Olson, Dictionary of the Vietnam War, Appendix E.
[16]Đọc, Đại tướng Bruce Palmer, Jr., The 25-Year War: America s Military Role in Vietnam, trang 92-93; Lewis Sorley, A Better War, trang 39-39; cùng tác giả, Vietnam Chronicles: The Abrams Tapes, 1968-1972, trang 308. Theo một tác gỉa khác, đầu năm 1972, khi Thomas Polgar chuẩn bị lên đường sang Saigon thay Ted Shackley làm trưởng phòng CIA, Polgar có đến bộ quốc phòng từ giã Melvin Laird. Trong cuộc nói chuyện, Laird trấn an Polgar, nói rằng, “... đừng lo, Hoa Kỳ sẽ còn giữ lại một số quân cho đến 30 năm nữa như ở Tây Đức.” Kim Wellenson et al., The Bad War, trang 102. Trích theo Sorley, A Better War, trang 282.
[17]Lewis Sorley, Thunderbolt: General Creighton Abrams and the Army of His Times, trang 254-259. Về những thay đổi Huấn lệnh từ Hoa Thịnh Đốn, và những chiến thuật, chiến lược mới của MACV, đọc Sorley, A Better War, trang 17-30.
[18]Jeffrey Clarke, sđd, trang 384, và Appendix C. 549.500 người là số quân cao nhất của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam. Một tài liệu khác của Bộ Quốc phòng cho số 543.400 là cao nhất.
[19]Richard Nixon, No More Vietnams, trang 96.
[20] Theo Clarke, sđd, trang 351, phụ chú 22, bản Kế hoạch do Bộ Tổng Tham mưu VNCH soạn, được trao cho phía Hoa Kỳ tại Đảo Midway cùng ngày hội họp. Cũng theo Clarke, ông Thiệu nghe về chuyện rút quân một cách bán chánh thức từ đại tướng Abrams và đại sứ Bunker vào tháng Giêng, 1969. Trong lần nói chuyện đó tướng Abrams nói với tổng thống Thiệu là đây chưa phải là thời điểm có thể rút các đơn vị tác chiến đi được. Từ đầu năm 1968 ông Thiệu có tuyên bố trên báo chí về chuyện Hoa Kỳ sẽ rút quân nhưng nói rõ chi tiết, hay cho biết đó có phải là một kế hoạch hỗn hợp giữa hai bên hay không. Xem, Clarke, sđd, trang 346; Đoàn Thêm, Chuyện từng ngày: 1968, tháng Giêng, và, 1969, tháng Tư.
[21]Nixon, RN: The Memoirs of Richard Nixon, trang 392. Lewis Sorley, trong A Better War, trang 423, phụ chú 37, có viết, tướng William B. Rosson, đang là Tư lệnh phó MACV, có mặt ở dinh Độc Lập với tổng thống Thiệu khi cả hai nghe Nixon tuyên bố. Ngay sau đó, Tổng thống Thiệu nói với tướng Rosson là những gì Nixon nói hoàn toàn sai sự thật. Ông không có đề nghị chuyện rút quân với Nixon. Ngược lại, chính Nixon nói với ông là Nixon phải rút quân vì đó là ước muốn của dân Hoa Kỳ. Đại tướng Abrams chẵng những không đề nghị mà còn phản đối chuyện rút quân đột ngột như ý định của Nixon và tổng trưởng Laird. Đọc Jeffrey Clarke, sđd, trang 348.
[22]Chủ thuyết Nixon (The Nixon Doctrine) về liên hệ của Hoa Kỳ và nền an ninh ở Á châu, còn được được gọi là The Guam Doctrine, vì Nixon tuyên bố chủ thuyết này tại Đảo Guam vào tháng 7-1969, trên đường đi đón các phi hành gia Apollo XI (phi thuyền đáp lên mặt trăng) trở lại địa cầu. Guam là nơi Nixon khởi hành thăm viếng sáu Quốc gia ở Nam Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Về chủ thuyết này, đọc, Nixon, RN: The Memoirs of Richard Nixon, trang, 394-395.
[23] Henry Kissinger, White House Years, trang 276-277.
[24]“Thay đổi màu da của tử sĩ,” lời phát biểu của thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, ứng cử viên tổng thống năm 1968. Trích theo Seymour Hersh, sđd, trang 310.
[25]Tổng số tử thương của quân lực VNCH từ năm 1962 đến cuối năm 1969, theo hai tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Một tài liệu soạn năm 1972 có số tử thương là 117.075; tài liệu kia soạn năm 1975, với số tử thương là 110.176.
[26]Những ý nghĩ này nằm trong tác phẩm của đại tướng Cao Văn Viên và trung tướng Đồng Văn Khuyên, Reflections on the Vietnam War, trang 91-92. Cũng trong tác phẩm, hai tác giả cho biết chính tổng thống Thiệu cũng không thích tên gọi đó và không ban hành một Huấn lệnh nào để cho chỉ thị về chương trình Việt Nam hóa. Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, trong Vienamization and the Cease-fire, trang 19, cũng có những quan sát tương tự.
[27]Đọc, Bùi Diễm, sđd, trang 285. Đại sứ Bùi Diễm từ sau hội nghị Midway 1969, là nhân viên duy nhất đại diện cho phía VNCH trong các cuộc bàn luận kế hoạch Việt Nam Hóa ở Ngũ Giác Đài. Ông viết về các buổi thảo luận, “...gặp nhau hai tuần một lần, buổi họp tẻ nhạt... không có kế hoạch hay tổ chức.”
[28]Jeffrey Clarke, sđd, trang 351, phụ chú 20. Hai đơn vị rút đi lần đầu tiên là 2 lữ đoàn của sư đoàn 9 Bộ binh ở vùng IV, và một trung đoàn TQLC ở vùng I. Đầu năm 1969, quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam gồm có 351.965 Lục quân; 52.034 Không quân; 35.709 Hải quân; và 81.892 TQLC. Đọc, Clarke, sđd, Appendix C.
[29] Clarke, sđd, trang 354.
[30] Lewis Sorley, Vietnam Chronicles: The Abrams Tapes 1968-1972, trang 302-316. Hiện diện trong buổi họp là các đại tướng Abrams; George S. Brown (Tư lệnh phó MACV về không lực,) William B. Rosson (Tư lệnh phó MACV); đại sứ Ellsworth Bunker và William Colby (Colby lúc đó là Tư lệnh chương trình CORDS, với cấp bậc đại sứ); các trung tướng, thiếu tướng, còn lại là các Tư lệnh cố vấn quân đoàn, quân chủng. Các đại tá là Tư lệnh lực lượng đặc biệt; điệp vụ bí mật (SOG). Dân sự thì có những nhân vật như John Paul Vann (chỉ huy trưởng CORDS vùng II, sau này là cố vấn trưởng Vùng II), George G. Jacobson (phụ tá tham mưu trưởng MACV về CORDS, phục vụ ở Việt Nam liên tục hơn mười năm). Ngày họp hôm đó là ngày 22 tháng 11-1969, sau khi Hoa Kỳ đã rút đi 65 ngàn quân để bắt đầu chương trình rút quân từ lúc Nixon lên, nhưng bây giờ tổng trưởng Laird và Ngũ Giác Đài muốn rút thêm và nhanh hơn kế hoạch đã tính. Câu nói chua xót và hối tiếc của tướng Abrams về tướng Cao Văn Viên cho thấy những gì bộ Tư lệnh MACV đã hứa với Bộ Tổng Tham mưu và tướng Viên sẽ không thực hiện được. Trước khi có huấn Lệnh của Laird, Abrams thông báo cho Bộ Tổng Tham mưu VNCH là Hoa Kỳ sẽ rút quân theo khả năng gánh vác của quân đội VNCH; và, quân đội Mỹ vẫn duy trì một lực lượng tác chiến căn bản để canh chừng những vi phạm, hoạt động, của CSBV, như họ đã làm ở Nam Hàn. The Abrams Tapes, do tác giả Lewis Sorley ghi lại từ băng thâu âm hơn hai ngàn giờ họp quan trọng của MACV, là một tập tài liệu quan trọng và tối mật, viết lại từng chi tiết bên trong đầu não của bộ Tư lệnh quân sự Hoa Kỳ ở Việt Nam. Huấn lệnh mà Laird yêu cầu đọc cho ban tham mưu MACV nghe trong buổi họp nói trên, là những gì Laird đã tường trình cho Ủy ban Ngoại giao Thượng viện vài ngày trước đó ở Hoa Thịnh Đốn. Đọc cùng sách, cùng trang đã dẫn.
[31]Sư đoàn TQLC vào năm 1969 chỉ có sáu Tiểu đoàn. Cùng chung với Tiểu đoàn 81 Biệt kích Nhảy dù là 12 toán thám sát Delta. Về sự thành hình và lịch sử của Biệt cách Nhảy dù, đọc, đại tá Phan Văn Huấn, Đặc san Biệt cách Dù Lực lượng Đặc bbiệt, Số IV, Tháng 1-2005, trang 9. Ba mươi Tiểu đoàn pháo binh là kể luôn sáu Tiểu đoàn pháo 155 ly và hai Tiểu đoàn pháo binh của Nhảy dù và TQLC. Đọc, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Vietnamization and the Cease-fire, trang 32. Tương tự như tác phẩm The RVNAF của trung tướng Đồng Văn Khuyên, tác phẩm của Nguyễn Duy Hinh cung cấp nhiều chi tiết về chương trình Việt Nam hóa trong những năm 1969-1973.
[32]Các con số về số quân của các đơn vị, quân chủng, hơi khác nhau giữa sách của Nguyễn Duy Hinh, Đồng Văn Khuyên và Jeffrey Clarke. Vì số chênh lệch không nhiều giữa ba sách (từ bảy đến mười ngàn người), người viết dùng sách của tác giả Nguyễn Duy Hinh để các chi tiết được đồng nhất. Đọc Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 32, 40; Clarke, sđd, trang 349-356; Đồng Văn Khuyên, trang 19-22. Cũng cần nói thêm: Vì sách của hai tác giả Hinh và Khuyên dựa vào một số hồ sơ quân sự chưa được giải mật trong lúc viết nên trong sách không có chú dẫn tài liệu. Sách của sử gia quân đội Jeffrey Clarke viết sau này, khi một số tài liệu đã được giải mật, và từ sách của Clarke, chúng ta có thể suy luận những nguồn tài liệu trong sách của hai tác giả Hinh và Khuyên đến từ đâu. (Hai tác giả được coi một số tài liệu mật liên quan đến chủ đề trong thời gian soạn sách. Nhưng sau khi hoàn tất, Trung tâm Quân Sử Lục quân Hoa Kỳ giữ bản thảo lại vài năm và chỉ xuất bản giới hạn sau khi những tài liệu liên quan đã được chánh thức bạch hóa)
[33]Chẩn tướng James L. Collins, Jr., sđd, trang 91. Về sơ lược các hoạt động và cơ cấu Cảnh sát Quốc gia, đọc, đại tá Hoàng Ngọc Lung, Intelligence, trang 49-54.
[34]Chi tiết về quân số, vũ khí và quân nhu dụng gia tăng trong thời khoảng 1969-1973, đọc, Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 30-48; Đồng Văn Khuyên, sđd, trang 18-21.
[35] Collins, sđd, Appendix C.
[36]James H. Willbanks, Abandoning Vietnam: How America Left and South Vietnam Lost Its War, trang 40-41. Hai con số về huấn luyện viên và cố vấn Mỹ, Willbanks trích theo tài liệu của MACV, và sách của Cao Văn Viên và Đồng Văn Khuyên, The U.S. Advisors.
[37]CORDS là chữ tắc của Civil Operations and Rural Development Support (Dân sự Vụ và Phát triển Nông thôn) Trước đó chương trình còn được gọi là Civil Operations and Revolutionary Development Support (Dân sự Vụ và Cải cách Nông thôn). Nhiều chương trình có mục tiêu tương tự như CORDS đã hiện hữu từ trước. Nhưng chương trình nằm dưới tên CORDS, và qua sự điều khiển của đại sứ Robert Komer và sau này là William Colby, sát nhập hai chương trình Civil Operations của tòa đại sứ (dân sự) và Rural Development của MACV (quân sự) để trở thành một chương trình duy nhất. Về lịch sử của các chương trình bình định, phát triển hay xây dựng nông thôn, đọc, William Colby, Lost Victory, Appendix B, trang 384-387.
[38]Một số kế hoạch có tính cách “bán quân sự” của chương trình CORDS liên hệ đến CIA nếu không nói hoàn toàn nằm dưới thẩm quyền của CIA. Theo tài liệu và sách vở khả tín, các chương trình như Chiến dịch Phượng hoàng; Thám sát Tỉnh; hai đài phát thanh dùng vào kế hoạch “tuyên truyền xám” Gươm thiêng Ái quốc và Mẹ Việt Nam; và chương trình tâm lý chiến trong Kế hoạch 38 (Operation 38), đều nằm dưới sự điều khiển của CIA và Đặc ủy Trung ương Tình báo VNCH. Ba người có liên hệ sâu đậm đến CORDS đều xuất thân từ CIA: Theodore (Ted) Shackley, Robert Komer, và William Colby. Shackley chỉ huy CIA ở Lào trước khi đến Saigon; Komer làm cho CIA trước khi qua làm cho Hội đồng An ninh Quốc gia; và Colby thì như chúng ta đã rõ, chỉ huy trưởng CIA ở Saigon từ thời tổng thống Diệm. Có khá nhiều tài liệu sách vở nói về CORDS và các hoạt động tình báo nằm song song với kế hoạch này. Đọc, David Corn, Blond Ghost: Ted Shackley and the CIA s Crusades; William Colby, Lost Victory; và, Ralph McGehee, Deadly Deceit. Sách của Corn có rất nhiều chi tiết vì tác giả đã phỏng vấn gần một trăm cựu nhân viên CIA hoạt động ở Việt Nam; trong khi MacGeehee là nhân viên điều tra chánh của CIA trong vụ khám phá ổ gián điệp Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ ở Phủ Tổng thống vào giữa năm 1969. Sách Colby như là một hồi ký nói về liên hệ mười sáu năm của tác giả với Việt Nam qua các chức vụ như xếp CIA và xếp chương trình CORDS.
[39]Về Nghị quyết 9, đọc, Sorley, The Abrams Tapes, trang 91, 263-266; A Better War, trang 154-168; Willbanks, sđd, trang 67; David Corn, sđd, trang 202-203; Davidson, Vietnam at War, trang 600-601. Về những khó khăn CSBV phải đương đầu vào những năm 1968-1971, đọc, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Ký ức Tây Nguyên, trang 131-141. Theo tướng Hiệp, có lúc tất cả gạo tồn kho chỉ còn đủ để nuôi lính của chiến trường B3 một tuần; và, lính và thương binh CSBV rút về Lào và miền Bắc đông và nhiều như cuộc “tập kết lần thứ hai” trong hai năm đó. Ở một đoạn khác trong sách (trang 367), tác giả cho biết Sư Đoàn 10 của ông bị chết 9.900 quân trong thời gian chưa đầy ba năm (9-1972 đến 4-74). Đặng Vũ Hiệp là chính ủy B3, chính ủy Sư Đoàn 10, rồi chính ủy Quân Đoàn 3 vào năm 1975. Tình hình của CSBV ở những mặt trận khác như B5 (tương đương với Vùng I), hay Quân Khu 7 và 9 (Vùng II và IV) cũng rơi vào tình trạng nguy khốn tương tự. Đọc, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Miền Trung những tháng ngày không quên, trang 415-417. Tướng Khánh là Tư lệnh B5 (Khu 5). Về tình hình ở Saigon-Gia Định và vùng phụ cận, người viết trích theo hồi ký Mai Chí Thọ (lúc đó Mai Chí Thọ và Võ Văn Kiệt là Tư lệnh và chính ủy của “nội đô,” hay là Phân Khu 6, bao gồm Saigon, Gia Định, Bình Dương và các vùng khác ở Quân Đoàn III) viết trong Theo bước chân lịch sử, trang 168-174. Trần văn Trà, trong Kết thúc cuộc chiến 30 năm, Tập 5, trang 190, cho biết những Tư lệnh tử trận năm 1968 và 1969 là, Trần Đình Xu, Tư lệnh khu Saigon; sư đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện; và Tư lệnh phó quân khu 8 Nguyễn Văn Nhỏ (Hai Nhỏ).
[40]Những con số về hồi chánh, an ninh địa phương, đọc, The Bunker Papers, các tờ tường trình vào tuần lễ cuối của những năm 1967, 1968, 1969, 1970, và 1971. Trong những tường trình cuối năm, đại sứ Bunkers thường báo cáo cho tổng thống tất cả các con số về kinh tế, tình hình chính trị, an ninh, số thương vong của Hoa Kỳ, VNCH, CSBV, số cán binh ra hồi chánh, cũng như tiến triển của các chương trình có tính cách dân sự. Về những thay đổi tình hình an ninh ở xã, ấp trong những năm 1967-1971, đọc, William Colby, sđd, Appendix D, trang 420-421.
[41] Đọc, William Colby, Victory Lost, trang 313.
[42]Ngày 5 tháng 2-1970, Hoàng thân kiêm đệ nhất Thủ tướng Cam Bốt, Sirik Matak, tuyên bố trên đài phát thanh Quốc gia là quân đội Cam Bốt chuyên chở và bán gạo cho CSBV theo những thỏa thuận từ trước, nhưng ông không muốn thấy liên hệ đó tiếp tục nữa. Trước đó gần hai tuần, bộ trưởng Nguyễn Văn Tiến của Chính phủ Lâm lhời Việt Cộng có đến thương lượng với Matak lần cuối để được tiếp tục mua gạo và đóng quân. ... Khi nghe Matak dọa quân đội Cam Bốt sẽ có biện pháp với các đơn vị CSVN đang có mặt trên đất Cam Bốt, bộ trưởng Tiến trả lời các đơn vị cộng sản sẽ chiến đấu tự vệ, vì “họ đã trả một số tiền rất lớn cho Shihanouk để được phép đóng quân và thiết lập căn cứ trên đất này.” Đọc, Sorley, The Abrams Tapes, trang 360, 383-384. Theo ký giả Nayan Chanda, Hoàng thân Shihanouk, với sự đồng ý của Chu Ân Lai, lấy 10% tổng số hàng nhập vào hải cảng Shihanoukville. Từ Shihanoukville quân đội Cam Bốt dùng quân xa chuyển hàng giao đến tay CSBV và tính thêm tiền chuyên chở. Shihanouk lấy lại tiền bán gạo cho CSBV từ Trung Cộng. Đọc, Chanda, Brother Enemy, trang 61, 420 (phụ chú 17); Qiang Zhai, China and the Vietnam War: 1950-1975, trang 135-137, 248 (phụ chú 33 và 35). Trong hồi ký của Trường Sơn (bút hiệu của đại tá Phạm Tề thuộc bộ Tư lệnh Đoàn 559) tác giả cũng có nói về vấn đề chi tiền cho quân đội Cam Bốt để được đóng quân và tích trữ quân nhu dụng. Đọc, Trường Sơn, cuộc hành trình năm ngàn ngày đêm, trang 129-139. Về thái độ hai hàng và ngụy tín của Shihanouk, đọc, Davidson, Vietnam at War, trang 624-625.
[43] Davidson, sđd, cùng trang.
[44]Sorley, A Better War, trang 200, và những phụ chú liên hệ Đô đốc McCain đề nghị với tham mưu trưởng liên quân Wheeler là phải đánh qua Cam Bốt; William Colby nói, còn căn cứ của CSBV ở Cam Bốt thì chúng ta sẽ còn ở lại Việt Nam vĩnh viễn. Một vị tướng khác, quen thuộc với tình hình quân sự Việt Nam, nhận định là các căn cứ của CSBV đóng dọc theo biên giới Việt Nam tương tự như một khẩu súng lên đạn kề vào đầu VNCH. Đọc, Dave Palmer, Summons of the Trumphet, trang 228.
[45]Sorley, A Better War, trang 200-203; William Hammond, Reporting Vietnam, 201-218; Jeffrey Kimball, Nixon s Vietnam War, trang 197-212; Davidson, sđd, trang 623-633; James H. Willbanks, Abandoning Vietnam, trang 77-86. Tất cả các tác phẩm nói trên đều đề cập chút ít gì về cuộc tấn công qua Cam Bốt của quân lực VNCH vào tháng 5-1970. Tuy nhiên, để có chi tiết và lịch sử đầy đủ hơn về cuộc hành quân, xin đọc, The Cambodian Incursion, của chuẩn tướng Trần Đình Thọ. Cũng nói thêm, phần lớn vũ khí tịch thu được trong những cuộc hành quân được quân đội VNCH giao lại cho quân đội Cam Bốt.
[46]Vì tính chất phức tạp với nhiều giai đoạn, nhiều tên gọi, cho các cánh quân (mỗi chiến đoàn phụ trách một giai đọan/ mục tiêu của cuộc tấn công), người viết dùng tên Toàn Thắng là tên chánh của cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt. Để biết thêm chi tiết về mục đích, hướng đánh, chiến đoàn tham dự, hay của các tên cuộc hành quân phụ như Bình Tây I-III; Toàn Thắng 41-46; và Cửu Long 44, xin đọc, chuẩn tướng Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion, trang 53-133.
[47]Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion, trang 95.
[48] Về chi tiết những hoạt động của phía Hoa Kỳ trong cuộc hành quân Rockcrusher, đọc, đại tướng Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, trang 166-176. Trong cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt, tướng Starry mang chức đại tá, chỉ huy trưởng Trung đoàn 11 Thiết kỵ (Black Horse Regiment), trung đoàn mà trước đó một năm được con trai của đại tướng lừng danh Patton chỉ huy.
[49]Với số lượng vũ khí, quân nhu dụng, tịch thu được từ những căn cứ và kho dự trữ ở Cam Bốt, tình báo CIA đã mất đi tiếng nói với hầu hết thẩm quyền của chính phủ Hoa Kỳ, nhất là với tổng thống Nixon. Những dự đoán sai lạc về số lượng hàng xâm nhập qua hải cảng Shihanouk của CIA từ năm 1964 làm cho Hội đồng An ninh Quốc gia và với quân sự nghi ngờ về khả năng của CIA trong những tiên đoán họ đưa ra. Đọc, Henry Kissinger, White House Years, trang 240-241; Sorley, A Better War, trang 209-210, trích lại lời phê bình của đại tướng Bruce Palmer (từng là Tư lệnh phó MACV). Tháng 11-1970, CIA lại thiếu chính xác thêm lần nữa khi họ không biết chắc chắn tù binh Hoa Kỳ còn có mặt ở trại tù Sơn Tây hay không, cho đến những ngày cuối cùng. Nhưng đến giờ phút đó cuộc hành quân giải cứu tù binh đã trên đường đến Thái Lan, và từ đó bay qua không phận Thượng Lào để đến Sơn Tây. Đọc, Benjamin F. Schemmer, The Raid, trang 219-220.
[50]Chi tiết về thiệt hại đôi bên, vũ khí và quân nhu dụng tịch thu của CSBV, đọc, chuẩn tướng Trần Đình Thọ, sđd, trang 193-194.
[51]Hầu kết các sách về chiến tranh Việt Nam đề có viết ít nhiều về phản ứng của dân cũng như quốc hội khi đồng minh tấn công qua Cam Bốt. Một tổng kết nói lên đầy đủ các phản ứng từ nội địa, ngoại quốc và giới chính trị ở quốc hội được Paul M. Kattenburg viết trong The Vietnam Trauma in American Foreign Policy, 1945-75, trang 241-281. Kattenburg là chuyên viên về Đông Dương thập niên 1950, và giám đốc Việt Nam Vụ năm 1963-1964. Ngày 30 tháng 6-1970 ngày cuối cùng của quân đội Mỹ trên đất cam Bốt để nhấn mạnh thái độ của họ đối với tính chất pháp lý về liên hệ của Hoa Kỳ ở Việt Nam, thượng viện Mỹ biểu quyết thêm một lần nữa rút lại Quyết nghị Vịnh Bắc Việt, một quyết nghị căn bản cho phép tổng thống Mỹ can thiệp và đưa quân vào Việt Nam. Hai tháng trước đó, tiểu bang Massachutsetts chấp thuận một dự luật rất “phản chiến” và ngược lại đường lối của chính phủ liên bang: Tiểu bang này cho phép công dân của tiểu bang “được tị nạn nghĩa vụ quân sự” cho đến khi nào quốc hội Hoa Kỳ chính thức tuyên chiến với một Quốc gia nào đó (trong trường hợp này là tuyên chiến với Bắc Việt). Dự luật của tiểu bang Massachutsetts đặt nền hành pháp vào một thế kẹt, vì theo Hiến pháp Hoa Kỳ, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền tuyên chiến (declaration of war clause). Đọc, Chester Cooper, The Lost Crusade: America in Vietnam, trang 462-463.

Phần 4



Với những chiến thắng ở Cam Bốt được thâu lượm quá dễ dàng, gần cuối năm 1970, thẩm quyền dân sự từ Hoa Thịnh Đốn “đề nghị” MACV đề nghị với bộ tổng tham mưu VNCH mở một cuộc hành quân qua Hạ Lào với mục đích tương tự như cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt. Nhưng cuộc hành quân lần này hơi khác, thẩm quyền dân sự thông báo cho MACV: Vì luật Quốc hội không cho phép quân đội Hoa Kỳ có mặt trên đất Lào, cuộc hành quân sẽ hoàn toàn do quân đội VNCH đảm nhiệm. Hoa Kỳ chỉ có thể yểm trợ quân đội VNCH bằng các phương tiện như không vận, hỏa lực Pháo binh và không yểm.
Nhưng lần này, mục đích của Hoa Thịnh Đốn khi đánh qua Hạ Lào năm 1971 không thuần túy chỉ là mục đích quân sự. Theo những tài liệu giải mật có liên hệ đến chủ đích của kế hoạch đánh qua Hạ Lào đã được công bố, Cố vấn An ninh Quốc gia Kissinger đề nghị VNCH đánh qua Lào năm 1971 để làm gián đoạn tiềm năng quân sự của CSBV vào năm 1972, năm bầu cử tổng thống Mỹ. Chính Kissinger là người khuyên Nixon là đừng nên rút quá quân nhiều, quá vội trong năm 1971: đợi đến cuối năm 1972 rồi sẽ rút hết. Giữ lại một số quân để bảo đảm tình hình quân sự ở Việt Nam và đồng thời có được một an toàn cho cuộc bầu cử năm 1972 (trong ý nghĩa tình hình chiến sự ở Việt Nam được yên lặng thì giới phản chiến Mỹ không có lý do để biểu tình và đảng Dân Chủ không có cớ nói đảng Cộng Hòa vẫn chưa giải quyết được tình hình quân sự ở Việt Nam). Đây là một chiến thuật chính trị khá độc đáo của Kissinger. Và Nixon nghe theo. [1]
Sử liệu sau này - hay ít ra là sử liệu viết trước khi cuốn hồi ký của Hademan ra đời, và một số tài liệu giải mật được công bố gần đây - không xác định chắc chắn ai là cha đẻ của kế hoạch đánh qua Hạ Lào năm 1971. Và sau khi cuộc hành quân kết thúc với một kết quả không được hoàn hảo như dự tính, dĩ nhiên không ai muốn nhận làm cha đẻ của một kế hoạch thiếu mỹ mãn. Mặc dù các sử gia không thể xác định chắc chắn, nhưng dựa vào nhiều hồi ký và tài liệu, họ có thể suy luận kế hoạch có thể bắt nguồn từ Nixon; Kissinger; Hội đồng An ninh Quốc gia; hay cũng có thể là khởi nguồn từ tướng Alexander Haig, một phụ tá tín cẩn của Kissinger đương thời. [2] Kissinger, trong hồi ký viết sau này, chẳng những không nói rõ ai là tác giả đề nghị kế hoạch đánh qua Lào, mà còn chối là mình có khởi sự và tham dự vào kế hoạch đó. [3]
Kế hoạch tấn công qua Hạ Lào để cắt đứt đường tiếp vận và xâm nhập vào chiến trường miền Nam của CSBV, không phải là một quyết định hay đề nghị mới. Năm 1964 Lục quân Hoa Kỳ phát họa một kế hoạch, trong đó dùng bốn sư đoàn đánh và giữ một phòng tuyến dài từ Đông Hà qua Savannakhet. Kế hoạch được tư lệnh Lục quân Harold K. Johnson chấp thuận, nhưng bị đô đốc Sharp của bộ tư lệnh Thái Bình Dương phủ phản đối trên lý do đóng quân như vậy thì quá thụ động, không làm được gì. Từ năm 1966 tướng Westmoreland đã yêu cầu ban tham mưu MAVC phát họa một kế hoạch đánh qua Lào, bắt đầu từ Lao Bảo, dọc theo quốc lộ 9 đến Sê Pôn, một trung tâm nhận và chuyển hàng của CSBV. Giữa năm 1969, khi Abrams thừa nhiệm Westmoreland, tướng Abrams cũng đề nghị đánh qua Lào trước khi có cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt. Năm 1972, trong một bài viết về một chiến lược để cô lập CSBV, đại tướng Cao Văn Viên nói từ năm 1966 ông đã đề nghị hai giải pháp quân sự để cô lập đường tiếp tế của cộng sản: Hoặc đánh vào Vinh để cắt đứt nút xâm nhập ở các đèo Mụ Già, đèo Ban Karai; hoặc đánh theo đường số 9 để chiếm giữ Sê Pôn. Nhưng vì một lý do chính trị nào đó, thẩm quyền dân sự ở Hoa Thịnh Đốn không ưng thuận hay khuyến khích các kế hoạch do các tư lệnh quân sự đề nghị. [4]
Nhưng dưới chính phủ của tay đánh phé Nixon và ông cố vấn phù thủy Kissinger, kế hoạch đánh qua Lào quyền rũ hơn lần đánh qua Cam Bốt. Năm 1971 là năm bầu cử tổng thống VNCH, và năm 1972 là năm bầu cử tổng thống Mỹ. Sau khi đánh qua Lào, thắng hay thua, với thiệt hại đôi bên, tình hình quân sự sẽ tạm lắng dịu, và như vậy tình hình sẽ có lợi cho hai chính phủ đương nhiệm ở Hoa Kỳ và Việt Nam. Hơn nữa, theo chương trình rút quân, vào cuối năm 1972 tổng số quân Mỹ còn có mặt ở Việt Nam sẽ không hơn 50 ngàn người. Nếu phải đánh tan - hay ít ra giảm thiểu - tiềm năng quân sự của CSBV, thì đây là cơ hội duy nhất còn lại. Với những suy luận đó, Nixon quyết định ra tay trước khi CSBV có thể tái bổ sung những thiệt hại ở Cam Bốt. Ban đầu, Nixon có ý định dùng TQLC và Bộ binh đổ bộ lên Vinh (kế hoạch tương tự như kế hoạch của tướng Viên), nhưng cố vấn Kissinger đề nghị đánh trở lại Cam Bốt thêm một lần thứ nhì nữa để dọn sạch những căn cứ của CSBV. Sau cùng họ để ý đến một đề nghị của đô đốc John McCain, tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. McCain, trong một điện tín gởi cho Abrams vào tháng 10-1970, đề nghị MAVC nghiên cứu những mục tiêu nhắm vào các căn cứ hậu cần của CSBV nằm dọc theo biên giới Việt-Lào (Đề nghị của đô đốc McCain chỉ là một trong những đề nghị hành quân thông thường, không liên quan gì đến ý định của Nixon và Kissinger. Giữa tháng 6-1970, McCain có thăm viếng bộ tư lệnh MACV để duyệt xét tình hình của cuộc hành quân đang diễn tiến bên Cam Bốt.). Nixon và Kissinger chọn kế hoạch của McCain nhưng thay đổi đi một vài mục tiêu để phù hợp với kế hoạch chính trị của họ: Thay gì chỉ đánh vào các mục tiêu nằm gần và dọc theo biên giới Việt-Lào, kế hoạch sẽ đánh 30 cây số sâu vào nội địa Lào (tới Sê Pôn), rồi sau đó quân đội VNCH sẽ bọc trở lại để tiếp tục phá hủy các căn cứ hậu cần nằm dọc theo biên giới. Chưa hết, cùng lúc đánh qua Lào, một lực lượng khác của quân đội VNCH sẽ tấn công trở lại Cam Bốt, đánh sâu vào khu vực đồn điền cao su Chup, nơi cộng sản đang xây dựng những căn cứ mới. [5]
Đầu tháng 12-1970, ban tham mưu liên quân liên lạc qua đô đốc McCain, cho phép tướng Abrams bàn thảo với tướng Viên về kế hoạch hành quân qua Lào. [6] Ngày 7, tướng Abrams và đại sứ Bunker gặp tổng thống Thiệu gần một tiếng rưỡi để trình bày sơ qua khái niệm cuộc hành quân. Trở về bộ tư lệnh, Abrams đánh điện tín thông báo cho đô đốc McCain là, tổng thống Thiệu đồng ý kế hoạch. Abrams cho biết tổng thống Thiệu chọn vùng Sê Pôn là mục tiêu chính; đường số 9 là trục lộ di chuyển quân; cấp số căn bản cho cuộc hành quân là hai sư đoàn, cộng thêm một số quân Thiết kỵ; thời điểm bắt đầu hành quân là sau Tết; thời gian hành quân kéo dài chừng hai đến ba tháng; sau đó vẫn giữ lại một số đơn vị nhỏ để đánh phá quấy rối chung quanh các căn cứ hậu cần cộng sản. [7] Ngày 8, một điện tín từ ban tham mưu liên quân gởi qua McCain cho tướng Abrams, xác định lại chi tiết rõ ràng hơn: hành quân qua Lào, dọc theo đường số 9. ... Hoa Kỳ sẽ yểm trợ hỏa lực và không vận. ... Cùng lúc, cũng phải soạn thảo kế hoạch tấn công qua Cam Bốt. Hai ngày sau, đích thân đô đốc Thomas Moorer, tham mưu tưởng ban tham mưu liên quân, chuyển lại cho Abrams một huấn lệnh của tổng trưởng quốc phòng viết theo lệnh của tổng thống Nixon. Huấn lệnh thông báo, “tổng thống giao trách nhiệm [cho Abrams] phối hợp với quân đội VNCH và quân đội Cam Bốt [trong cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt] để tấn công quân địch với tất cả khả năng ... nhưng nằm trong giới hạn chính trị của quân đội Hoa Kỳ [nghĩa là quân đội Hoa Kỳ không thể đi kèm theo quân VNCH qua biên giới].” Bức điện tín đồng thời cho biết Nixon sẽ cho tướng Alexander Haig đến Sài Gòn và Nam Vang để cùng tham khảo kế hoạch của hai cuộc hành quân. [8] Tướng Haig đến Sài Gòn trung tuần tháng 12, thảo luận với tổng thống Thiệu, tướng Abrams và đại sứ Bunker. Sau chuyến đi tham khảo của Haig, tổng trưởng quốc phòng Laird đến Sài Gòn thượng tuần tháng 1, năm 1971. Theo những gì được viết lại, Laird cũng có thảo luận với tổng thống Thiệu về kế hoạch hành quân qua Lào. [9] Ngày 18 tháng 1-1971, tòa Bạch Ốc nhóm họp để quyết định về cuộc hành quân đánh sang Lào. Buổi họp có mặt của Nixon, tổng trưởng quốc phòng Laird, ngoại trưởng William Rogers, tham mưu trưởng liên quân Moorer, xếp CIA Richard Helm, tướng Haig, và Kissinger. Trên nguyên tắc, tất cả hiện diện đều đồng thuận với kế hoạch. Chỉ trừ ngoại trưởng Rogers. Rogers phản đối kế hoạch và phản đối rất có lý: cấp số quân quá ít; cuộc hành quân đi vào địa thế nguy hiểm. Ông ngoại trưởng nhắc cho mọi người nhớ, kế hoạch của ban tham mưu Lục quân, và kế hoạch của Westmoreland vài năm trước đây đòi hỏi một lực lượng không dưới bốn sư đoàn quân Hoa Kỳ, cộng với không lực yểm trợ của ba quân chủng. Bây giờ, với một lực lượng dưới ba sư đoàn lính VNCH và một hỏa lực yểm trợ rất giới hạn của Hoa Kỳ, làm sao chúng ta đặt tin tưởng tuyệt đối vào cuộc hành quân được? Nhưng Nixon gạt ngang sự phản đối của ngoại trưởng Rogers, chấp thuận kế hoạch hành quân và ra lệnh soạn thảo để thi hành. [10]
Từ tháng 3-1970, trước khi có cuộc hành quân của VNCH và Hoa Kỳ vẫn đánh qua Cam Bốt, và trong thời gian cuộc hành quân đang diễn ra, hệ thống tình báo điện tử của Hoa Kỳ thâu được một số điện tín của bộ tư lệnh cao cấp CSBV gởi cho các binh trạm đóng dọc trên hệ thống đường xâm nhập Hồ Chí Minh từ Lào xuống cam Bốt. Bộ tư lệnh CSBV ra lệnh cho các binh trạm chuẩn bị tác chiến nếu cần, vì địch có thể tiếp tục tấn công qua Cam Bốt, Lào hay qua khu vùng ba biên giới. Những tháng kế tiếp, tình báo điện tử tiếp tục ghi nhận lệnh từ cấp trên lưu ý các đơn vị đóng từ Vinh cho đến Hạ Lào, là địch có thể tấn công bất thần, kể cả chuyện đổ bộ lên Vinh. Đầu tháng 10, 1970, CSBV thiết lập một bộ tư lệnh cấp Quân đoàn có tên là 70B, đóng ở khu vực đường 9 bên kia biên giới, để chuẩn bị trả chống trả mọi cuộc tấn công qua biên giới của quân đội VNCH. Từ tháng 3-1970, các tư lệnh cấp trung đoàn và sư đoàn được lệnh phải đích thân đi thám thính địa hình dọc theo, và chung quanh đường số 9. Với những biến chuyển và hoạt động quân sự đang diễn ra ở Vùng I và Khe Sanh, CSBV biết cuộc tấn công qua Hạ Lào sắp sửa tiến hành. [11]
Về phía VNCH. Sau khi nghe đề nghị của Hoa Kỳ; sau khi nghe đại tướng Viên tường trình kế hoạch hành quân mà bộ tư lệnh MACV đã thảo luận với ông, tổng thống Thiệu cho phép soạn thảo kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 719. Kế hoạch hành quân có khái niệm tổng quát như sau: Cuộc hành quân có bốn giai đoạn. Giai đoạn I: Giai đoạn này bắt đầu từ đầu tháng 1, phần lớn do Hoa Kỳ phụ trách. Các đơn vị công binh, Thiết kỵ Mỹ sẽ giải tỏa, tái thiết và thiết lập an ninh trên quốc lộ 9 từ Đông Hà đến Lao Bảo; tái chiếm căn cứ Khe Sanh để làm nơi đổ bộ quân và làm hậu cứ tiền phương bên này biên giới. [12] Giai Đoạn II: Với một cấp số quân tương đương ba sư đoàn, gồm sư đoàn Nhảy dù, sư đoàn 1 Bộ binh, lữ đoàn 1 Thiết kỵ, và Liên đoàn 1 Biệt động quân. Quân Dù và Thiết kỵ sẽ tiến theo trục lộ đường 9, đáng qua biên giới về hướng tây. Trong thời gian đó, một Tiểu đoàn Dù được trực thăng vận nhảy vào một mục tiêu trước mặt, cách biên giới khoảng 12 cây số, có tên là Bản Đông (trên bản đồ hành quân có tên là A Lưới) để thiết lập bộ chỉ huy tại mặt trận. Cùng lúc, hai Tiểu đoàn Dù được trực thăng vận lên chiếm hai đỉnh đồi hướng đông bắc (căn cứ hỏa lực 30) và tây bắc (căn cứ hỏa lực 31) của Bản Đông để thiết căn cứ hỏa lực và bảo vệ mặt bắc của trục tiến quân. Đồng thời, về hướng đông bắc của căn cứ hỏa lực 30, ba Tiểu đoàn Biệt động quân (BĐQ) sẽ thiết lập hai điểm phòng thủ như một tiền đồn quan sát và canh chừng địch quân có thể tràn xuống tiếp viện từ hướng đông bắc. Ở phía nam của trục tiến quân, các Tiểu đoàn của sư đoàn 1 sẽ thiết lập những căn cứ hỏa lực ở cao điểm Co Roc, từ biên giới chạy dài đến Bản Đông để bảo vệ mặt nam của hướng tiến quân. Sau khi các đơn vị đã nằm vào vị trí của họ, quân Thiết kỵ sẽ theo dường số 9, đánh thẳng về Sê Pôn để bắt tay với một lữ đoàn Dù được trực thăng vận vào đó cùng lúc. Ngoài các lực lượng tấn công qua bên kia biên giớ, ở bên này căn cứ Khe Sanh, hai lữ đoàn TQLC sẽ nằm phòng thủ như một lực lượng trừ bị. Giai đoạn III: Với giả định quân Dù chiếm được Sê Pôn, và quân Thiết kỵ tiến vào bắt tay quân bạn, quân Dù sẽ lục soát chung quanh Sê Pôn; các đơn vị của sư đoàn 1 sẽ lục soát các khu vực phía nam Sê Pôn. Giai Đoạn IV: Khi được lệnh lui quân, các lực lượng tấn công sẽ lui quân theo hai kế hoạch. Theo kế hoạch 1, Dù và Thiết kỵ sẽ rút về Bản Đông. Từ đó, hai lực lượng này sẽ bảo vệ sư đoàn 1 vừa lục soát các căn cứ địch, vừa tiến về hướng đông nam để rút về biên giới. Trong khi đó, quân BĐQ ở hướng đông bắc sẽ nhập vào quân Thiết kỵ và rút ngược về biên giới theo quốc lộ 9. Các đơn vị TQLC sẽ hành quân dọc theo biên giới trong thời gian đó, vừa quấy phá vừa ngăn ngừa những cuộc phục kích có thể xảy ra cho quân bạn. Kế hoạch lui quân 2 chỉ khác 1 ở chỗ quân Dù sẽ tiếp tục nối đuôi theo sau sư đoàn 1 để lục soát căn cứ địch, nhưng thay gì đi theo hướng tây nam về biên giới, hai cánh quân này sẽ theo hướng đông để về đường 9. [13] Tư lệnh của cuộc hành quân là trung tướng Hoànhg Xuân Lãm, đương nhiệm tư lệnh Vùng I. Trừ sư đoàn Nhảy dù (và hai lữ đoàn TQLC nằm trừ bị ở Khe Sanh), tất cả các đơn vị tham gia cuộc hành quân đều là đơn vị cơ hữu của Quân đoàn I. Ngày hành quân được ấn định là sau Tết Tân Hợi.
Giữa tháng tháng 1, bộ tổng tham mưu và MACV cho sĩ quan hành quân ra trình bày kế hoạch với tướng Hoàng Xuân Lãm và trung tướng James W. Sutherland của Quân đoàn XXIV. Ngày 21, cả hai vị tướng bay về Sài Gòn để tường trình kế hoạch chung cho MACV và bộ tổng tham mưu. Cùng ngày, đích thân tướng Lãm trình kế hoạch hành quân cho tổng thống Thiệu duyệt xét. Ngày 25 tháng 1-1970, tin hành quân đánh qua Lào được chánh thức loan báo xuống tận cấp Tiểu đoàn ở một vài đơn vị tham dự. [14]
Sau gần bốn ngày bị đình trệ vì thời tiết, qui luật hành quân từ phía Hoa Kỳ, và tai nạn, hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu vào ngày 8 tháng 2-1971, khi quân Dù và Thiết kỵ băng qua biên giới để tham dự vào một cuộc hành quân qui mô và tốn kém nhất trong lịch sử cuộc chiến. [15]
Trên giấy tờ, kế hoạch hành quân Lam Sơn 719 nhìn rất đơn giản: tin tức về các lực lượng địch quân đang có mặt trong vùng không quá nhiều để gây nhiều lo lắng cho ban tham mưu soạn thảo; không ảnh cho thấy địa hình phức tạp, nhưng không phức tạp đến độ gây trở ngại cho quân Thiết kỵ. Và với những hứa hẹn hỏa lực yểm trợ từ Không quân chiến thuật và chiến lược của Hoa Kỳ, ban tham mưu không thấy cuộc hành quân sẽ gặp một trở ngại nào. Sự thành công trong lần đánh qua Cam Bốt đã làm cho ban tham mưu soạn thảo hành quân lạc quan hơn.
Nhưng tin tức tình báo và hình chụp từ trên trời không thể nhìn thấy tất cả những gì được che đậy dưới những cánh rừng dầy của Hạ Lào. Tình báo cũng không thể nào cập nhật được sự di động liên tục của các đơn vị đối phương. Sự ước lượng về quân số của CSBV trong vùng hành quân chỉ chính xác trong thời điểm soạn thảo kế hoạch; và khi không ảnh cho thấy đường số 9 tuy bị hư nhiều vì bom nhưng còn di chuyển được thì chỉ là trên ...hình ảnh. Trên thực tế, hai chi tiết quan trọng này khác xa ước tính. Trong thời gian soạn thảo, kế hoạch ước lượng CSBV chỉ có khoảng 22 ngàn quân ở chung quanh Sê Pôn. Đến đầu tháng 1, ước lượng về cấp số quân của đối phương trong vùng hành quân được tăng lên tương đương ba sư đoàn rưỡi (bằng quân số dưới tay của của Quân đoàn 70B). Nhưng đến thượng tuần tháng 2, khi quân đội VNCH chuẩn bị băng qua biên giới, CSBV đã có khả năng quy động một số quân tương đương với bảy sư đoàn để chuẩn bị ứng chiến trong vùng hành quân. [16]
Về trục lộ di chuyển và địa hình của mặt trận: Không ảnh không cho thấy nhiều chỗ hư nát của đường số 9 vì bị cỏ và lá thấp bao phủ. Đường số 9 là một con đường bị bỏ hoang gần 20 năm (khúc từ biên giới Việt Nam đi về Sê Pôn), tất cả cầu trên đường đã bị Không quân Mỹ đánh sập. Những trận oanh kích ngày đêm đã cắt con đường ra từng đoạn bằng những hố bom sâu năm, bảy thước. [17] Địa hình Hạ Lào không thuận lợi nếu không nói bất lợi cho chiến xa và quân Thiết kỵ. Đường số 9, với bên phải là rừng cây dầy dặt, bên trái là sông Sê Pôn với rừng và chỏm đá cao dọc theo bờ sông, giới hạn tầm quan sát của Thiết kỵ. Địa hình dọc theo trục lộ lại càng giới hạn chiến thuật sử dụng chiến xa khi chiến xa không thể rời được lộ chánh để nới rộng địa bàn hoạt động hay trinh sát, canh chừng vòng đai an ninh xa hơn. Không như ở mặt trận Cam Bốt, địa hình ở Hạ Lào không phải là địa hình để có thể dàn một mặt trận dài sáu cây số hàng ngang, với 200 xe tăng và thiết vận xa, mỗi chiếc cách nhau 25 mét, và cứ thế tác xạ và tiến quân. [18]
Tuần đầu tiên của cuộc hành quân mọi chuyện xảy ra như dự định. Nhảy dù và BĐQ chiếm các tọa độ và thiết lập các căn cứ hỏa lực như được chỉ định; bộ chỉ huy mặt trận đã nằm ở Bản Đông hai ngày trước khi quân Thiết kỵ tiến 12 cây số từ biên giới đến để gia nhập họ. Ở phía đông nam Bản Đông, lính Bộ binh của sư đoàn 1 đã an tọa trên những cao điểm, nhìn về hướng nam canh giữ.
Nhưng đến tuần thứ hai, tình hình thay đổi: sau khi xác định được vị trí của các lực lượng VNCH và sau khi đã viện quân đầy đủ, CSBV chuẩn bị tấn công vào các cao điểm và căn cứ hỏa lực của VNCH.
Trong khi đó, lực lượng Thiết kỵ từ Bản Đông tiến về mục tiêu Sê Pôn ở hướng tây được chừng năm cây số thì gặp sức kháng cự. Căn cứ hỏa lực 30 bắt đầu bị pháo vào ngày 16 tháng 2. Ở hướng tây của căn cứ 30, quân CSBV phối hợp chiến xa và Bộ binh để tấn công trực diện điểm phòng thủ của đồi 31, nơi đặt bộ chỉ huy của lữ đoàn 3 Nhảy dù. Ở phía nam, tất cả cứ điểm của sư đoàn 1 Bộ binh đều bị tấn công lẻ tẻ. Vấn đề tiếp tế cho các căn cứ hỏa lực bằng trực thăng càng lúc càng khó khăn hơn vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Không ảnh và phi cơ quan sát cho biết CSBV có một lực lượng tương đương 19 Tiểu đoàn phòng không, trang bị khoảng 525 đến 575 súng phòng không các loại 12.7, 23, 37, hay đôi khi 57 ly. [19] Cuộc tiến quân về Sê Pôn chậm lại theo đà kháng cự của đối phương. Ngày 16 tháng 2, tướng Viên và tướng Abrams bay ra bộ tư lệnh tiền phương ở Đông Hà để họp với tướng Lãm và Sutherland. Trong cuộc họp này họ thay đổi kế hoạch hành quân: Các lực lượng Bộ binh của sư đoàn 1 sẽ nhảy chiếm các ngọn đồi cao ở phía nam sông Sê Pôn để giúp cho quân Dù và Thiết kỵ tiến nhanh hơn về mục tiêu Sê Pôn. Ba ngày sau, ngày 19, tổng thống Thiệu cũng bay ra Đông Hà để nghe thuyết trình tình hình chiến sự. Sau khi nghe tình hình, tổng thống Thiệu ra lệnh cho tướng Lãm tiến quân chậm lại và bỏ nhiều thì giờ hơn lục soát các kho chứa quân nhu dụng ở hướng tây nam Bản Đông. Nhưng sự đình trệ này đã giúp cho đối phương có thêm thì giờ củng cố nhân lực và tập trung hỏa lực để phản công. [20] Đến thời điểm đó VNCH có hơn 10.600 quân ở Hạ Lào, đối diện với 35 ngàn quân của năm sư đoàn CSBV. [21]
Ngày 18 tháng 2, địch tấn công mạnh vào hai căn cứ BĐQ ở hướng đông bắc do Tiểu đoàn 21 và 39 trấn giữ. Ngày hôm sau CSBV pháo kích để cầm chân Tiểu đoàn 21, trong khi nỗ lực tấn công Tiểu đoàn 39. Ngày 20, chịu không nổi áp lực địch, Tiểu đoàn 39 di tản khỏi cao điểm và rút về căn cứ của Tiểu đoàn 21 BĐQ ở cách đó vài cây số. Nhưng hai ngày sau, chính Tiểu đoàn 21 cũng được lệnh di tản về căn cứ hỏa lực 30 của Nhảy dù. Đến đây, trừ căn cứ hỏa lực 30 và 31, CSBV đã gần như làm chủ các cứ điểm ở hướng bắc của Bản Đông và đường số 9. [22] Mười một giờ sáng ngày 25, sau một trận pháo kích tàn khốc, CSBV sử dụng chiến xa và Bộ binh ồ ạt tấn công căn cứ hỏa lực 31 từ bốn hướng. Khoảng năm giờ chiều, căn cứ 31 thất thủ. Ngày 3 tháng 3, Tiểu đoàn 2 Nhảy dù, sau hai ngày không được tiếp tế nước và lương thực, và với số thương vong khoảng 200 quân, được lệnh di tản bằng đường bộ ra khỏi căn cứ hỏa lực 30. Hướng bắc của đường 9 bây giờ hoàn toàn nằm trong tay CSBV. [23]
Thấy sự kháng cự của địch càng lúc càng mạnh, ngày 28 tháng 2 tổng thống Thiệu bất thần ra lệnh sư đoàn TQLC nhảy vào Hạ Lào để thay thế sư đoàn Nhảy dù tại mặt trận. Nhận được quân lệnh thay quân rất khó khăn đó, trưa ngày 28 tuớng Hoàng Xuân Lãm bay về Sài Gòn để bàn thảo tình hình với tổng thống Thiệu. Thay gì dùng TQLC thay thế quân Dù, tướng Lãm đề nghị, Quân đoàn I sẽ dùng Bộ binh của sư đoàn 1 nhảy vào Sê Pôn; dùng quân Dù bảo vệ hướng bắc và đường số 9; hai lữ đoàn TQLC sẽ thay vào chỗ của sư đoàn 1 ở các cao điểm hướng nam đường 9. Sau khi nghe kế hoạch trình bày, tổng thống Thiệu chấp nhận đề nghị của tướng Lãm. [24] Với sự tham dự của sư đoàn TQLC và một vài đơn vị BĐQ và Bộ binh, quân đội VNCH bây giờ có gần 17 ngàn quân ở mặt trận Hạ Lào.
Từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 3, các Tiểu đoàn của hai trung đoàn 1 và 2 của sư đoàn 1 tiếp tục nối đuôi nhau chiếm những cao điểm ở phía nam đường số 9, dẫn dài về mục tiêu Sê Pôn. Ngày 6 và 7, một đoàn trực thăng 120 chiếc chở hai Tiểu đoàn 2 và 3 của trung đoàn 2 nhảy vào Sê Pôn. Chiếm được mục tiêu, các đơn vị chia nhau lục soát chung quanh căn cứ quan trọng nhất trên con đường chuyển vận, xâm nhập vào nam của CSBV. Ngày 12 tháng 3 quân đội VNCH bắt đầu chuẩn bị rút quân khỏi địa phận Hạ Lào. [25] Cuộc rút quân không phải không khó khăn nhất là rút quân khi mặt trận vẫn còn tiếp diễn. Một vài đơn vị bị thiệt hại nặng khi họ bị chận đánh trên đường về. [26] Cuộc hành quân Lam Sơn 719 được coi như kết thúc khi những đơn vị cuối cùng của VNCH bước về bên này biên giới vào ngày 24 tháng 3-1971.
Số thương vong chết và bị thương của VNCH trong cuộc hành quân là 8.300 quân, và 651 mất tích. Số tử thương phía cộng sản ước lượng hơn 16.000 người. [27] Số lượng vũ khí, quân nhu dụng bị tịch thu và phá hủy trong trận Hạ Lào bằng ba lần số lượng trong cuộc hành quân qua Cam Bốt năm 1970.
Cuộc hành quân 45 ngày đánh qua Lào, ngoài sự thiệt hại gần 50 phần trăm số quân tham dự, đã không hoàn tất được mục tiêu hoạch định: thời gian hành quân không kéo dài 90 ngày như dự định để có thể lục soát tận tường các kho dự trữ của CSBV ở chung quanh Sê Pôn; và kế hoạch truy lùng ngược về các căn cứ nằm trong vùng Co Roc, gần sát biên giới Việt Lào cũng không thực hiện được. Cuộc hành quân có nhiều khiếm khuyết. Nhưng những khiếm khuyết đó không đến từ sự chiến đấu của tất cả các đơn vị tham dự, mà đến từ những lỗi lầm của ban tham mưu lúc soạn thảo kế hoạch hành quân.
Trái với những tin đồn là tình báo Bắc Việt có được trong tay tin tức và chi tiết cuộc hành quân từ lúc được phác họa. Trên thực tế, cuộc hành quân được tổ chức quá hấp tấp, quá lộ liễu, để có thể che mắt đối phương. Căn cứ và phi trường Khe Sanh bị bỏ hoang từ tháng 7-1968, nhưng đến cuối tháng 1-1971 thì công binh Hoa Kỳ trở lại sửa chữa, thiết lập phi đạo để cung ứng cho phi cơ vận tải chiến lược (C-130). Quân Thiết kỵ và Không Kỵ Mỹ bắt đầu thiết lập an ninh trên trục lộ Đông Hà-Khe Sanh ...các phi trường ở tuyến đầu Vùng I nhộn nhịp với những chuyến phi cơ vận tải đổ quân từng vùng khác về. ... Với những họat động quân sự đó, một người mù cũng có thể đoán được ý định của đối phương. Thêm vào đó, sau cuộc hành quân đánh như chẻ tre qua Cam Bốt, sau khi lực lượng đặc biệt Mỹ nhảy thẳng vào Sơn Tây như chổ không người, từ giữa năm 1970 giới lãnh đạo Bắc Việt đã báo động cho tất cả các mặt trận và bộ tư lệnh phải lo phòng thủ những cuộc tấn công của quân đội VNCH vào lãnh địa của họ. Sự đề phòng và bảo vệ con đường chuyển vận sinh tử ở Hạ Lào là chuyện đương nhiên.
Ban tham mưu soạn thảo kế hoạch hành quân coi thường sức kháng cự, và ước đoán quá thấp cấp số của CSBV đang hay sẽ có mặt ở vùng hành quân. Trái với những đơn vị cộng sản mà quân lực VNCH đối diện ở Cam Bốt (ba sư đoàn địa phương 5, 7, và 9 của Việt Cộng), các sư đoàn có mặt ở Hạ Lào là các sư đoàn chính qui, được trang bị nhiều hơn là đầy đủ, với một nhiệm vụ sống còn là phải bảo cái yết hầu của con đường xâm nhập vào Nam. Sau khi đã mất những cứ địa bên Cam Bốt, bây giờ nếu CSBV mất luôn những cứ địa ở Hạ Lào thì cuộc chiến kể như thua. Vì lý do đó, dù bị thiệt hại nặng, CSBV phải bảo vệ Hạ Lào cho đến người cán binh cuối cùng.
Địa hình ở Hạ Lào không những bất lợi cho chiến xa và Thiết kỵ, mà còn bất lợi luôn cho vấn đề chuyên chở và yểm trợ bằng không lực: trời chỉ quang đãng từ mười giờ sáng đến ba giờ trưa. Trước hay sau giờ đó, mây mù bao phủ toàn vùng và vấn đề tiếp tế hay yểm trợ bằng trực thăng không thể nào thực hiện được. Và dù thời được tiết quang đãng, tìm một chổ đáp ở rừng núi Hạ Lào không dễ: lõm rừng nào trống trải, thích hợp, để đáp trực thăng thì địch đã ghi tọa độ sẵn hay chĩa thẳng (súng) phòng không vào đó. Khi thấy trực thăng sà xuống thì họ bắn hay pháo vào mục tiêu đã định. 82 trực thăng bị hủy diệt hoàn toàn và 618 chiếc khác bị trúng đạn, cho thấy cường độ phòng không của địch ở mặt trận. Hỏa lực phòng không giới hạn tiếp tế: quân đồn trú trên các căn cứ hỏa lực bị thiếu tiếp tế đạn, nước và lương thực hai, ba ngày là chuyện thường. Những ước tính về thời tiết và địa hình thiếu sót đến độ quân phục của lính hành quân không đủ ấp để chống lại cái lạnh của Hạ Lào về đêm. [28]
Cuộc hành quân không có một hệ thống chỉ huy và điều khiển suôn sẻ và trôi chảy ở cấp Quân đoàn trong ba tuần lễ đầu tiên hai mươi mốt ngày đầu quan trọng của cuộc hành quân. Trong khi bộ tư lệnh tiền phương của Quân đoàn XXIV nằm ở Quảng Trị, bộ tư lệnh tiền phương của Quân đoàn I thì ở Đông Hà. Bộ tư lệnh chiến thuật hỗn hợp Việt Mỹ ở tại Khe Sanh thì thiếu một thẩm quyền cao cấp để quyết định lập tức cho mặt trận. Quân đoàn XXIV không có sĩ quan đại diện ở Khe Sanh để điều động hai đơn vị chánh đang hỗ trợ cho quân đội VNCH là Liên đoàn 101 Không lực và Liên đoàn 108 Pháo binh. Cố vấn Mỹ của các sư đoàn VNCH không có thẩm quyền xin yểm trợ trực tiếp và phải chuyển yêu cầu ngược về bộ tư lệnh Quân đoàn XXIV ở Quảng Trị. Ở một vài trường hợp, cố vấn sư đoàn không trực tiếp yểm trợ cho sư đoàn của mình, hay không bắt được liên lạc với các cánh quân của sư đoàn trong giây phút sống chết nhất. [29] Sự hợp tác và yểm trợ của Hoa Kỳ rất rời rạc và thiếu nhiệt tình vì chính hai quân chủng Lục quân Và Không quân Hoa Kỳ cũng có nhiều dị biệt khi làm việc chung: tất cả yểm trợ của Không lực 7 đều do Lục quân (Quân đoàn XXIV) điều khiển và hoạch định, trong khi nhiệm vụ của Không quân rất quan trọng với hỏa lực của B-52 hay những loại bom 15 ngàn cân (Anh) dùng để dọn bãi đổ bộ quân. Ngay từ lúc soạn thảo kế hoạch hành quân, hai quân chủng đã cãi nhau về vai trò của không lực. Không quân lưu ý Lục quân là trực thăng của họ không đủ để áp đảo hỏa lực phòng không của CSBV. Lục quân thì cho rằng Không quân đã quan trọng hóa và phóng đại khả năng phòng không của đối phương. Sau khi cuộc hành quân khai diễn, Không quân có đại diện ở bộ chỉ huy chiến thuật, nhưng phải chờ lịnh yêu cầu của Lục quân từ Quân đoàn XXIV. Hai tuần sau ngày hành quân, Liên đoàn 101 Không vận lâm vào tình trạng không đủ trực thăng vận chuyển, và hỏa lực từ trực thăng cũng không đủ mạnh để áp đảo phòng không hay phá hủy xe tăng địch như Không quân đã tiên đoán. Đến giờ phút đó, khi bộ tổng tham mưu của VNCH lên tiếng phàn nàn thì MACV mới cho người từ Sài Gòn bay ra Vùng I để dàn xếp tình trạng chỉ huy và điều khiển ở Khe Sanh. Sự vắng mặt của một sĩ quan cao cấp của MACV ở bộ tư lệnh tiền phương Quảng Trị hay bộ chỉ huy chiến thuật Khe Sanh có thể là một yếu tố thắng thua của cuộc hành quân. Trên cương là tư lệnh MACV, đại tướng Abrams không nhiều ít phải chịu trách nhiệm về sự thiếu sót trong lối tổ chức chỉ huy và điều khiển của cuộc hành quân. [30] Khi tin tức về những lộn xộn của cuộc hành quân được mật báo ngược về Hoa Thịnh Đốn, trong một phút nổi giận tống thống Nixon lên tiếng đòi cách chức đại tướng Abrams. [31] Với hệ thống chỉ huy và điều khiển thiếu trôi chảy và gián đoạn đó, sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã không được đúng mức và đầy đủ như đã phác họa trong kế hoạch một sự kiện mà tất cả các nhà quan sát quân sự đều công nhận.
Ước lượng sai lầm quan trọng khác là sự chênh lệch giữa lực lượng tấn công và quân phòng thủ. Trên lý thuyết quân sự, thông thường quân tấn công cần một lực lượng đông hơn quân phòng thủ ít nhất là ba lần để nắm phần thắng. Nên nhớ, vào năm 1966 khi tướng Westmoreland soạn thảo hành quân đánh qua Lào, kế hoạch của ông đòi hỏi ít nhất là bốn sư đoàn quân tác chiến, cộng với yểm trợ không lực của tất cả bốn quân binh chủng. [32] Khi tấn công qua Lào, quân đội VNCH không những không có số quân tương đương mà lại ít hơn quân phòng thủ hai lần. Ở một vài trận đánh như trận ở căn cứ Ranger North, Tiểu đoàn 39 BĐQ phải đối chọi với một lực lượng đông gấp sáu đến tám lần. [33]
Trong năm 1971, các giai đoạn Việt Nam hóa cuộc chiến gần như là hoàn tất. Quân đội VNCH nhận lãnh gần như hầu hết nhiệm vụ chiến đấu từ các đơn vị Mỹ. Họ chiến đấu không thua bất cứ đơn vị nào của đối thủ ở chiến trận nếu họ có được cơ hội. Và quân đội VNCH có cơ hội chứng minh khả năng tác chiến vào năm 1972 khi họ đóng vai quân phòng thủ và đánh bại 14 sư đoàn quân tấn công của CSBV. Nhưng trong trận đánh qua Hạ Lào vào mùa xuân 1971, quân lực VNCH nói chung, cùng một thời gian cố gắng nhận lãnh một trách nhiệm vượt xa khả năng họ có trong lúc đó. Quân lực VNCH rơi vào tình trạng mà đô đốc John McCain, tư lệnh quân đội Hoa Kỳ Thái Bình Dương, đã lưu ý hơn một năm trước: “Quá tham vọng; tiến nhanh quá [chương trình Việt Nam hóa và và bao thầu trách nhiệm] sẽ tự hại mình.” [34] Quân đội VNCH phải đánh hai mặt trận lớn cùng một lúc với tất cả lực lượng tinh nhuệ có trong tay: 17.000 quân ở Hạ Lào và 21.000 quân ở Cam Bốt hai miếng ăn quá lớn để có thể nuốt và tiêu hóa cùng một lúc. Nhưng đối diện với sự nguy hiểm thường trực mà CSBV đặt trước mặt, quân đội VNCH không có chọn lựa nào khác hơn là đánh. Nguy hiểm, chết, có thể thất bại, nhưng phải đánh.
Cuối năm 1971 quân đội Hoa Kỳ còn 139 ngàn quân ở Việt Nam. Với tất cả trách nhiệm tác chiến giao lại cho quân đội VNCH, số thương vong của Hoa Kỳ trong năm 1971 giảm đi rất nhiều so với những năm trước: với 1.381 quân nhân tử thương và 4.767 bị thương. Nhưng bên phía VNCH, tương tự như lời một chính trị gia Mỹ đã nói, dù nhìn ở khía cạnh nào, chương trình Việt Nam hóa chỉ là một kế hoạch thay đổi màu da của tử sĩ. Năm 1971 màu da của những tử sĩ ở chiến trường Việt Nam vàng nhiều hơn trắng: năm đó quân lực VNCH có 22.738 tử sĩ. Ở phía bên kia, CSVN có hơn 98 ngàn quân thiệt mạng. [35]


*

Sau khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã chấm dứt; sau khi những báo cáo kết quả hành quân được trình lên bàn giấy ... Abrams vẫn còn bực tức với ban tham mưu, với Không lực 7, với Quân đoàn XXIV và cả với chính ông. Trong một lần họp với các tướng lãnh MACV, Abrams noi bóng gió là ông thấy ái náy khi những gì ông hay những sĩ quan dưới quyền ông hứa hẹn và không giữ vẹn lời hứa. Có lần, khi nghe một trung tướng kể lại chuyện ông ta đã bội hứa với trung tướng Đỗ Cao Trí ra sao, tướng Abrams thông cảm và đồng thời cũng nói cho viên tướng thuộc hạ sự khó chịu khi ông phải nhận lệnh từ Hoa Thịnh Đốn để thúc dục và ép buộc phía VNCH thực hiện một số kế hoạch mà Hoa Thịnh Đốn muốn thực hiện. “Nhưng cũng còn đỡ hơn, so với những gì tôi thấy đại sứ Bunker bị [Hoa Thịnh Đốn] bắt phải thương lượng [với VNCH],” ông đại tướng tiết lộ với người sĩ quan phụ tá. [36]
Nói về người Mỹ và chiến tranh Việt Nam mà không nói chút gì về đại tướng Creighton Williams Abrams là một điều thiếu sót. Abrams cũng phục vụ ở Việt Nam một khoảng thời gian năm năm như người tiền nhiệm - và bạn đồng khóa từ trường võ bị West Point - là đại tướng William Westmoreland. Nhưng nếu chúng ta so sánh hai người về tư cách và chiến thuật chiến lược áp dụng trong cuộc chiến, Westmoreland và Abrams hoàn toàn khác nhau.
Sanh năm 1914 tại Springfield, Massachutsettes, trong một gia đình đủ ăn. Được theo học và ra trường võ bị West Point năm 1936 - khóa của những vì sao - và chọn binh chủng Thiết giáp. Hai mươi bảy tuổi và mang đại úy khi Hoa Kỳ gia nhập thế chiến thứ II. Ông chỉ huy một Tiểu đoàn thiết giáp và phục vụ dưới quyền của tướng Patton khi Đồng minh đổ bộ lên châu Âu. Abrams được cấp trên chú ý khi Tiểu đoàn của ông phá vỡ đường giây của Đức để giải cứu sư đoàn 101 Nhảy dù ở trận Bastogne. Sau thế chiến thứ II, Abrams được mang lon đại tá thực thụ khi còn 30 tuổi. Trong chiến tranh Đại Hàn, Abrams lần lược được chọn làm tham mưu trưởng cho ba Quân đoàn tham chiến ở đó (Quân đoàn I, IX, và X). Làm việc ở các Quân đoàn Abrams có dịp phục vụ dưới quyền của những đại tướng có tiếng như Maxwell Taylor, Bruce Clarke. Lên chuẩn tướng năm 1958 (một trong ba sĩ quan ra trường năm 1936 lên tướng đầu tiên) khi đang phục vụ ở trường Thiết giáp Fort Knox; rồi lên thiếu tướng và được chỉ định qua Đức coi sư đoàn 4 Thiết giáp. Trở về Mỹ phục vụ ở Ngũ Giác Đài; được thăng trung tướng năm 1963 và trở qua Đức lần thứ hai để làm tư lệnh Quân đoàn V. Chưa đầy một năm sau, Ngũ Giác Đài gọi Abrams trở lại Mỹ, gắn thêm một sao nữa và đề cử làm tư lệnh Tư lệnh Phó Lục quân - ông được chọn trên đầu 45 sĩ quan cấp trung và đại tướng thâm niên hơn ông cho chức vụ đó. Trong lúc đó, người bạn cùng lớp West Point với ông, Westmoreland, đã là đại tướng và mới vừa nhận chức tư lệnh MACV ở Việt Nam. [37] Tháng 5 năm 1967, Abrams được đề cử qua Việt Nam làm tư lệnh phó cho Westmoreland. Một năm sau, ông thay Westmoreland làm tư lệnh MACV.
Nhìn ở bên ngoài, Abrams và Westmoreland hoàn toàn khác nhau: Westmoreland ăn bận chải chuốt, tươm tất; trong khi quân phục của Abrams thì rất lè phè, nhăn nhíu. Một ký giả khi nhìn thấy ông ăn bận, đã gọi ông là “một cái giường ngủ chưa dọn đang hút xì gà.” Sau lưng ông, những người lính gọi ông qua hỗn danh là ông “thượng sĩ già.” [38] Đúng, đó là Creighton Williams Abrams. Về tánh tình và lối chỉ huy: Westmoreland mềm mỏng, ngoại giao và biết dấu ý nghĩ, tình cảm của mình qua lời nói; trong khi Abrams thì la hét, bùng nổ như một hỏa diệm sơn khi chuyện xảy ra không vừa ý. Nhưng lính dưới quyền thương và kính trọng ông, vì sau cơn bùng nổ ông biết hạ giọng - và nếu cần, nói lời xin lỗi - nếu nhận thấy mình đã đi quá trớn. [39]
Về chiến thuật, chiến lược áp dụng vào cuộc chiến: Abrams và người tư lệnh tiền nhiệm hoàn toàn khác nhau - khác nhau đến độ Abrams thấy rất khó khăn và cô đơn trong thời gian hơn một năm làm tư lệnh phó cho Westmoreland. Tuy không hợp nhau về lối đánh nhưng Abrams không bao giờ lên tiếng phản đối người tư lệnh của mình. Trong những lúc tâm sự riêng với bạn bè đồng cấp, Abrams nói ông phải trung thành và ủng hộ Westmoreland trong tư cách là tư lệnh phó. [40] Như đã nói qua, chiến thuật và chiến lược của Westmoreland là truy lùng và tiêu diệt; đánh nhanh, đánh mạnh bằng những đơn vị chủ lực quân đội Hoa Kỳ. Từ giữa năm 1964 đến đầu năm 1968, Westmoreland không chú tâm đến quân đội VNCH trong ý nghĩa ông không chú trọng về các phương diện như tân trang và hiện đại hóa vũ khí, hay đặt nặng vấn đề huấn luyện quân đội VNCH, hay quan trọng các kế họach bình định và bảo vệ an ninh ở Nông thôn. Những cuộc hành quân hỗn hợp Việt Mỹ được thực hiện rất ít dưới thời Westmoreland. Đối với Westmoreland, cuộc chiến được quản trị và tiến hành bởi hai quân đội riêng biệt của Việt Nam và Mỹ.
Khi Abrams vừa lên thay Westmoreland, theo một sĩ quan cao cấp kể lại, thì chiến thuật và chiến lược của cuộc chiến thay đổi “trong vòng 15 phút.” [41] Chiến thuật của Abrams không chú trọng vào truy lùng và triệt tiêu, mà là tảo thanh và giữ đất; chiến lược của Abrams không còn Mỹ đánh theo lối Mỹ, Việt đánh theo lối Việt, mà là một cuộc chiến chung. [42] Abrams đề nghị nhiều cuộc hành quân phối hợp Việt Mỹ; cũng như ông muốn những báo cáo hàng tuần về tình hình quân sự phải nói đến tình hình và thiệt hại của VNCH. Ngay từ những buổi họp đầu tiên sau khi nhậm chức, Abrams quan tâm đến cơ cấu huấn luyện và vũ khí của quân đội VNCH. Ông nói nếu chúng ta (người Mỹ) muốn quân đội VNCH vững mạnh để chống lại cộng sản, thì ít ra phải trang bị cho họ đúng mức (nghĩa là có hỏa lực tương đương như quân Bộ binh Mỹ). Trong những buổi họp Abrams thường xuyên nhắc tên đến các đơn vị và sĩ quan của quân đội VNCH, cho sĩ quan tham mưu nghe. Vì Abrams thăm viếng các đơn vị Việt Mỹ ngoài mặt trận thường xuyên, ông có kiến thức rất tường tận về chuyện xảy ra ngoài mặt trận. Đôi khi ông tranh luận về sự giỏi dở của sĩ quan VNCH với các thuộc tướng, khi những bình phẩm của họ đi ngược lại sự quan sát của ông. [43] Và khi nói về người dân miền Nam Việt Nam, về sự hy sinh của họ, Abrams đã không ngần ngại nói trước mặt các sĩ quan cao cấp là chính phủ Hoa Kỳ không bao giờ hiểu được những hy sinh và đau khổ người dân và chiến sĩ miền Nam đang chịu đựng trong cuộc chiến đang xảy ra. [44]
Nhưng cuộc chiến mà Abrams nhận lãnh trong năm năm còn lại là một cuộc chiến khó khăn. Khó khăn trong ý nghĩa ông không còn được đánh trận theo như ý ông muốn. Khó khăn trong ý nghĩa ông phải nhận lãnh nhiệm dụ thu dọn chiến trường của người Mỹ và bàn giao chiến trường lại cho quân dân miền Nam. Trong những năm còn lại của cuộc chiến, Abrams nhìn những gượng ép mà chính phủ Hoa Kỳ đang cố gắng dàn xếp để rút ra khỏi cuộc chiến; những bó buộc chính trị, tài chánh, mà cấp trên bắt ông phải thi hành... riết rồi ông cũng buông tay đầu hàng, thi hành theo chỉ thị. Trong hai năm 1970-71, thẩm quyền dân sự ở Hoa Thịnh Đốn viếng thăm bộ tư lệnh MACV ở Sài Gòn thường xuyên hơn. Viếng thăm là tiếng lịch sự, thật ra thẩm quyền dân sự đến bộ tư lệnh để thông báo ngân quỹ bị cắt giảm; chi phí cho cuộc chiến phải được giới hạn. Những chi phí được giới hạn đến từ đạn Pháo binh, phi vụ oanh tạc chiến thuật và chiến lược, hay đến từ những đợt rút quân chi phí cho một quân nhân Mỹ ở Việt Nam tốn kém hơn ở tại lục địa Mỹ. Năm 1970, khi ngân sách cho chiến trường Việt Nam đã bị giảm xuống còn 11 tỉ (so với khoảng 30 tỉ của năm 1967-68), nhưng giới chức dân sự ở bộ Lục quân vẫn muốn MACV phải cắt giảm hơn nữa để phù hợp với chỉ thị của Bộ quốc phòng. Khi Abrams và MACV phản đối là, ở chiến trường họ không thể nào đánh giặc theo sự giới hạn của tiền bạc; hơn nữa, họ đã cắt giảm tối đa rồi... Nhưng phản đối chỉ để phản đối, lệnh là lệnh. Abrams phải tìm mọi cách để thi hành. [45]
Nếu Westmoreland có những khó khăn của ông ta trong thời điểm 1964-1968 (bị bó tay với ban tham mưu liên quân và Hoa Thịnh Đốn về chiến thuật chiến lược cho cuộc chiến Việt Nam; phải đối đầu với tình hình quân sự và những cuộc đảo chánh liên tục trong giai cấp tướng lãnh VNCH; cố gắng giàn xếp những xáo trộn chính trị dân sự/tôn giáo ở Vùng I), thì Abrams cũng có những “vấn nạn” trong những năm 1968-1972 khi ông nắm quyền tư lệnh. Một trong những khó khăn mà Abrams phải đối đầu ở Việt Nam không nhất thiết thuộc về phạm vi quân sự, mà là tinh thần chiến đấu của những người lính dưới quyền ông. Từ sau năm 1969, tinh thần chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam thật ra trên toàn thế giới không còn nữa. Tệ nạn về quân phong quân kỷ lan tràn ở nhiều đơn vị: lính tìm các ám hại sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp; sĩ quan quay mặt làm ngơ với những quân nhân ba gai vì chỉ muốn làm cho xong nhiệm vụ để được thuyên chuyển về hậu cứ hay về nước (sĩ quan Mỹ được thuyên chuyển ra khỏi các đơn vị tác chiến, về làm việc ở văn phòng sau sáu tháng ngoài mặt trận). Những năm kế tiếp, 1970-1971, tình trạng bất tuân quân lệnh, bất tuân thượng cấp xảy ra hàng ngày; nạn hút sách nghiện ngập, và nạn ẩu đả giửa các toán lính khác màu da xảy ra như cơm bữa. Tinh thần tác chiến và ý thức hệ về cuộc chiến của các binh sĩ (ở đây chúng ta nhấn mạnh chữ binh sĩ là những tân binh hay lính ở cấp bực thấp nhất) ở Việt Nam càng tồi tệ hơn, khi đa số đến từ giai cấp lao động, thất học, và thất nghiệp. Ở Mỹ, trong thời gian chiến tranh Việt Nam đang xảy ra, Nha Động viên Hoa Kỳ cũng cho phép nhiều hình thức hoãn dịch: hoãn dịch vì lý do gia cảnh, học vấn, sức khoẻ, hay tài nguyên quốc gia (nhân viên quan trọng trọng trong cơ sở nào đó). Và với một lý do này hay lý do nọ, giới trung lưu và giới có tài sản đều “chạy” được một lý do để xin hoãn dịch. Cuối cùng, đa số tầng lớp bị bắt lính, bị đưa qua Việt Nam tham chiến, là tầng lớp thuộc giai cấp thấp nhất, không còn lối thoát, hay cơ hội lối tiến thân trong xã hội Hoa Kỳ. Cái nhìn này không những đến từ những nhà xã hội học, mà còn đến từ chính người tư lệnh của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Một lần, khi nói chuyện với tổng trưởng quốc phòng Melvin Laird về vấn đề tổng động viên, về vấn đề quân dịch, Abrams nói thẳng là, “Chỉ có những công dân Mỹ dốt, nghèo, và da đen, là những người có được hân hạnh hy sinh cho tổ quốc của họ ở Việt Nam.” [46] Ý của Abrams không phải khinh miệt; ý của ông chỉ muốn nói vì không có lệnh tổng động viên cho cuộc chiến, nên phần lớn tân binh là tình nguyện hoặc bị bắt quân dịch. Tân binh tình nguyện thì đến từ giai nằm trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế; tân binh bị bắt quân dịch thì chỉ vì họ không có cơ hội đi học lên tiếp để được hoản dịch về lý do học vấn. Ý của Abrams là vậy.
Mới nhận được bộ tư lệnh chưa đầy một năm, và trong khi chương trình Việt Nam hóa còn trong thời kỳ phôi thai, Abrams đã thấy Hoa Thịnh Đốn muốn ông phải làm gì trong thời gian ông cầm cây baton chỉ huy: phải tìm mọi cách để giảm thiểu tối đa thương vong của quân đội Mỹ. Vào hai tuần đầu tiên của tháng 5-1969, một lữ đoàn Nhảy dù Mỹ bao vây một trung đoàn CSBV ở vùng thung lũng A Shau, ở một cao điểm có tên là Núi Ap Bia, gần biên giới Lào. Các đơn vị CSBV thường vùng cứ địa này để chuẩn bị tập kích Huế và Đà Nẵng. Trong mười một ngày, Nhảy dù Mỹ bao vây chung quanh,chờ cho Pháo binh và phi cơ oanh tạc nát mục tiêu trước khi tấn công đánh chiếm đỉnh đồi. CSBV để lại gần 600 xác trong khi phía Hoa Kỳ chỉ có 70 tử thương. Thông thường, với kết quả như vậy, trận đánh là một chiến thắng, nếu không nói là chiến thắng lớn. Nhưng vào mùa xuân 1969 Nixon vừa lên làm tổng thống với nhiều hứa hẹn về cuộc chiến; và những phong trào phản chiến đang tìm mọi nổ lực để mê hoặc người dân Mỹ chống lại chiến tranh Việt Nam tổn thất như vậy không chấp nhận được. Thế là Báo chí và các phong trào phản chiến đặt tên cho trận đó là trận “Đồi Thịt Bằm” (Hamburger Hill) và phóng đại tổn thất của quân đội Mỹ. Với áp lực của các tổ chức phản chiến, báo chí, và thẩm quyền dân sự từ nội địa, bộ tư lệnh các cấp ở chiến trường Việt Nam hiểu ngầm là họ phải tìm mọi cách giảm thiểu tổn thất về nhân mạng. Nhưng chừng một tháng, sau trận đánh Núi Ap Bia, để bộ tư MACV hiểu rõ ràng hơn, Nixon trực tiếp ra lệnh cho Abrams bằng mọi giá, “giảm thiểu tối đa thương vong của Hoa Kỳ” trong cuộc chiến. [47]
Trong những năm còn lại của chiến tranh Việt Nam, Abrams bị bó tay nhiều hơn người tư lệnh tiền nhiệm. Quân đội Mỹ bị rút đi nhanh hơn ý muốn của ông. Vì phần lớn quân rút đi là Lục quân, chiến trường Việt Nam bấy giờ sống nhờ vào sự yểm trợ hỏa lực của Không và Hải quân. Nhưng hai quân chủng này cũng bị giới hạn bởi chính ngân quỹ riêng của họ: họ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của Abrams nhưng theo giới hạn đã được ấn định sẳn từ ngân quỹ của mỗi quân chủng. Mùa xuân năm 1972 khi CSBV mở cuộc tổng tấn công vào bốn vùng chiến thuật VNCH, dưới tay của Abrams không còn hơn 39 ngàn quân, là một đại tướng Lục quân, Abrams bực tức nhìn cuộc phản công được đảm nhiệm bởi hai quân chủng Hải quân và Không quân. Có hiểu được sự cạnh tranh và hiềm tị giữa các quân chủng trong quân đội Hoa Kỳ thì mới thấy được sự tức giận của Abrams. [48] Cũng trong năm 1972, Abrams không được quyền tác chiến theo kinh nghiệm quân sự của ông, mà phải đánh giặc theo chiều hướng của những kế hoạch chính trị rất ngây thơ đến từ tòa Bạch Ốc. Trong chiến dịch dội bom Linebacker đợt đầu (Linebacker I) từ tháng 5 đến cuối tháng 6-1972, Nixon muốn dùng tất cả B-52 vừa để huy hiếp miền Bắc, vừa trừng phạt CSBV về cuộc tổng tấn công ở Miền Nam, vừa uy hiếp họ trở lại bàn hội nghị. Cũng trong thời gian đó, vào trung tuần tháng 5 ở Kontum, sau khi các căn cứ hỏa lực phía nam và bắc Tân Cảnh, Võ Định, bị thất thủ, CSBV dồn tất cả lực đánh bức Dakto, rồi tiến thẳng về Kontum. Thấy tình thế nguy ngập, Abrams ra lệnh triệu hồi một số phi cơ B-52 đang được chỉ định cho các mục tiêu ở miền Bắc, thay đổi phi vụ để bảo vệ Kontum. Nhờ những phi vụ B-52 này, những đơn vị của sư đoàn 320 CSBV bị chận đứng trước khi họ có thể tập trung quân để tràn ngập Kontum. Khi nghe tin, Nixon rất nóng giận, nói rằng ông cần tất cả B-52 dội bom ở Bắc Việt để tạo một áp lực cho CSBV sợ và trở lại thương lượng thành thật hơn. Abrams trả lời, nếu để mất Kontum thì tất cả những hội đàm chính trị sẽ không còn ý nghĩa nữa. Sau này, có tin đồn nói Nixon ghét Abrams từ đó. [49]
Những buổi chiều sau giờ làm việc, Abrams trở về căn nhà tiền chế là một cái trailer, đặt bên cạnh bộ tư lệnh MACV, bên trong phi trường Tân Sơn Nhất. Ở đó ông nghe nhạc hòa tấu thật lớn và uống rượu tới khuya. Ông giải thích cho một người bạn thân đến thăm là, ông giải trí như vậy để làm dịu cơn nhức đầu vì hàng ngày phải đọc những chỉ thị và quân lệnh ngược ngạo ông nhận từ Hoa Thịnh Đốn về cuộc chiến ông đang chỉ huy. [50]
Rời Việt Nam vào cuối tháng 6-1972, Abrams được đề cử vào chức Tư lệnh Lục quân. Ông chết trẻ; chết vì bệnh ung thư vào năm 60 tuổi trong khi đang tại chức. Abrams có ba người con là sĩ quan; hai người đã phục vụ ở chiến trường Việt Nam. Người con cả giải ngũ với cấp bực chuẩn tướng; người kế là đại tướng; người còn lại là một đại tá hiện dịch. Một lần, có người hỏi người con cả là ông nghĩ sao nếu có người nói lẽ ra đại tướng Abrams xứng đáng hơn cho một cuộc chiến khác, tốt và khá hơn. “Ba tôi không nghĩ như vậy,” Người con trả lời ngay, “ba tôi nghĩ chính người dân miền Nam Việt Nam mới xứng đáng [nhận sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và của thân phụ ông].” [51]


--------------------------------------------------------------------------------

[1]H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries, trang 225-226, 239. Haldeman viết trong nhật ký, ngày 21 tháng 12-1970, Henry Kissinger muốn gặp riêng Nixon để bàn về kế hoạch đánh qua Lào. Cũng theo Haldeman, Kissinger nói ông ta có hẹn với tổng trưởng quốc phòng Laird và tham mưu trưởng liên quân Thomas Moorer vào ngày kế tiếp để bàn luận về kế hoạch đó. Sáu ngày trước (ngày 15), Kissinger đã nói cho Haldeman nghe sơ qua những gì ông ta lập lại vào ngày 21.
[2]Theo Seymour Hersh trong The Price of Power, trang 308, kế hoạch do Alexander Haig đề nghị và hoạch thảo. Ai đề nghị thì không chắc chắn, nhưng có một điều chắc chắn là kế hoạch đến từ phía dân sự ở tòa Bạch Ốc chứ không xuất phát từ giới quân sự. Trong nhật ký của Haldeman, tác giả nói rõ Kissinger muốn nói chuyện (về kế hoạch đánh qua Hạ Lào) với Tổng trưởng Quốc phòng Melvin Laird và tham mưu trưởng liên quân Thomas Moorer trước mặt Tổng thống Nixon, vì Kissinger “muốn Tổng thống trực tiếp ra lệnh, vì họ [phía quân sự] sẽ không thi hành vì không có lệnh trực tiếp từ tổng thống.” Haldeman Diaries, trang 224. Riêng tướng Haig thì nói trong hồi ký là, Ngũ Giác Đài soạn thảo kế hoạch hành quân qua sự thúc dục của Nixon và Kissinger. Đọc, Alexander Haig, Inner Circles, trang 273.
[3]Coi tất cả nhận xét của Kissinger về cuộc hành quân qua Lào trong, Kissinger, White House Years, trang 987-1010. Với nhân cách luôn luôn phủ nhận khi cần chạy tội, Kissinger không nghĩ là qua hai lần nói chuyện (bằng miệng, khác với văn thư, và dễ chối hơn) với Haldeman, những gì Kissinger nói về kế hoạch đánh qua Lào đã được Haldeman ghi lại trong nhật ký. Và Kissinger cũng không ngờ người phụ tá quan trọng là Alexander Haig cũng sẽ viết lại chuyện đó trong cuốn hồi ký của ông ta. Những tài liệu giải mật sau này (mà chúng ta sẽ lần lượt đưa ra) cho thấy Kissinger là người tham dự, nếu không nói hoạch định kế hoạch từ đầu.
[4]Về các đề nghị đánh qua Lào để cắt đứt đường tiếp tế và xâm nhập vào nam, đọc, William Westmoreland, A Sodier Reports, trang 431; Lewis Sorley, A Better War, trang 229; và, Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa, trang 288. Kế hoạch thiết lập phòng tuyến từ Đông Hà sang Savannakhet của Lục Quân được Robert Buzzanco chú trong Masters of War, trang 171.là người tham dự, nếu không nói hoạch định kế hoạch từ đầu.
[5]James H. Willbanks, sđd, trang 96-97.
[6]Căn cứ theo và suy luận từ một số ít tài liệu được giải mật liên hệ đến kế hoạch hành quân đánh qua Lào, chúng ta biết bộ Tư lệnh MACV đã nhận được lệnh soạn thảo cuộc hành quân ít nhất là từ ngày 28 tháng 11-1970. Trong buổi họp “Cập nhật Tin tức Tình báo hàng tuần” (Weekly Intelligence Updates) ở MACV ngày thứ Bảy, 28 tháng 11, trung tướng Fred Weyand ngồi chủ tọa thay cho đại tướng Abrams vắng mặt, có nói một cách úp mở về kế hoạch hành quân qua Lào khi ông nói với các sĩ quan có mặt là tướng Abrams sắp gặp tướng Viên để nói chuyện, và, “bằng cách này hay cách nọ, chúng ta phải nói chuyện với ông ta [đại tướng Viên] về chiến lược này. Hoa Thịnh Đốn giao trách nhiệm này cho chúng ta và kế hoạch phải được bàn thảo với chính phủ VNCH.” (chiến lược viết chữ nghiêng là nguyên tác của tác giả Lewis Sorley). Đọc, Sorley, A Better War, trang 230. Tuy nhiên trong The Abrams Tapes (những cuộn băng thâu lại các buổi họp hàng tuần của MACV do Abrams chủ tọa, từ năm 1968 đến năm 1972) của cùng tác giả, Sorley chỉ ghi lại nội dung của tuần lễ 7 và 21, không nói đến (hay không được nói đến) hai tuần lễ 14 và 28. Điều này cho thấy nội dung buổi họp của hai tuần 17 và 28 vẫn chưa được giải mật (tất cả các buổi họp Cập nhật Tin tức Tình báo hàng tuần xảy ra các ngày thứ Bảy trong tháng). Nhưng ba ngày sau, ngày 1 tháng 12-1970, trong buổi họp của các sĩ quan cao cấp MACV, với sự có mặt của đại tướng Abrams, chúng ta đọc được lời mở đầu của thuyết trình viên (chuẩn tướng William E. Potts) nhắc Đại tướng Abrams là, “để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt vào buổi trưa này giữa Đại tướng và Đại tướng Viên, chúng ta sẽ bắt đầu buổi họp nói về các cuộc oanh kích và lưu lượng xâm nhập của những đoàn xe chuyển vận [của CSBV ở Hạ Lào].” Đọc Sorley, The Abrams Tapes, trang 502-507. Về tính cách tối mật của những buổi họp, trong phần giới thiệu về quyển The Abrams Tapes, tác giả Sorley nói rõ là một số lớn nội dung của các buổi họp vẫn chưa được giải mật (trang XXII, sđd). Như vậy chúng ta có thể suy luận, nội dung các thảo luận có liên hệ đến kế hoạch cuộc hành quân qua Lào vẫn chưa được các cơ quan thẩm quyền giải mật.
[7]Sorley, A Better War, trang 234.
[8]Willbanks, sđd, trang 97; Sorley, A Better War, trang 234. Đến đây thì chúng ta thấy rõ ràng những gì Kissinger nói với Haldeman ở tòa Bạch Ốc ngày 15 và 21 tháng 12-1970, chỉ là những lời nói xã giao để giữ bí mật kế hoạch hành quân qua Lào.
[9]Seymour, sđd, trang 309.
[10]Davidson, sđd, trang 641; Willbanks, sđd, trang 98-99.
[11]Nội dung những điện tín gởi cho các binh trạm được thông báo trong các buổi họp Cập nhật Tin tức Tình báo hàng tuần ở Bộ Tư lệnh MACV. Đọc, Sorley, The Abrams Tapes, trang 428, 433, 525, 599. Thượng tướng Nguyễn Hữu An, trong Chiến Trường Mới, trang 103-105, có nói về những dự bị để phòng hờ cuộc tấn công qua biên giới của quân lực VNCH. Tướng An nói ông đích thân đi quan sát địa hình ở vùng Lao Bảo, Lang Vei, nằm sát biên giới Lào. Bộ Tư lệnh cấp quân đoàn 70B (còn được gọi là bộ Tư lệnh mặt trận đường 9-Nam Lào) do Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Cao Văn Khánh và Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh phó. Dưới quyền điều động của 70B là các sư đoàn 304, 308 và 320, cùng với tất cả binh trạm và lực lượng phòng không ở Nam Lào. Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh trong Lam Son 719 (xuất bản năm 1979), trang 25, có liệt kê một số đơn vị CSBV ở chung quanh khu vực hành quân vựa vào tin tức tình báo của VNCH và những gì Hoa Kỳ cung cấp. Những tin tức đó khá chính xác so với tài liệu giải mật sau này. Đọc, Sorley, trích ở trên. Một trong nhiều binh trạm có điện tín bị tình báo Mỹ đọc được là binh trạm 9, 27, 33, và 44. Về vị trí các binh trạm, đọc, Võ Bẩm, Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Viết Phương, Đường về thành phố mang tên Bác, Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2005, trang 566-576.
[12]Bộ Tư lệnh Quân Đoàn XXIV của Hoa Kỳ là lực lượng chánh hỗ trợ cuộc hành quân, gồm có các đơn vị trực thăng vận tải và võ trang; thiết kỵ; công binh; pháo binh; và cơ giới. Không quân từ Không lực 7 (7th Air Force) sẽ yểm trợ oanh tạc chiến thuật và chiến lược. Về cấp số các đơn vị Hoa Kỳ hỗ trợ cuộc hành quân, đọc, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Lam Son 719, Appendix B, trang 175.
[13]Căn bản kế hoạch hành quân nằm trong, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Lam Son 719, trang 32-39. Cấp số hành quân trong thời gian soạn thảo là các đơn vị, sư đoàn Nhảy dù; hai trung đoàn 1 và 3 của sư đoàn 1 Bộ binh; ba Tiểu đoàn 21, 37 và 39 của liên đoàn 1 BĐQ; hai thiết đoàn 11 và 17 của lữ đoàn 1 thiết kỵ; Tiểu đoàn 44 pháo binh; và Tiểu đoàn 101 công binh. Hai lữ đoàn TQLC nằm trừ bị ở Khe sanh là lữ đoàn 147 và 258.
[14]Trương Duy Hy, Tử thủ căn cứ hỏa lực 30 Hạ Lào, trang 15-16. Một vài chi tiết rất khôi hài về vấn đề bảo mật trong cuộc hành quân Lam Sơn 719: Cho đến ngày 30 tháng 1, đại tướng Abrams ở MACV vẫn cương quyết không tiết lộ cho báo chí biết có hay không một cuộc tấn công qua Lào, khi ông nhận được điện tín từ Hoa Thịnh Đốn hỏi nên cho báo chí và cơ quan truyền thông biết được chưa. Đọc, The Abrams Tapes, trang 252; The Haldeman Diaries, trang 241. Nhưng theo đại úy Trương Duy Hy, một sĩ quan pháo binh tham dự cuộc hành quân, ngày 25 tháng 1 ông đã được gọi về tham dự buổi thuyết trình hành quân ở bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Như vậy, phần lớn các đơn vị ở Vùng I đã biết trước (và thân nhân họ cũng nghe nói) là họ sẽ đi hành quân qua Lào sau Tết Tân Hợi (1971). Năm 1971, mùng 1 Tết là ngày 27-1-1971. Trong khi đó ở một vài đơn vị khác, tin tức hành quân lại được giữ rất kỹ: khi bộ Tư lệnh Tiếp vận vùng I nhận được lệnh hành quân thì họ không có đủ thì giờ để sửa soạn cho đơn vị họ. Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 47.
[15]Hai ngày 4 và 5 trời mưa và mây thấp, không quân Hoa Kỳ không thể dọn bãi và yểm trợ. Ngày 5 và 6 thời tiết khá hơn và tướng Lãm ra lệnh tiến quân. Nhưng khi phía VNCH yêu cầu trực thăng võ trang bay yểm trợ trước khi họ băng qua biên giới, quân đoàn XXIV trả lời là luật hành quân của MAVC cấm không cho bất cứ đơn vị nào của Hoa Kỳ băng qua biên giới trước các đơn vị VNCH. Cũng trong ngày 6, phản lực cơ của Hải quân đánh lầm vào một điểm tập trung quân của lính Dù và Thiết kỵ gần biên giới, làm sáu quân nhân tử thương và 51 bị thương. Ngày 8, hai Bộ Tư lệnh đồng ý là Nhảy dù sẽ gởi một toán quân qua biên giới trước, và liền sau đó Không kỵ Hoa Kỳ sẽ lập tức theo sau. Đọc Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 63-64.
[16]Theo Lịch sử Quân đội Nhân dân, quyển 2, trang 374, lực lượng đang có mặt là năm Sư đoàn bộ binh 308, 304, 320, 324, và 2; hai Trung đoàn biệt lập 27 và, 278; tám Trung đoàn pháo binh; ba Trung đoàn công binh; ba Tiểu đoàn chiến xa; sáu Trung đoàn phòng không; tám Tiểu đoàn đặc công; và một số số lính hậu cần của các binh trạm trong vùng. Số quân 22 ngàn trong thời gian đầu là kể luôn năm ngàn quân Lào Cộng có mặt gần đó. Đọc, Davidson, sđd, trang 644. Ngày 19 tháng 2 (ngày thứ 11 của cuộc hành quân), MACV loan báo CSBV có 12 Trung đoàn bộ binh (tương đương bốn Sư đoàn) đang tụ lại vùng hành quân. Đó là chưa kể các đơn vị chiến xa, phòng không, hậu cần, hay đặc công, đi kèm với 12 Trung đoàn bộ binh. Sorley, The Abrams Tapes, trang 537.
[17]Sorley, The Abrams Tapes, trang 533; Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, trang 191.
[18]Đại tướng Donn A. Starry, sđd, trang 172, cước chú 4.
[19]Bộ Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương, Lam Son 719: January 30-March 24, 1971 (Project CHECO), trang 18, 34. Tài liệu do Bộ Tư lệnh Không quân Thái Bình Dương (Headquarters Pacific Air Forces) soạn, dựa vào tài liệu hành quân và báo cáo chiến trường nhận được từ MACV và Không Lực 7).
[20]Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 74, 79.
[21] Sorley, sđd, trang 535-536.
[22]Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 79-80; James H. Willbanks, sđd, trang 107. CSBV áp đảo được hai căn cứ Ranger North (Tiểu đoàn 39) và Ranger South (Tiểu đoàn 21) là chuyện phải xảy ra. Vì trước mặt Ranger South vài cây số là bộ Tư lệnh của sư đoàn 308, với ba Trung đoàn 102, 36, và 88. Đọc, Nguyễn Hữu An, sđd, trang 109.
[23]Tác phẩm của đại úy Trương Duy Hy, trang 96-236, tả trận chiến từ khi căn cứ hỏa lực 31 bị tràn ngập cho đến khi căn cứ 30 được Lệnh di tản bằng đường bộ.
[24]Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 89-90.
[25]Đọc, Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 96-104, về lý do, quyết định, và kế hoạch rút quân.
[26]Tiểu đoàn 4, trung đoàn 1/sư đoàn 1, với nhiệm vụ bảo vệ cho những Tiểu đoàn bạn đi trước, đã đánh một trận thư hùng để mở đường máu rút quân. Hai sĩ quan Tiểu đoàn trưởng và phó đều tử trận. Tiểu đoàn chỉ còn 82 người khi về được nơi an toàn. Nhưng trong trận đánh ở phía đông nam Tchepone này, CSBV đã để lại hơn 1.000 xác chết, phần lớn bị phi cơ oanh kích. Về những chiến đấu hào hùng, dũng cảm, của các quân nhân thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, đọc, Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 104-108; Phạm Huấn, Trận Hạ Lào 1971, trang 98-105. Tại bộ Tư lệnh MACV, ngày 25 tháng 3, đại tướng Abrams cũng nhắc lại sự anh dũng của các Tiểu đoàn bộ binh và BĐQ trong buổi họp ban tham mưu. Đọc, Sorley, sđd, trang 569-570.
[27]Chi tiết về thiệt hại nhân sự và quân nhu dụng đôi bên được liệt kê trong, Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 128-133. VNCH công bố CSBV có khoảng 13 ngàn quân tử thương; trong khi bản tường trình của Quân Đoàn XXIV ghi 19 ngàn, kể luôn số tử thương vì bom của B-52. Con số 16 ngàn quân CSBV tử thương người viết dùng, đến từ tin tình báo của MAVC. Ngày 5 tháng 6-71, MACV cho biết một cố vấn quân sự Ba Lan ở Vạn Tượng cho biết Bắc Việt bị thiệt hại rất nặng trong trận Hạ Lào; tin từ Nga và Đông Âu cũng cho biết tương tự. Một nguồn tin tình báo khác nói, vài viên chức của Bắc Việt cho biết chính xác số tử thương của quân đội CSBV ở Hạ Lào là 16.224 người. Đọc, Sorley, sđd, trang 635. Phía Hoa Kỳ có 215 tử thương, 1149 bị thương và 38 mất tích (số thương vong tính luôn các đơn vị hỗ trợ ở bên này biên giới).
[28]Trương Duy Hy, sđd, trang 53; Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 88.
[29]Trường hợp mất liên lạc hoặc liên lạc chậm đã xảy ra cho Sư đoàn Nhảy dù, và từ đó có thể đưa đến sự thất thủ của bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 Dù ở căn cứ hỏa lực (đồi) 31. Trong khi đó, bộ chỉ huy Tiểu đoàn 2 Dù đóng ở căn cứ hỏa lực 30, sau hai ngày không được tiếp tế nước và đạn, không liên lạc được với cố vấn, hay bộ Tư lệnh sư đoàn mẹ và trong tay đang có gần 200 thương vong, đánh một điện văn trên hệ thống truyền tin chung, xin các phi cơ nhắn lại với “thẩm quyền” là họ phải di tản vì không còn lương thực, đạn dược để chiến đấu. Hai ngày sau, đại tướng Abrams giải nhiệm vị đại tá cố vấn sư đoàn Dù (đại tá William Pence) và đưa một đại tá khác về thay (đại tá James Vaught). Abrams tỏ ý mất tín nhiệm trung tướng Sutherland khi ông hỏi Sutherland có thấy “phiền phức” khi đại tá Vaught chỉ thi hành trực tiếp chỉ thị đến từ ông mà thôi. Abrams cũng bất mãn và chỉ trích trung tướng William McCaffrey, Tư lệnh phó MACV, và đang thay Abrams đại diện ở bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy trưởng sư đoàn 101 Nhảy dù. Sorley, The Abrams Tapes, trang 544-546; A Better War, trang 243-260. Về bản truyền tin của Tiểu đoàn 2 Nhảy dù, đọc Project CHECO, Lam Son 719, trang 128.
[30]Phạm Huấn, trong, Trận Hạ Lào 1971, trang 136, có thuật lại cuộc đối thoại của tác giả với tướng Dư Quốc Đống ở Khe Sanh. Sau đó tác giả trình bài sự khó khăn hay lủng củng của Nhảy dù vis a vis kế hoạch hành quân và yểm trợ đến từ phía Hoa Kỳ cho phó tổng thống (lúc đó còn là thượng nghị sĩ) Trần Văn Hương nghe. Ngày 28, 2-1971, phó tổng thống Hương họp báo và công khai trình bày những thiếu sót đến từ phía Hoa Kỳ. Cuộc họp báo của phó tổng thống Hương đã đánh thức Bộ Tư lệnh MACV về những sai lầm của họ.
[31]Với báo cáo của cuộc hành quân gởi về cho Kissinger hàng ngày, khi thấy cuộc hành quân có những biến chuyển bất lợi, thêm vào đó là sự vắng mặt của Abrams ở Saigon, trong một buổi họp với Nixon ở tòa Bạch Ốc ngày 23 tháng 3, Kissinger nói với Nixon: “Tôi nghĩ cuộc thành quân này là một thành quả quan trọng, dù với nhiều hư hỏng [trong vấn đề chỉ huy và điều khiển cuộc hành quân].” “Tôi muốn nói thẳng với tổng thống là ... chính nguời của chúng ta đã làm cho chúng ta thất vọng chứ không phải [quân đội] VNCH. Họ [các thẩm quyền quân sự Mỹ] đã làm chúng ta thất vọng ngay trong ba tuần lễ đầu tiên [của cuộc hành quân], rồi họ còn báo các với tổng thống là tôi xen vào kế hoạch của họ quá nhiều.” Tiếp theo, Kissinger nói về tướng Abrams: “Trời ơi, Abrams đi thăm gia đình bên Thái Lan hàng tuần, trong khi chúng ta đặt tất cả vào chuyện này [cuộc hành quân đánh qua Lào]. ... Rồi bây giờ Abrams bắt đầu uống rượu từ giữa trưa. Tôi nghĩ rất kỹ, chúng ta phải quyết định coi có nên thay ông ta hay không.” Trích theo Deb Riechmann, AP Press, 10-6-1999, bài báo viết về nội dung những tài liệu và băng thâu âm từ tòa Bạch Ốc do, National Archives giải mật và công bố vào năm 1999. Trong hồi ký Inner Circles, trang 275-276, đại tướng Haig (lúc đó mang lon chuẩn tướng, làm phụ tá cho Kissinger) nói Nixon gọi ông vào phòng, không giải thích gì, ra lệnh cho ông, “Về nhà chuẩn bị hành lý, rồi lên chuyến bay sớm nhất qua Saigon,” để thay thế Abrams làm Tư lệnh MACV. Nhưng Haig dùng lời lẽ hợp lý để làm dịu cơn giận của Nixon. Ngày hôm sau Nixon ra lệnh cho Haig bay qua Saigon để duyệt xét tình hình cuộc hành quân ở Hạ Lào. Trong những trang đã trích dẫn trên, Haig cũng viết ý kiến của ông về những khuyết điểm của cuộc hành quân đó.
[32]Cấp số một sư đoàn Hoa Kỳ (12-14 ngàn quân) đông hơn cấp số của sư đoàn VNCH (10-12 ngàn). Bốn quân binh chủng, Hải, Lục, Không quân và TQLC Hoa Kỳ đều có không lực cơ hữu riêng của họ.
[33]James Willbanks, sđd, trang 107. Phạm Huấn, Trận Hạ Lào 1971, trang 98-105.
[34]Jeffrey Clarke, Advice and Support: The Final Years, 1965-1973, trang 354. Nhưng lời lưu ý của vị đô đốc bị Tổng trưởng quốc phòng Melvin Laird phủ quyết.
[35] Số thương vong hai bên, người viết lấy trong tài liệu giải mật năm 1980, được công bố từ Phòng Giám đốc Tình báo Quốc Ngoại/ Phụ tá Tư lệnh Lục quân/Tình báo. Tài liệu này được trích đăng lại trong, Jeffrey Clarke, sđd, trang 275.
[36]Sorley, A Better War, trang 237; The Abrams Tapes, trang 565. Đại tướng Abrams thổ lộ với trung tướng Michael Davison, Tư lệnh Quân đoàn II Dã chiến, khi nghe ông trung tướng nói, “Mình đã đưa họ vào chỗ đó, rồi mình lại kéo tấm thảm dưới chân họ [để họ hụt chân]. Tôi có nói với tướng [Đỗ Cao] Trí là, tôi thấy kỳ quá, trung tướng. “ Chúng ta không hiểu chuyện “đưa họ vào chỗ đó” là chuyện gì, nhưng có thể ở đây ám chỉ cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt hay Lào. Davison là Tư lệnh Quân đoàn II Dã chiến (quân đoàn Hoa Kỳ nằm kèm theo Quân đoàn III của VNCH) năm 1971-1972.
[37]Sorley, Thunderbolt: General Creighton Abrams and the Army of His Times, trang 179. Về truyện đời của Abrams, người viết dựa theo tác phẩm nói trên của Sorley. Trong tổ chức quân đội Hoa Kỳ, được chọn làm Tư lệnh hay Tư lệnh phó quân chủng (Lục quân, Hải quân, hay Không quân...) là một hãnh diện tuyệt đối trong binh nghiệp của một quân nhân, nhưng không hẳn phải là một nhiệm sở các cấp tướng lãnh mong muốn. Nhiệm sở mà các tướng lãnh mong muốn là các bộ Tư lệnh Hỗn hợp như Thái Bình Dương, NATO, MACV, Lộ quân Thứ 8 ở Đại Hàn, Bộ Tư lệnh Trung Á. ... Rất nhiều vị Tư lệnh Lục quân, sau khi hết nhiệm sở, vẫn xin được tái bổ nhiệm ở những bộ Tư lệnh nói trên. Khi trở thành Tư lệnh một quân chủng, trách nhiệm của vị tướng phần lớn chỉ là hành chánh, và những hoạt động hàng ngày rất gò bó ở Ngũ Giác Đài.
[38]Davidson, Vietnam at War, trang 583.
[39]Bruce Palmer, The 25-Year War: America s Military Role in Vietnam, trang 69, 133, 134. Đại tướng Palmer là bạn cùng khóa với Westmoreland và Abrams; cũng từng giữ chức Tư lệnh phó MACV dưới quyền Westmoreland và Abrams; Tư lệnh phó Lục quân, và trong một thời gian ngắn, nhiệm chức Tư lệnh Lục quân. Trung tướng Phillip B. Davidson, trong, Vietnam at War, trang 579-580, cũng có nhiều nhận xét sâu đậm về tánh tình của Abrams. Davidson là sĩ quan tình báo của MACV, làm việc dưới quyền Abrams gần một năm. Một thí dụ khác về tánh tình của Abrams trong, Sorley, Thunderbolt, trang, 145-146.
[40]Sorley, Thunderbolt, trang 199; A Better War, trang 10-11.
[41]Sorley, Thunderbolt, trang 232. Người nói câu đó là đại tướng Frederick Weyand, Tư lệnh phó MACV, và sau cũng trở thành Tư lệnh Lục quân.
[42]“Tảo thanh và giữ đất,” và “Một cuộc chiến chung” là “Clear and hold,” và “One war” trong chiến thuật, chiến lược của Abrams. Shelby Stanton, The Rise and Fall of an American Army, trang 283-284; Sorley, Thunderbolt, 237-241.
[43]Khi bàn về cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt 1970, Abrams tuyên bố với ban tham mưu là tướng Nguyễn Viết Thanh soạn thảo và hành quân nhanh đến độ ông làm cho các đơn vị Hoa Kỳ đang tham dự chung có cảm tưởng cánh quân của họ di chuyển chậm như những con voi. Một lần khác, Abrams chỉnh một sĩ quan cấp tướng khi người đó có ý kiến sai lạc về kinh nghiệm quân sự và lối làm Việc của đại tá Nguyễn Bá Liên. Thiếu tướng Thanh (Tư lệnh quân đoàn III) và cố chuẩn tướng Liên (sau khi rời binh chủng TQLC, làm Tư lệnh Biệt khu 24, Vùng II) đều bị tử nạn trực thăng trong năm 1970 và 1969. Đọc, Sorley, The Abrams Tapes, trang 83-84; 418-419.
[44]Sorley, The Abrams Tapes, trang 565.
[45]Bộ trưởng Lục Quân Stanley Resor bàn về vấn đề giảm thiểu chi phí với MACV tại Saigon ngày 29 tháng 6-1971, trong, Sorley, The Abrams Tapes, trang 445. Lính ở Việt Nam tốn kém hơn ở nội địa Mỹ vì họ trang bị nhiều hơn và được hưởng nhiều phụ cấp khác như phụ cấp tác chiến. Trong năm 1970-71, phi vụ và phi pháo của Hải quân (các lực lượng đóng ngoài khơi Việt Nam) bị giảm thiểu từ 20 đến 30% hàng tháng. Không quân thông thường bay từ 28 đến 30 ngàn phi vụ oanh kích hàng tháng, nay bị giảm lại còn chừng 14 ngàn. Đọc, Sorley, sđd, trang 495.
[46]Sorley, Thunderbolt, trang 183. Ở chương 12, Tinh thần người Mỹ trong cuộc chiến, chúng ta sẽ nói sâu hơn về vấn đề bất bình đẳng trong chế độ quân dịch của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.
[47]Ray L. Bowers, The United States Air Force in Southeast Asia: Tactical Airlift, trang 467. Cũng theo Bowers, sau đó, ngày 28 tháng 7-1969, Tổng trưởng Quốc phòng Laird cũng gởi cho Ban tham mưu liên quân một huấn lệnh có nội dung tương tự như huấn Lệnh của Nixon. Op. cit., ibid., trang 777, phụ chú số 1. Về chi tiết của trận Ap Bia Mountian/Hamburger Hill, đọc, trung tướng E.M. Flanagan, The Rakkasans: The Combat History of the 187th Airborne Infantry, trang 283-302. Một trong những sự phóng đại của giới báo chí phản chiến là, tuần báo Life, số ra ngày 27 tháng -1969, có đăng hình 241 quân nhân tử thương trên toàn cõi chiến trường Việt Nam trong một tuần trước, nhưng chú đó là tổn thất của trận Ap Bia Mountain. Con số tổn thất chính thức của trận đánh là 70 chết và 372 bị thương. Trung đoàn 187 Nhảy dù Tác chiến có nguồn gốc từ “Glider Infrantry,” của sư đoàn 11 Nhảy dù vào đệ nhị thế chiến, chuyên phụ trách mặt trận Á châu. Tiểu đoàn 3, trung đoàn 187 là đơn vị đánh chiếm ngọn đồi Ap Bia. Lý do báo chí nói nhiều về trung đoàn 187 vì đây là một trung đoàn thiện chiến do Westmoreland chỉ huy trong chiến tranh Đại Hàn. Trung tướng Flanagan, lúc ở chiến trường Việt Nam, là trưởng phòng Huấn luyện của MACV. Người chỉ trích kịch liệt về tổn thất trận Ap Bia là thượng nghị sĩ Edward Kennedy, một lãnh tụ phản chiến ở quốc hội Mỹ cho đến ngày sau cùng của cuộc chiến.
[48]Một vài thí dụ về những bó buộc làm Abrams bực tức: Không quân chỉ có thẩm quyền cung cấp một số phi vụ hàng tháng, khi MACV “xài” hết số phi vụ ấn định, không quân không thể cung cấp thêm được. Đồng thời, có một số mục tiêu dù Abrams muốn nhưng không quân không được quyền oanh tạc. Mỗi bốn tháng MACV phải xin Hoa Thịnh Đốn gia hạn thẩm quyền dội bom vào các mục tiêu ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam và khoảng giữa vĩ tuyến 17-20. Không lực 7 tuy nằm dưới quyền và có nhiệm vụ hỗ trợ MACV nhưng vẫn phải xin thẩm quyền từ bộ Tư lệnh gốc, nhất là những phi vụ đến từ bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (B-52). Đọc Sorley, Abrams Tapes, trang 385, 591, 654; A Better War, trang 331-316. Trong cao điểm của trận “Mùa hè đỏ lửa” 1972, không còn quân tác chiến bộ binh trong tay, Abrams phải tùy thuộc vào hỏa lực của không quân và hải quân. Abrams đã nổi trận lôi đình khi một số chiến đỉnh rời vị trí yểm trợ của họ ở ngoài duyên hải Việt Nam mà không cho ông biết lý do. Hỏi ra thì mới biết họ được Lệnh từ Ngũ Giác Đài rời vị trí để đi yểm trợ cho các chiến đỉnh khác đang hành quân thả ngư lội phong tỏa các cửa khẩu dẫn vào Hải Phòng và Hà Nội. Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương... quên thông báo cho MACV về kế hoạch của họ. Trước khi tổng trưởng quốc phòng Laird gọi Abrams để xin lỗi về sự sơ hở đó, Abrams đã chửi tan nát quân chủng Hải quân trước mặt nhiều sĩ quan và nhân viên cao cấp của Hải quân và Bộ Quốc phòng. Đọc, Sorley, Thunderbolt, trang, 323-325.
[49]Willbanks, sđd, trang,141,147; Sorley, Thunderbolt, 326.
[50]Đại tướng Bruce Palmer, The 25-Year War, trang, 133-135.
[51]Sorley, The Abrams Tapes, trang XV. Câu nói nguyên tác đến từ ký giả Robert Shaplen, “General Abrams deserves a better war.” Ký giả Kelvin P. Buckley, trong tạp chí phụ bản The New York Times Magazine, ngày 5 tháng 10-1969, có viết một bài về Abrams với tựa đề tương tự. Ý của Buckley và Shaplen, khi nói về một cuộc chiến tốt hơn, khá hơn, là một cuộc chiến không bị giới hạn vì chính trị, một chiến tranh với chủ đích duy nhất là đánh để hủy diệt dối phương mà không cần quan tâm về những áp lực khác. Dĩ nhiên chiến tranh Việt Nam không nằm trong phạm trù đó. Buckey và Shaplen, nhất là Shaplen, là hai ký giả có ảnh hưởng nhiều với đọc giả Mỹ. Thân phụ của Buckley, William F. Buckley, là một trong những tiếng nói quan trọng của khối bảo thủ đảng Cộng Hòa trong thập niên 1960-70.



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của killer1310

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™