Ghi chú đến thành viên
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 10-05-2008, 10:23 PM
donkihotexuthanh's Avatar
donkihotexuthanh donkihotexuthanh is offline
Phá Quan Hạ Sơn
 
Tham gia: Apr 2008
Bài gởi: 293
Thời gian online: 0 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 11 Times in 5 Posts
Hiệp định Paris nhìn từ phía bên kia

Hiệp định Paris nhìn từ phía bên kia

TP - Nhân kỷ niệm 35 năm ngày ký Hiệp định Paris, chúng tôi xin trích đăng một số phần, có liên quan đến việc ký kết Hiệp định Paris, từ cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” (The Palace File) để bạn đọc tham khảo.


Nguyễn Văn Thiệu

.........

Vào lúc năm giờ chiều ngày 17/10/1972, ông Thiệu ra lệnh cho Bộ Tổng tham mưu gấp rút chuyển về Sài Gòn một tập tài liệu vừa bắt được của Việt cộng, tìm thấy dưới hầm một chính ủy thuộc tỉnh Quảng Tín.

Được chở khẩn cấp bằng máy bay nhẹ, rồi máy bay trực thăng qua Đà Nẵng, các tài liệu này về tới bàn giấy ông Thiệu lúc nửa đêm.

Ông vội vã đọc, hết sức sửng sốt vì nhận ra ngay rằng cán bộ Cộng sản, trong một tỉnh lỵ cô lập ở miền Trung, còn biết được nhiều chi tiết về Hòa đàm Paris hơn là chính mình.

Tập tài liệu mang tên “Chỉ dẫn tổng quát về ngưng chiến”, có nội dung dường như lấy từ bản sơ thảo hiệp định lúc ấy đang được Kissinger và Lê Đức Thọ thương lượng tại Pháp, và được tiết lộ những nhượng bộ cơ bản của Kissinger.

Cho đến lúc ấy, Thiệu chưa hề biết gì đến bản dự thảo cuối cùng của hiệp định, và chẳng hề biết gì đến bản dự thảo cuối cùng của hiệp định, và chẳng được Kissinger thông báo gì về chi tiết cả.

LTS: “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” (The Palace File) từng được coi là cuốn sách với “những tư liệu hết sức đặc biệt trước đây chưa từng được tiết lộ”, “cáo trạng gay gắt về chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam”… do Tiến sỹ kinh tế học Nguyễn Tiến Hưng – nguyên là cố vấn đặc biệt của Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu; nguyên là Tổng trưởng kế hoạch và phát triển kinh tế, soạn thảo cùng với Jerrold L.Schecter – nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time, từng là phóng viên đặc biệt của Time tại Việt Nam.

Dù được nhìn từ phía bên kia, nhưng cuốn sách cũng đưa ra một số tư liệu mới đáng được tham khảo.

Phần Việt ngữ của cuốn sách nói trên là của C&K Promotins, Inc; Los Angeles.


Vậy mà tại một tỉnh lỵ hẻo lánh xa xôi, phía Nam Đà Nẵng, quân, cán Cộng sản đã đang bắt đầu học tập tài liệu đó rồi, và dựa vào đó để chuẩn bị hành quân.

Nổi bật nhất phải kể đến chi tiết liên quan đến chiến lược và chiến thuật của Bắc Việt (BV) nhằm duy trì lực lượng tại miền Nam sau khi có tuyên bố đình chiến.

Tài liệu CS còn nói rõ là Mỹ đã đồng ý cho phép quân đội BV ở lại miền Nam sau khi ngưng bắn. Quân đội Mỹ sẽ rút lui hoàn toàn. Kissinger đã đồng ý để cho BV vô Nam qua ngã vùng Phi Quân Sự và như vậy để sau này tự do tiếp tế cho quân lính họ.

Tài liệu học tập còn có khoản thành lập một Hội đồng Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc mà tác dụng chính chỉ là để triệt hạ chính phủ Sài Gòn. Ông Thiệu cho đây là một chính phủ liên hiệp trá hình.

Sau này, kể lại, lúc đọc xong tài liệu, ông nói: “Đó là lần đầu tiên tôi biết được mình đã bị qua mặt. Người Mỹ nói với tôi là vẫn còn đang thương thuyết, là chưa có gì dứt khoát cả, thế mà bên kia đã có đầy đủ tin tức rồi”.

Chẳng những tài liệu thu được chứa những điều sau này trở thành nguyên văn của Hiệp định Paris, mà còn chỉ đạo cho Việt cộng phải thi hành một kế hoạch ba giai đoạn nhằm nắm thế chủ động:


Kissinger
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị, trước đình chiến, kêu gọi cán bộ học tập và ghi nhớ những điều khoản và học cách giải thích chúng cách nào có lợi.

Cán bộ được chỉ thị chuẩn bị trình bày những điều khoản của hiệp định cho dân chúng biết hoặc tranh luận với đối phương.

Phải sung công tất cả máy may để may cờ Việt cộng: Những lá cờ này trong ngày đình chiến sẽ được treo trước cửa mỗi nhà, trong mỗi ấp, xóm, trên mỗi ngọn đồi. Như vậy BV sẽ chứng minh được với các cơ quan kiểm soát quốc tế là chỗ nào họ cũng có mặt.

Đồng thời các đơn vị lớn của CS phải tấn công đề ghìm chân các lực lượng Sài Gòn. Các lực lượng vùng và địa phương quân CS phải được phân tán ra thâm nhập mọi ấp, mọi vùng đông dân cư, chặn mọi trục giao thông, và nằm tại chỗ cho tới khi nào có đại diện quốc tế đến.

Giai đoạn II: Cách thực thi trong ngày đình chiến. Ba ngày trước khi đình chiến, mỗi đơn vị CS phải hành quân giành dân lấn đất. Phải chuẩn bị các cuộc biểu tình đòi chính phủ Sài Gòn thi hành ngừng bắn và cho quân lính trở về gia đình họ.

Biểu tình đòi thực hiện các quyền tự do di chuyển, tuyên truyền võ trang phải đẩy mạnh những hành động xúi giục, khích động, bằng cách giải thích hiệp định, kêu gọi binh sĩ QLVNCH ngưng chiến đấu, nghỉ phép, hoặc về thăm nhà và đào ngũ.

Giai đoạn III: Trong giai đoạn sau đình chiến, hay giai đoạn củng cố, phải giữ chặt và củng cố mọi thắng lợi đã đạt được. Tùy kết quả của hai giai đoạn đầu mà lấy thêm hành động mới, nhưng mục tiêu là tiến tới việc triệt hạ chính phủ Thiệu, đồng thời tiếp tục tuyên truyền nâng cao uy tín CS và đòi tôn trọng và thực thi Hiệp định Paris.

Ông Thiệu đã phải giật mình khi đọc những tin trên. Chỉ mới hai tuần trước, ngày 4/10, ông đã trao một giác thư cho tướng Halg ở Sài Gòn để đem về cho Kissinger, nhắc nhở ông về những nguyên tắc điều đình căn bản mà hai bên đã thỏa thuận: “Nếu chính phủ HK lại đi tới được một quan niệm mới nào về hòa giải, xin vui lòng thông báo cho chính phủ VNCH biết”.

Rồi lá thư đề ngày 6/10 của Nixon sau đó cũng đã quả quyết với ông rằng sẽ không lấy một quyết định nào trong lúc thương lượng mà không có sự tham khảo hoàn toàn, đầy đủ và kịp thời giữa chúng ta.

Trong một tháng, ông Thiệu tự nhiên thấy mọi việc ăn khớp với nhau. Phạm Đăng Lâm, đại sứ Trưởng phái đoàn VNCH tại Paris, mới đây có báo động cho ông là Mỹ và BV, sau nhiều phiên họp mật, dường như đã đi tới một thỏa thuận. Sau đó, Nixon lại viết thư ngày 6/10 có vẻ như trận phủ đầu.

Tại sao lại chọn đúng lúc này mà đe dọa ông “để tránh xảy ra một bầu không khí có thể đưa tới những biến cố tương tự như những biến cố mà chúng tôi ghê tởm hồi 1963, và bản thân tôi đã chống đối kịch liệt hồi 1968?”.

Hơn nữa, lá thư chiếu lệ đề ngày 14/10 do Bunker viết cho ông chỉ dài hơn một trang nói về nội dung các cuộc họp giữa Kissinger và Thọ trong 4 ngày từ 8 đến 11/10, đã không hề nhắc đến sự thỏa thuận nào hết.

Bây giờ, ông Thiệu mới nhìn ra ý đồ của Kissinger: nghĩa là cho diễn lại vở tuồng 1968, gấp rút điều đình trước ngày bầu cử HK. Kissinger lại sắp qua Sài Gòn mang theo một thỏa ước giữa HK và BV. Và chỉ mấy hôm trước khi ông đi, Nixon đã viết thư cho ông Thiệu dọa đảo chính, như vậy chắc là để dọn đường cho ông.

Trái với lời hứa của Nixon, đã không hề có một sự tham khảo có ý nghĩa nào với VNCH về những điểm then chốt tối hậu của thỏa ước đó. VNCH đã không hề được xem bản văn, hoặc yêu cầu bình luận chi tiết bất cứ phần nào trong dự thảo chót của hiệp định.

Vừa phẫn nộ vừa buồn bực, ông Thiệu mời một số nhân vật chính trong chính phủ tới họp. Trong số những người được mời có Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Thủ tướng Cao Văn Viên và ông Hoàng Đức Nhã.

Hành động của Hoa Kỳ quả là những đòn đau giáng xuống miền Nam Việt Nam. Trước khi qua Sài Gòn, Kissinger được Nixon dặn dò là phải coi những cuộc họp với Thiệu như một “canh xì phé” trong đó Kissinger phải giấu kỹ “con tẩy” cho đến phút chót.

Như lời Kissinger sau này giải thích: “Chẳng hạn tôi không nên đưa ngay cho ông Thiệu coi cái phần chính trị của Hiệp định. Tôi phải “giả bộ” nói làm sao để ông Thiệu nghĩ rằng Hà Nội đã yêu sách rất nhiều, nhiều hơn là thực sự họ đòi”.

TP - Kissinger tới Sài Gòn ngày 18/10/1972; sáng hôm sau, ông tới ngay Dinh Độc Lập với một đoàn tùy tùng đông đảo, gồm cả những nhân viên an ninh, trông chẳng khác chi phái đoàn đi tháp tùng một vị quốc trưởng hơn là một ông đặc sứ.


Ông Lê Đức Thọ (trái) và Kissinger


Đã không ngạc nhiên trước cảnh tượng đó, ông Thiệu còn lộ sự hờn giận của mình bằng cách để Kissinger và đoàn tùy tùng ngồi đợi 15 phút trong phòng tiếp khách, ngay trước mặt đám ký giả và nhiếp ảnh đã tụ họp ở đó từ trước để theo dõi cuộc viếng thăm. Và khi Kissinger được Thiệu tiếp, người ta đã không thấy có sự vồn vã, thân mật nào hết: Thiệu đã tỏ ra cách biệt và lạnh lùng.

Vừa gặp mặt, Kisingger liền trao tay cho Thiệu lá thư của Nixon đề ngày 16/10/1972, dường như với dụng ý khai mào cuộc gặp gỡ và để cho biết là mình được Nixon hoàn toàn tín nhiệm. Lá thư đầy xúc động:

Thân gửi Tổng thống Thiệu,

Tôi đã yêu cầu TS Kissinger chuyển đến Ngài lá thư riêng này liên quan đến những cuộc đàm phán hiện thời với Bắc Việt, dường như đang tới giai đoạn chót.

Như Ngài biết, suốt bốn năm dưới quyền tôi, Hoa Kỳ đã đứng vững đằng sau chính phủ Ngài cùng nhân dân Việt Nam Cộng hòa và ủng hộ sự đấu tranh dũng cảm của họ nhằm chống xâm lăng và bảo tồn quyền tự quyết về tương lai chính trị của mình.

Những biện pháp quân sự chúng tôi đã sử dụng và chương trình Việt Nam hóa, những hành động quyết liệt chúng tôi đã thực thi năm 1970, nhằm tiêu diệt sào huyệt địch tại Cam-bốt, những cuộc hành quân tại Lào năm 1971 và biện pháp chống Bắc Việt tháng Năm mới đây, đã hoàn toàn minh chứng cho sự ủng hộ của chúng tôi. Tôi khỏi cần nhấn mạnh rằng, trong số những biện pháp vừa kể, có nhiều biện pháp đã không được nhiều người ủng hộ tại Hoa Kỳ nhưng chúng lại cần thiết.

Cho tới gần đây, phe thương thuyết Bắc Việt vẫn còn bám chặt lấy lập trường cố hữu của họ là bất cứ cuộc dàn xếp nào về chiến tranh cũng sẽ phải bao gồm sự từ chức của Ngài và sự giải tán của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cùng những định chế dân chủ liên hệ.

TS Kissinger sẽ giải thích cho Ngài với đầy đủ mọi chi tiết về điều khoản trong hiệp định đề nghị mà ông ấy mang theo, và vì thế tôi sẽ không bàn gì thêm trong bức điệp văn này. Tuy nhiên, tôi rất muốn Ngài hiểu rằng tôi tin chúng ta không còn lựa chọn hợp lý nào khác hơn là chấp nhận hiệp định ấy. Nó tiêu biểu cho sự chuyển hướng lớn về phe bên kia, và tôi tin chắc rằng sự thực thi (hiệp định ấy) sẽ cho phép Ngài và dân tộc Ngài có thể tự bảo vệ và quyết định vận mạng chính trị của miền Nam Việt Nam.

Sau hết, tôi phải nói rằng, nếu như ta đã có thể mạo hiểm trong chiến tranh, thì tôi tin là ta cũng phải mạo hiểm trong hòa bình. Ý định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những điều khoản trong các hiệp định ký kết với Hà Nội, và tôi biết rằng đó cũng là thái độ của chính phủ Ngài.

Chúng tôi đòi phải có qua có lại, và đã cảnh giác cho cả họ lẫn các đồng minh lớn của họ biết rõ như thế. Tôi xin cam kết với Ngài rằng bất cứ một sự bội tín nào về phía họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có những hậu quả trầm trọng nhất.

Nhân dịp này, tôi xin phép Ngài cho tôi được nhắc lại những tình cảm kính trọng sâu xa nhất của cá nhân tôi và lòng ngưỡng mộ đối với Ngài và những người bạn chiến đấu của Ngài.

Kính thư
(k.t) Richard Nixon

Ông Thiệu đọc hết lá thư, nhưng không một lời bình luận. Rồi ông mời Kissinger sang phòng Ước đoán tình hình, có cửa thông sang văn phòng ông, để gặp Hội đồng An ninh Quốc gia. Kissinger yêu cầu có ba mươi phút để trình bày bản hiệp định.

Kissinger nhấn mạnh các phần chính trị của hiệp định mà ông tin là có lợi cho VNCH. Ông cam đoan Hoa Kỳ (HK) sẽ duy trì các căn cứ không quân tại Thái Lan và giữ Hạm đội 7 ngoài khơi để ngăn chặn Bắc Việt (BV) tấn công. Kissinger hứa tiếp tục viện trợ tài chính và quân sự cho VNCH.

Trong khi đó, ông tin rằng những thỏa thuận ngầm giữa Liên Xô và Trung cộng sẽ làm giảm nhiều nguồn tiếp liệu chiến cụ cho quân đội BV. Theo ông, đây là lúc thuận lợi để đi tới một hiệp ước với Cộng sản vì dù sao chăng nữa, VNCH cũng đã có quân lực trên một triệu người và kiểm soát 85% dân số.

Ông tin tưởng rằng VNCH sẽ phát triển và thịnh vượng trong thời kỳ hậu chiến. Kissinger không đi vào các chi tiết về những gì còn phải giải quyết với Hà Nội, và cũng không cho Thiệu biết một thời khóa biểu mật mà ông ta đã đồng ý với BV – là họ sẽ ký tắt vào bản hiệp định tại Hà Nội chỉ một tuần lễ sau đó, vào ngày 24/10.

Trình bày xong, Kissinger trao cho ông Thiệu một phó bản duy nhất của hiệp định, bằng Anh ngữ. Thiệu ra hiệu cho Nhã tới, đứng sau ghế Thiệu, đọc bản văn trong lúc Kissinger trình bày các điều khoản của hiệp định. Nhã ghé tai ông Thiệu nói thầm: “Đây đâu phải là những điều mà mình trông đợi! Hãy cứ nói vài điều vớ vẩn nào đó, để lấy thêm thời giờ suy nghĩ”.

Về sau Nhã nhớ lại: “Tôi kinh ngạc hết sức! Tất cả những điểm VNCH đề nghị, rồi phản đề nghị, đều đã bị gạt ra ngoài… Tôi khựng lại vì ngạc nhiên, nhưng cố không để lộ ra mặt”.

Ông Thiệu cũng kinh ngạc và cũng cố giữ trong lòng. Về sau ông nói là ông căm phẫn với Kissinger đến độ ông muốn “đấm cho anh ta một quả vào miệng”. Thế nhưng ông cố tự kiềm chế, và yêu cầu Kissinger cho một bản tiếng Việt của Hiệp định.

Kissinger nói không có, nhưng sẽ kiếm trong hồ sơ một bản. Thiệu cám ơn Kissinger về “phần trình bày hay”, và nói thêm: “Cho tôi thời giờ suy nghĩ. Ta sẽ hội lại lúc năm giờ chiều”. Thiệu hứa sẽ nghiên cứu cẩn thận bản tiếng Anh trước khi đó.

Buổi họp chấm dứt trong tinh thần thân hữu, và Kissinger có đôi chút phấn khởi. Về phần Thiệu, ông lập tức chỉ thị cho Nhã phân tích toàn bộ đề án, và phải xong lúc 3 giờ chiều để có thể thảo luận trước phiên họp năm giờ. Sau này Nhã kể lại: “Tôi vội cho in thành nhiều bản và mời Ngoại trưởng Lắm, cố vấn Nguyễn Phú Đức và Đại sứ Phượng đến dùng cơm trưa với tôi tại nhà hàng La Cave.

Ngồi vào bàn, tôi hỏi ngay: “Quý vị nghĩ thế nào?”. Họ nói: “Không đến nỗi nào. Chúng tôi tưởng còn tệ hơn nữa”. “Thế nào là không đến nỗi nào? Quý vị đã đọc kỹ chưa?”.

Nhã để ý là không có khoản nào nói đến việc rút quân BV; ngoài ra Hiệp định chỉ nói tới “ba quốc gia Đông Dương” ý muốn nói là chỉ có một nước Việt Nam, Lào và Cam - bốt. Về phía BV, thì họ vẫn cho VNCH, quốc gia thứ tư, với thủ đô ở Sài Gòn, là không được kể như một chính phủ hợp pháp.

Nhã nói tiếp: “Quý vị có thấy chữ National council of Reconciliation trong đó không? Tôi sẽ hỏi họ xem cái này là cái gì trong bản Việt ngữ”.

Không có bản tiếng Việt, mọi người đều phải nghiên cứu bản tiếng Anh, rồi đến dự phiên họp khẩn của Hội đồng An ninh Quốc gia vào lúc ba giờ như đã dự liệu. Hội đồng quyết định có năm điểm chính cần được minh xác.

Năm giờ chiều hôm đó, Kissinger và Bunker trở lại Dinh Độc Lập để gặp Thiệu. Kissinger có vẻ rất “hăng”. Thiệu lịch sự, nhưng nhất định cứ hỏi bằng tiếng Việt, cho Nhã thông ngôn, để giữ cho buổi họp ở cấp lễ nghi, hình thức.

Ông nói: “Chúng tôi đã phân tích sơ qua, và chúng tôi muốn hỏi một vài điểm cần được minh xác, rồi sau đó, chúng tôi cần có thêm thời gian để nghiên cứu bản văn, cả tiếng Việt, lẫn tiếng Anh”. Rồi ông hỏi thêm: “À, còn ba quốc gia Đông Dương mà ông nói đến là những quốc gia nào vậy?” Kissinger, không để lỡ một giây đáp liền: “Thưa Ngài, chắc là thư ký đánh máy sai đó”.

Bản tiếng Anh nói đến “ba dân tộc Đông Dương” – ám chỉ Lào, Cam - bốt và một nước Việt Nam. Thiệu nhất định không chấp nhận công thức ấy. Hội nghị Genève đã thừa nhận bốn quốc gia, trong đó có hai Việt Nam: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa; sự việc này đâu có thể thay đổi. Thiệu còn nhất định không chịu cho Mặt trận Giải phóng được xưng là đại diện cho miền Nam Việt Nam.

Kissinger giải thích rằng sự nhắc nhở “ba dân tộc Đông Dương” là một sự sơ ý, là lỗi đánh máy! Ông dám nói như vậy dù là bản dự thảo nhắc nó đến hai ba lần, và được viết xuống vừa bằng chữ (three) và bằng số 3.

Ông Thiệu còn quan tâm đặc biệt đến định nghĩa của Hội đồng hòa hợp và Hòa giải Dân tộc. Nhiều lần trong bản văn, danh xưng này được gọi là một “cơ cấu hành chính”; nếu đứng về ngôn ngữ Việt Nam thì “cơ cấu hành chính” và “cơ cấu chính quyền” rất giống nhau và ý nghĩa của nó dễ được hiểu lầm là chính phủ liên hiệp trá hình.

Kissinger giải thích rằng Hội đồng sẽ không có quyền hành của một chính phủ, mà chỉ có nhiệm vụ “cố vấn”, thi hành những gì đã được các phe phái đồng ý. Nó không phải là chính phủ liên hiệp. Kissinger khăng khăng: “Nó chỉ là một hội đồng bé tí ti. Nó không có quyền hành. Nó chỉ là một cơ quan tư vấn thôi”.

Còn quân đội BV sẽ ra sao một khi Hiệp định Paris đã được ký kết?

Kissinger đáp, sẽ không có sự thâm nhập thêm nữa của quân đội từ miền Bắc, và quân lực VNCH, với quân số 1 triệu 100 ngàn người, sẽ chẳng việc gì phải sợ sự hiện diện của 140 ngàn quân BV.

Được hỏi tại sao lại không có đoạn nào nói rõ về sự rút quân BV, thì Kissinger giải thích: Ờ, thì như quý ông biết, chúng tôi đã thảo luận điều đó với BV và họ không chấp nhận cho nên chúng tôi nghĩ là không nên để nó vào (bản văn), để khỏi làm hỏng bầu không khí”!

Điều đó làm ông Thiệu giận nhất trong phần trình bày của Kissinger, là ông này cứ khăng khăng cho rằng hiệp định là “một thắng lợi to lớn nhất có thể đạt được, và là một sự sụp đổ của lập trường Bắc Việt”. Đến đây, ông Thiệu đề nghị một buổi họp ở cấp tiểu nhóm với Ngoại trưởng Lắm sáng hôm sau để thảo luận vào chi tiết bản hiệp định. Kissinger đồng ý.

Dường như để đấm mõm, Kissinger và Bunker lại xin họp riêng với Thiệu, Cao Văn Viên, và Đại tướng Creighton Abrams, người đứng đầu cơ quan viện trợ quân sự Mỹ (MAV/V) để thảo luận việc gấp rút tăng cường tiếp liệu quân cụ cho Sài Gòn trước ngày ký kết hiệp định và sẽ được thay thế căn bản một – đổi – một, theo các điều kiện trong hiệp ước.

Ông Thiệu tìm cách đối phó với Kissinger sau buổi họp mặt ban đầu ngày 19 tháng 10 năm 1972. Ông yêu cầu Kissinger đến họp với các thành viên HĐANQG tại nhà riêng Ngoại trưởng Trần Văn Lắm, tại đường Hồng Thập Tự vào sáng thứ Sáu, ngày 20 tháng 10 lúc 10 giờ. Đến lúc đó, thì phía Việt Nam đã có dịp nghiên cứu bản văn hiệp định bằng tiếng Việt do John Negroponte, phụ tá của Kissinger, trao cho hôm trước.

Đọc bản tiếng Việt (do CS soạn thảo), phía VNCH đã thấy rõ ràng những mối lo âu của mình là có căn cứ. Kissinger đã chấp nhận bản dự thảo bằng tiếng Việt với tất cả thuật ngữ của Cộng sản, và nó khác hẳn bản Anh ngữ. BV quả đã dùng chữ, “cơ cấu chính quyền” để mô tả Hội đồng Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc và các lực lượng Mỹ được gọi bằng từ ngữ cố tình xúc phạm là “quân Mỹ”. Một đoạn khác trong bản tiếng Việt kêu gọi Mỹ và các chư hầu phải rút lui.

Trước khi phiên họp bắt đầu, quanh một bàn ăn dài bằng gỗ mun, Ngoại trưởng Lắm, người công giáo đọc lời cầu nguyện: “Xin Chúa ban ơn cho những người có mặt tại đây làm việc đắc lực đem lại hòa bình cho Việt Nam”. Phía VNCH phản đối, đòi minh xác tổng hợp hai mươi ba điểm, Kissinger nói chỉ có 8 điểm là đáng được minh xác thôi. Buổi họp kết thúc vào lúc trưa.

Tới Dinh, Nhã vào gặp Thiệu giữa lúc ăn trưa. Thiệu bảo Nhã ngồi xuống cùng ăn. Nhã nói: “Em không có thời gian ăn đâu. Việc này nghiêm trọng lắm”. Thiệu hỏi cái gì nghiêm trọng. Nhã liền đọc một danh sách dài những khác biệt giữa Việt Nam và Kissinger.

Sau này Nhã kể lại: “Càng đọc thêm mình càng thấy ổng hết muốn ăn luôn”. Nhã giục ông Thiệu đòi thêm thời gian nghiên cứu bản Hiệp định, và đề nghị: “Xin anh bỏ buổi họp năm giờ đi”. Thiệu đáp nhưng mình lỡ hứa rồi!”.

Cùng một lúc, ông Thiệu lại nhận ngay được những báo cáo khẩn từ các Bộ tư lệnh quân đoàn cho biết địch đang tập trung theo đúng những chỉ thị ghi trên những tài liệu tịch thu. Nếu như ông Thiệu cứ tiếp tục tiến hành ký tắt vào bản Hiệp định, thì chắc sẽ có ngay một cuộc tấn công của địch trên toàn lãnh thổ trước khi có cuộc ký kết chính thức tại Paris.

Sự việc này hình như đã được dàn xếp tháng trước với Kissinger tại Paris rồi. Nhã nói: “Mình phải triệu tập tất cả các tỉnh trưởng về Sài Gòn sáng ngày mai, và em sẽ lấy đó làm cái cớ để hoãn cuộc họp với Kissinger”.

Thiệu quyết định không cho Kissinger biết về những tài liệu tịch thu, vì ông muốn để xem Kissinger sẽ nói gì về những điều kiện ông ta đã thỏa thuận với BV; ngoài ra Thiệu không muốn Kissinger có dịp để cãi rằng đó chỉ là chiến dịch phản tuyên truyền của Cộng sản. Thiệu nghĩ rằng đối chất Kissinger với những tài liệu tịch thu đó thì chỉ gây thêm căng thẳng mà thôi.

-------------------

Còn nữa

(Trích từ cuốn sách “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” – TS Nguyễn Tiến Hưng, nguyên cố vấn đặc biệt của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Jerrold L. Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time biên soạn).
TP - Bốn giờ chiều, Nhã gọi điện thoại cho Đại sứ Bunker nói rằng buổi họp với Thiệu sẽ phải hủy bỏ. “Tôi rất tiếc, nhưng một số biến cố bất ngờ vừa xảy đến; địch đang tập trung quân. Chúng tôi đang gọi tất cả các tỉnh trưởng và tư lệnh quân đoàn về Sài Gòn để họp vào sáng mai”.


Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam, ngày 27 tháng Giêng 1973. Ảnh tư liệu


Bunker (1) hỏi điềm nhiên: “Thế bao giờ sẽ họp vào ngày mai?”. Nhã (2) đáp: “Tôi sẽ tìm cách thông báo cho ngài sau”.

Bunker yêu cầu được nói chuyện với Thiệu, nhưng Nhã nói: “Xin Ngài tha lỗi, vì tình hình khẩn cấp, Tổng thống đã ra chỉ thị cắt hết mọi liên lạc. Ông không muốn nói chuyện điện thoại với bất cứ ai. Tôi sẽ gọi lại Ngài chừng nào tôi biết được thời giờ Tổng thống có thể gặp lại Ngài được”.

Sau đó mấy tiếng đồng hồ, lúc Nhã đang ở tư thất Phó Tổng thống Trần Văn Hương, anh ta nhận được điện thoại của Bunker. Bunker hỏi: “Chúng tôi có thể tới gặp Tổng thống lúc này được không? Chúng tôi sắp rời tòa Đại sứ ngay bây giờ đây”.

Nhã nói: “Trong Dinh chưa chuẩn bị. Chúng tôi có một số việc khác khẩn cấp, Ngài chưa thể gặp được Tổng thống lúc này! Tôi thực sự không muốn quý vị lên xe rồi tới tổng Dinh lại không thể vào được, vì tôi đã được Tổng thống chỉ thị là ông ta không muốn gặp ai chiều nay hết”.

Đại sứ Bunker, lúc này mới nổi giận, vì đã bị Kissinger áp đảo tinh thần, lắp bắp: “Anh đâu có thể làm như vậy được”. Kissinger bèn giật lấy ống nói: “Đây là Tiến sĩ Kissinger”.

Nhã đáp: “Thưa ông mạnh giỏi?”.

Kissinger gặng hỏi: “Tại sao chúng tôi lại không được gặp Tổng thống?”.

Nhã đáp: “Như tôi vừa mới giải thích cho Đại sứ Bunker, tôi rất tiếc là Tổng thống không thể gặp quý vị lúc này. Ông ta sẽ gặp quý vị vào ngày mai!”.

Kissinger nói: “Tôi là Đặc sứ của Tổng thống Mỹ. Anh thừa biết là tôi không thể được đối xử như một nhân viên chạy vặt”.

Nhã trả lời: “Chúng tôi không bao giờ coi ông là nhân viên chạy vặt, nhưng nếu ông nghĩ vậy, thì tôi đâu thể làm gì được”.

- Tôi đòi được gặp Tổng thống!

- Xin ông cho phép tôi nhắc lại lần nữa điều mà tôi vừa thưa với ông. Tôi xin lỗi.

Kissinger trao ống nghe cho Bunker. Ông này dằn mặt: “Khôn hồn thì anh nên gọi lại cho tôi”. Sau này người ta mới hiểu tại sao Kissinger phải vội vã vô Dinh: Vì ông muốn Thiệu đồng ý để còn kịp đi Hà Nội ký tắt vào bản thảo hiệp định với Phạm Văn Đồng như ngày giờ đã định (tức 24 tháng 10 năm 1972).

Lúc đó, Kissinger lại có thêm một vấn đề khó khăn nữa muốn thanh minh cho ông Thiệu. Phóng viên Arnaud de Borchgrave vừa thực hiện được một cuộc phỏng vấn với ông Phạm Văn Đồng dành riêng cho tạp chí Newsweek, và vừa rời Hà Nội bay qua Vạn Tượng.

Cuộc phỏng vấn khẳng định ý đồ của Bắc Việt (BV) là coi Hội đồng Hòa hợp Dân tộc là một chính phủ liên hiệp. Muốn gửi bài về New York cho kịp hạn chót, De Borchgrave đã yêu cầu đại sứ HK ở Vạn Tượng, G.McMurtie Godley, cho phép ông sử dụng đường dây liên lạc của sứ quán.

Để có đi có lại, ông chuyển cho Đại sứ Godley một bản văn ghi đầy đủ tại chỗ cuộc phỏng vấn, cũng như các phần nói chuyện ứng khẩu của ông Đồng. Chỉ nội hai giờ sau, Kissinger đã được đọc bài phỏng vấn đó tại Sài Gòn. Ông hết sức bực mình vì âm mưu đã bị bại lộ!

Trong bài phỏng vấn, ông Đồng được hỏi về vai trò của Thiệu trong một chính phủ liên hiệp ba bên. Ông Đồng đáp: “Thiệu đã bị những biến cố mới đây bỏ xa rồi. Và những biến cố thì có hướng đi riêng của chúng”.

Sau khi ngừng bắn sẽ có hai quân đội và hai cơ cấu hành chính, “và trong tình trạng mới ấy, họ sẽ phải tự dàn xếp lấy một chính phủ liên hiệp chuyển tiếp ba bên và ổn định tình hình sau khi Mỹ rút quân”.

Về sau Kissinger lại tiết lộ cho báo chí rằng ông rất bực tức chỉ vì ông tin rằng chính phủ liên hiệp đâu có phải là giải pháp mà ông đã “thương lượng” ở Paris? Sự thực là tuy ông không “thương lượng” nhưng ông đã để mặc cho Hà Nội tự giải thích Hội đồng đó là một chính phủ liên hiệp.

Sau khi đánh điện gửi bài về Mỹ, De Borchgrave bay qua Sài Gòn và điện thoại cho tướng Trần Văn Đôn để nhờ dàn xếp một cuộc phỏng vấn với ông Thiệu: “Sẽ quả là một điều ngạc nhiên đối với chúng tôi nếu ông Thiệu đã đồng ý ký bản hiệp định mà Phạm Văn Đồng vừa tiết lộ cho tôi biết nội dung khi tôi phỏng vấn ông ta ngày 18 tháng 10”.

Đôn liền gọi Nhã và nhờ thu xếp hộ cho De Borchgrave phỏng vấn. Đôn cũng nói sơ qua về cuộc phỏng vấn Phạm Văn Đồng của Newsweek, nhưng ông không có bản văn trong tay.

Xế trưa thứ Sáu, Kissinger lại điện thoại cho Dinh đòi gặp Thiệu, vì ông muốn cho Thiệu coi bài phỏng vấn Đồng và đồng thời giải thích với Thiệu rằng ở Paris ông đã không hề thương lượng về một chính phủ liên hiệp.

Qua máy nói, Kissinger chỉ bảo Nhã là vừa có “một biến chuyển mới, và tôi cần phải thưa chuyện với Tổng thống”. Nhưng Nhã không đổi ý, và yêu cầu Kissinger nán chờ thêm.

Mười hai giờ sáng hôm sau, thứ Bảy, 21/10, Kissinger và Bunker được mời đến gặp Thiệu. Trong hai tiếng đồng hồ họp Kissinger không nói gì đến bài phỏng vấn của De Borchgrave. Thiệu lại không biết là Kissinger đã có bài phỏng vấn, nên chỉ duyệt lại kết quả buổi họp sáng thứ Sáu với Ngoại trưởng Lắm và HĐANQG.

Trong số 23 thay đổi mà VNCH yêu cầu, Kissinger quả quyết rằng có lẽ chỉ có thể giải quyết được 16 thôi, số còn lại phải để nguyên vì chúng đưa ra “những đòi hỏi quá đáng, không thể thỏa mãn được”. Các điểm chính là sự hiện diện của quân đội BV tại miền Nam và cương vị của Hội đồng Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc trong tư cách một cơ quan chính quyền.

Tới đây, nhân viên văn phòng Tổng thống bước vào đưa một mật điện từ tòa Đại sứ HK chuyển sang. Đó là một thông điệp của Nixon gửi cho Thiệu qua Kissinger. Kissinger đọc cho Thiệu nghe thông điệp vừa nhận được. Bức điện tín của Nixon giục Thiệu ký Hiệp định và dọa rằng nếu không sẽ cắt viện trợ:

Nếu như ngài thấy Hiệp định này không thể chấp nhận được vào lúc này, và nếu như phe bên kia quả thực đã cố gắng hết sức để thỏa mãn những đòi hỏi (của chúng ta), thì, theo ý kiến của tôi, quyết định của ngài sẽ mang đến những tác dụng nghiêm trọng nhất đối với khả năng của tôi tiếp tục yểm trợ ngài và chính phủ miền Nam Việt Nam.

Thật là khéo dàn cảnh. Kissinger trao bức điện văn cho Thiệu, Thiệu chỉ mỉm cười mà không đọc. Nhã cầm lên một bản, đọc qua rồi trả lại cho Bunker, và nói “Cám ơn”. Buổi họp không một tiến triển, nhưng Kissinger đứng dậy và ra về vẫn hí hửng là Thiệu chắc chắn sẽ chấp nhận bản Hiệp định. Một phiên họp khác được định vào sáng Chủ nhật lúc 8 giờ.

Sáu giờ sáng Chủ nhật, từ tòa Đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn điện về, có đầy đủ bản văn phỏng vấn ông Đồng của De Borchgrave. Đọc xong bài phỏng vấn, Thiệu giận tím ruột.

Ông đã bảo Kissinger nhiều lần là Hà Nội coi Hội đồng ấy như một chính phủ liên hiệp thực sự, và giờ đây, ông đã có bằng chứng BV đòi cho MTGP cái quyền có một cơ cấu hành chính riêng tại miền Nam, để rồi đi đến một chính phủ liên hiệp, với sự hậu thuẫn của tất cả các lực lượng quân đội BV để lại.

Cuộc ngưng bắn “da beo” sẽ là căn bản cho một chính quyền đối nghịch. Hội đồng sẽ chính là cơ cấu để thực hiện chiến lược đó. Và đây là bằng chứng công khai.

Nhưng Thiệu quyết định không đưa “bằng chứng” ấy cho Kissinger coi, mà muốn xem chính ông này sẽ có nêu lên không: “Chúng tôi chơi trò mèo rình chuột với Kissinger và đợi xem ông ta sẽ nói gì, ông không hề đả động gì hết (về bài phỏng vấn ông Đồng)”.

Sau bốn mươi lăm phút họp vô kết quả, Thiệu nói với Kissinger là ông không thể ký các hiệp ước theo các điều kiện hiện hữu. Thế như Kissinger lại có cảm tưởng rằng Thiệu đang tìm cách dàn xếp theo ý mình muốn và lúc ra về cảm thấy phấn khởi.

Ông đánh điện ngay cho Nixon, rất lạc quan: “Tôi nghĩ là chúng tôi đã tìm được lối thoát”. Khi Kissinger bay qua Nam Vang, Bunker tiếp tục hội họp với phía VNCH và thông báo tòa Bạch cung rằng cả ông lẫn Kissinger đều thấy lạc quan khi họp với Thiệu. Bunker còn quả quyết rằng BV đã thất bại trong nỗ lực giành đất trước khi ngưng chiến.

Trong cùng ngày khi họp với HĐANQG, ông Thiệu cũng trấn an họ là sẽ không chấp nhận công thức liên hiệp, và ông tin chắc rằng Kissinger đã bị Hà Nội lừa.

Trong lúc Kissinger đang ở Nam Vang họp với Tổng thống Cam - bốt Lon Nol, thì các viên chức HK đi các nước Đông Nam Á thông báo cho Thái Lan, Đại Hàn và Lào là VNCH đã đồng ký kết hiệp định.

Tại Sài Gòn, theo chỉ thị của Kissinger, các viên chức tòa Đại sứ Mỹ cũng đi phao tin Thiệu sẽ ký!

Trong buổi gặp gỡ với Lon Nol tại Nam Vang, Kissinger còn nói năng như thể Thiệu đã hoàn toàn tán thành bản hiệp ước. Lon Nol bèn mở Champagne để chúc mừng.

Thiệu cho rằng VNCH hiểu BV hơn Mỹ, rằng Kissinger đã bị ông Thọ đánh lừa, hoặc đã có trao đổi bí mật gì với Hà Nội. Ông cố gắng giải thích cho Kissinger là ông không làm cản trở hòa bình, nhưng hiệp định là “một vấn đề sinh tử cho nước tôi”.

Thiệu càng tỏ ra cứng rắn, thì Kissinger lại càng nổi giận: “Đây là sự thất bại ngoại giao lớn nhất trong sự nghiệp của tôi”. Thiệu cũng bực tức hỏi: “Sao ông vội đi tranh giải hòa bình Nobel đến thế?”.

Kissinger quay lưng đi không đáp. Bunker, lúc này cũng đã nổi nóng, bèn tiếp tục cuộc đàm thoại: “Vậy thì, thưa Tổng thống, lập trường chót của Ngài là không ký, phải không?”.

Thiệu nói: “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở về Hoa Thịnh Đốn và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Nhất quyết không chịu để cho bao nhiêu nỗ lực của mình tan vỡ, Kissinger yêu cầu Thiệu cùng họp thêm một lần chót trước khi rời Sài Gòn vào sáng thứ Hai, ngày 23/10.

Thiệu hỏi: “Để làm gì?”.

Kissinger đáp: “Báo chí vẫn còn nghĩ là chúng ta gần đi tới được một giải pháp, vậy ta nên có một buổi họp ngắn để chứng tỏ rằng đang có sự tham khảo giữa các đồng minh”.

Thiệu nói: “Được rồi, nếu việc đó có thể giúp quý vị được chút nào, thì sáng mai ta có thể có một buổi họp ngắn, năm phút”.

Tám giờ sáng hôm sau, khi hai bên gặp nhau lại, sự việc đã rõ là Thiệu sẽ không thay đổi ý kiến. Ông trao cho Kissinger một lá thư riêng gửi Nixon, trong đó, ông tóm lược những điểm phản đối của VNCH, nhắc lại rằng ông muốn ký kết một hiệp định hòa bình, nhưng chỉ với những điều kiện thỏa đáng và khi nào đến đúng lúc.

Trước khi từ giã, Kissinger yêu cầu Thiệu: “Tôi yêu cầu có một sự đồng ý giữa chúng ta là không tiết lộ cho báo chí biết bất cứ điều gì đang diễn tiến. Hãy làm như chúng ta đã có được một buổi họp xây dựng”. Kissinger bắt tay Thiệu và vội vã ra về.

Tới phi trường Tân Sơn Nhất, Kissinger đã thấy một đám ký giả và nhiếp ảnh chờ sẵn. Ông ngừng lại vài phút. Có một phóng viên hỏi: “Chuyến đi này có được việc không?”.

- Được việc.

- Có xây dựng không?

- Xây dựng. Như bất cứ lần nào tôi đến đây.

- Ông có trở lại đây nữa không?

Ông không đáp, mà chỉ nhoẻn miệng cười ngoại giao nổi tiếng của mình.

Thiệu chỉ thị cho Nhã soạn thảo một bản nhận định mô tả “bốn ngày thảo luận xây dựng để đi đến một cuộc hòa giải”. Rồi ông triệu tập HĐANQG. Bằng những từ ngữ lạnh lùng, không xúc cảm, ông tóm lược những điểm bất đồng ý kiến trong mấy buổi họp cuối cùng với Kissinger và Bunker.

Ông nói: “Ta sẽ không ký kết trừ khi nào đã có được những sửa đổi”. Sau buổi họp này, Thiệu gặp Nhã riêng trong Dinh. Nhã hỏi: “Bây giờ mình sẽ làm gì? Đây là lúc phải có hành động cứng rắn. Chắc là khi về tới Hoa Thịnh Đốn, Kissinger sẽ gọi báo chí đến và bảo họ rằng mình làm trở ngại hòa bình. Ông ta sẽ nói là mình chơi xấu, không có thiện chí. Vậy thì mình phải hành động trước”.

Thiệu hỏi: “Hành động trước cách nào? Nếu nói ra những gì mình đã thảo luận, thì mình sẽ là người bội ước với Kissinger”.

Nhã đề nghị ông Thiệu lên đài truyền hình thảo luận về kế hoạch mới nhất của Hà Nội, theo như cuộc phỏng vấn ông Phạm Văn Đồng đã được đăng tải trên báo chí, và chỉ nên giới hạn vào kế hoạch đó thay vì nói đến những điểm ghi trong bản dự thảo hiệp định: “Vì những điểm này thực chất tương tự như bản văn Kissinger mang qua Sài Gòn, ta có thể chỉ tấn công mưu đồ của Cộng sản và ngụ ý rằng đó là những gì mình đã thảo luận với Kissinger…

Đó là lối lẩn tránh vấn đề rất khéo. Mình sẽ dùng chính kỹ thuật của Kissinger: Lấy gậy ông đập lưng ông”.

(Còn nữa)

(1): Ellsword Bunker - Đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH.
(2): Hoàng Đức Nhã - Bí thư kiêm Tham vụ báo chí của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu.

----------------------

(Trích từ cuốn sách “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập” – TS kinh tế học Nguyễn Tiến Hưng, nguyên cố vấn đặc biệt của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Jerrold L.Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time biên soạn).
- Trước khi rời Sài Gòn, Kissinger đã gửi một điệp văn (đề ngày 22 tháng 10) cho Nixon nói là vẫn hy vọng có thể giữ nguyên chương trình đã định, tức chuyến đi Hà Nội. Nhận được điện văn, Nixon tưởng lầm là Thiệu đã đồng ý.


Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống Hoa Kỳ, trao bút cho nhau sau khi cùng ký tắt Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Paris ngày 23 tháng Giêng 1973 Ảnh: Tư liệu


Nhưng rồi cùng ngày đó, ông lại nhận được một điện văn thứ 2, trong đó Kissinger chửi Thiệu thậm tệ: “Những yêu sách của tay này gần như điên khùng”. Nghe vậy, Nixon quyết định triệu hồi Kissinger về Hoa Thịnh Đốn.

Tức giận, ông cảnh báo Thiệu: “Nếu chiến tranh còn tiếp tục ở mức độ hiện nay trong sáu tháng nữa, thì Quốc hội sẽ cắt ngân khoản viện trợ cho VNCH”.

Trước đó hai hôm, ngày 21 tháng 10, Kissinger đã gửi điệp văn yêu cầu Nixon cho phép ông cứ đi Hà Nội, dù Sài Gòn phản kháng Hiệp định, nhưng Nixon đã cản ông lại.

Chỉ còn hai tuần lễ nữa là bầu cử; Nixon lưu ý Kissinger là hòa giải hấp tấp quá, mà không có sự ủng hộ của Thiệu, sẽ là một trở ngại chính trị. Nixon muốn giải quyết vấn đề Việt Nam sau bầu cử.

Bất chấp Bunker ngăn cản,Thiệu lên đài truyền thanh và truyền hình ngày 24/10 để trấn an dư luận, lúc đó đang xôn xao vì những tin đồn lan rộng, và mong được dân chúng ủng hộ.

Trong bài nói chuyện dài hai tiếng, ông bác bỏ mọi hình thức liên hệ và sự có mặt của 300 nghìn quân BV tại miền Nam. Ông đề nghị Sài Gòn và Hà Nội thương thuyết trực tiếp với nhau để giải quyết vấn đề quân sự, rồi Sài Gòn và chính phủ Cách mạng lâm thời thương thuyết một giải pháp chính trị.

Để phòng khi có ngưng bắn, Thiệu thúc giục dân chúng nên “chuẩn bị để chúng ta không rơi vào một vị trí bất lợi. Cho nên chúng ta đã hoạch định những biện pháp lôi kéo nhân dân trở về và bảo vệ xứ sở ta, quét sạch lực lượng địch và bảo đảm an toàn trên những trục giao thông… cũng như an ninh trong xã, ấp…

Tôi cũng ra lệnh bóp chết ngay mọi âm mưu từ trong trứng nước của Cộng sản, nhằm gieo rắc rối loạn và xúi giục nổi loạn,và hạ tầng cơ sở Cộng sản phải được càn quét nhanh chóng và không thương tiếc…”.

Trong nỗ lực ve vãn các giới chức tại Sài Gòn, Kissinger bây giờ thay đổi chiến thuật: ông tìm cách trấn an những người chung quanh Thiệu là sự ủng hộ của HK dành cho VNCH vẫn còn mạnh và chỉ thị cho tòa Đại sứ HK ở Sài Gòn dùng lá bài viện trợ để mua chuộc.

Tướng Trần Văn Đôn, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Quốc hội, kể lại rằng Charles Whitehouse, Phó Đại sứ đến gặp ông và nói: Hiệp định này cũng có khía cạnh tốt của nó. Nên ký đi: Chỉ là một mảnh giấy thôi, và sẽ chẳng thay đổi được gì đâu. Rồi ngài sẽ thấy!”.

Whitehouse và phụ tá Ngoại trưởng William H. Sullivan cũng đến tiếp xúc với Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Ngoại trưởng Trần Văn Lắm với các khuyến nghị là, tốt hơn hết, đừng nên thách thức người Mỹ và cũng đừng hoàn toàn bác bỏ các đề nghị của họ. Ở cấp thấp hơn, nhân viên tòa Đại sứ cũng đi gặp các viên chức VNCH và chiêu hàng món Hiệp định ấy.

Họ nhắn nhủ là cuộc ngưng bắn sẽ được tôn trọng và đừng lo ngại về sự có mặt của quân BV tại miền Nam,vì nó sẽ tan dần đi.Vì có thể chúng sẽ nhớ nhà, bị bệnh sốt rét ngã nước, bị chứng sâu quảng chân hay thổ tả, hoặc sẽ đào ngũ sang phía VNCH.

Người nào cũng được nghe một câu giải thích có tính dụ khị. Tướng lãnh thì được họ dụ là bản Hiệp định chỉ là một mảnh giấy; điều thực sự đáng kể là việc Tổng thống Hoa Kỳ sẵn sàng ủng hộ VNCH bằng vũ lực quân sự.

Các nhà ngoại giao như Vương Văn Bắc, lúc đó là Đại sứ tại Anh quốc, thì được Kissinger dụ rằng: “Bản Hiệp định cung ứng một văn bản hợp pháp để HK yểm trợ VNCH mà trước đó chưa hề có”. (Ngoài chức vụ đại sứ, Bắc còn là chuyên viên pháp lý của VNCH tại hội đàm Paris).

Kissinger lập luận: “Từ trước đến giờ, sự ủng hộ của HK đối với VNCH chỉ căn cứ vào những lời tuyên bố chính trị của các vị Tổng thống kể từ Eisenhower trở đi; như thế thì chúng tôi đâu có được cơ sở pháp luật nào để biện luận với Quốc hội đòi thêm viện trợ cho Việt Nam?

Bây giờ, chúng tôi cần có một tài liệu hợp pháp để yêu cầu Quốc hội tiếp tục viện trợ”. Bắc sau này nghĩ rằng, lập luận của Kissinger nghe cũng hợp lý, và còn cho là Kissinger có thể trở thành “một luật sư lỗi lạc”.

Lúc đó ở Sài Gòn, Kissinger còn cho Nhã xem một quyển sổ địa chỉ mầu đen mà ông bỏ túi, trong đó có rất nhiều địa chỉ của các nữ minh tinh Hollywood. Ông dụ Nhã: “Khi nào ký xong hiệp định, anh sang Mỹ chơi, tụi mình đi du hý!”. Đại úy Nguyễn Phú Lâm ở phủ Tổng thống kể lại rằng, Kissinger biết tính tướng Đặng Văn Quang thích quà cáp nên gửi tặng một đồng hồ mạ vàng.

Vì trục trặc ở Sài Gòn, Kissinger đã không tới Hà Nội để ký như đã hứa hẹn với Lê Đức Thọ. Dù Nixon đã gửi 2 điện văn cho Phạm Văn Đồng để cắt nghĩa sự sai hẹn (…) buổi họp mặt vào lúc 5 giờ sáng 26/10, Kissinger đang ngủ bỗng nhiên bị đánh thức dậy vì có tin đài phát thanh Hà Nội đã phổ biến đầy đủ chi tiết bản dự thảo Hiệp định, bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh, và còn nói rõ là Kissinger đã hứa đi Hà Nội ký rồi, mà bây giờ lại sai hẹn.

Ông bèn xin hội ngay với Nixon tại tòa Bạch Cung lúc 7 giờ sáng, hai người đồng ý là Kissinger sẽ triệu tập một cuộc họp báo lúc 10 giờ ngay sáng hôm đó.

Cuộc họp báo của Kissinger tại tòa Bạch Cung ngày 26 tháng 10 đã là một biến cố lạ - lần đầu tiên ông ta được Nixon cho phép xuất hiện trước máy truyền hình và lời nói được ghi vào biên bản chính thức.

Dường như cả hai người đều bị bất chợt và không có thời giờ sửa soạn kịp phản ứng BV. Phòng thuyết trình đầy nghẹt ký giả, ai cũng bối rối và hoài nghi. Kissinger bình tĩnh và có vẻ một giáo sư giảng bài lúc ông nói tiếng Anh bằng cái giọng Đức nặng của ông ta.

Ông làm ra vẻ rất tự tin bề ngoài, hứa sẽ giải thích cuộc hòa đàm hiện đã tới đâu về mặt thủ tục, thực chất cuộc thương thuyết ra sao, cũng như “từ đây ta sẽ đi về đâu”. Bằng cái lối lừa bịp cực giỏi, Kissinger tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng hòa bình hiện nay đang ở trong tầm tay.

Chúng tôi tin rằng một hiệp ước đang ở trong tầm mắt thấy, căn cứ vào đề nghị ngày 8 tháng 5 của Tổng thống, và vào một vài sửa đổi đề nghị ngày 25 tháng Giêng của chúng tôi, một đề nghị công bằng cho tất cả mọi phe”.

Thực ra, Kissinger lúc ấy đã tuyên bố với niềm lạc quan của một kẻ tuyệt vọng. Ông cứ khăng khăng cãi rằng chỉ còn phải giải quyết một vài vấn đề kém quan trọng hơn mà thôi.

Các ký giả bèn nêu câu hỏi, tại sao ông đã không đạt được một hòa giải tương tự bốn năm trước đây? Thực tế, đó là câu hỏi đầu tiên nêu lên với Kissinger.

Ông đáp loanh quanh: “Không thể đạt được hiệp ước này bốn năm trước đây vì phe bên kia nhất quyết không chịu thảo luận việc tách rời các vấn đề chính trị ra khỏi các vấn đề quân sự, bởi vì họ đã luôn luôn đòi phải giải quyết vấn đề chính trị với chúng ta, và đòi chúng ta phải quyết định trước tương lai của miền Nam VN trong một cuộc điều đình với BV”…

Hà Nội đã thành công trong việc đòi được thỏa mãn tất cả mọi yêu sách của mình, đôi khi còn được nhiều hơn cả yêu sách trước đây.

Điều khoản thứ hai của bản dự thảo hiệp định là một ví dụ điển hình: Nó đã bắt Mỹ phải rút quân trong vòng 60 ngày, trong khi theo như yêu sách cũ của Cộng sản năm 1969, thì chỉ đòi Mỹ rút đi chứ không đặt ra 1 thời hạn nào nhất định.

Sau khi nghiên cứu bài tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội và phần lược giải của Kissinger, Thiệu viết thư thẳng cho Nixon gay gắt phiền trách hành động của Kissinger.

Ông cũng chỉ trích thời biểu Kissinger đi Hà Nội hoạch định với CS mà không tham khảo với ông. Kissinger có nói rằng chỉ cần thêm một phiên thảo luận, kéo dài ba hay bốn ngày, với Hà Nội mà thôi, nhưng Thiệu đòi không được đặt ra một thời hạn nào cả.

Sự khiếu nại này của Thiệu có ý định chia rẽ Nixon và Kissinger và cho Nixon biết là Kissinger đã vượt qua chỉ thị của chính Nixon, thế nhưng nó đã không có kết quả.

Bực tức về giọng điệu của bức giác thư, Kissinger quyết định không để cho ông Thiệu hạ uy tín mình trước mặt Nixon; ông bèn đích thân thảo lá thư Nixon hồi âm Thiệu, ngày 29/10, được Đại sứ Bunker trao tay ngày 31/10, nội dung như sau:

Kính thưa Tổng thống

Tôi vừa cẩn thận đọc xong bức giác thư đề ngày 28/10/1972, nhan đề: “Giác thư về bài phát thanh của Hà Nội ngày 26/10/1972, và về phần lược giải cho báo chí TS Kissinger ngày 26/10/1972”. Như tôi đã thông báo cho ngài biết, TS Kissinger đã phát ngôn và sẽ tiếp tục phát ngôn thay mặt tôi. Đã không hề có và sẽ không có, một sự phân biệt nào giữa quan điểm của ông ta và quan điểm của tôi.

Như tôi đã viết cho ngài trong lá thư đề ngày 16 tháng 10, “Những lời bình luận của TS Kissinger có được sự hậu thuẫn hoàn toàn của tôi”.

Đặc biệt tham chiếu các điểm nêu lên trong bức giác thư nói trên, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy ngài yêu cầu chúng tôi phải bình luận về những điều xác nhận xuất phát từ Đài phát thanh Hà Nội. TS Kissinger đã giải thích đầy đủ và nói rõ rằng Hoa Kỳ “sẽ còn nghiên cứu thêm nữa” những gì đã thảo luận với đại diện của VNCH.

Bởi vậy, chính phủ Nam Việt Nam chẳng nên tự hỏi tại sao những thời hạn hoạch định lý thuyết (Ngụ ý chuyến đi của Kissinger) lại chỉ được thông báo cho Hà Nội; sự thực hiển nhiên là nó chỉ có tính cách tạm bợ, chưa chắc chắn và trong thực tế đã không có thời điểm nào được thực hiện cả. (Ngụ ý Kissinger đã không đi Hà Nội).

Buổi họp báo của tiến sỹ Kissinger đã được thực hiện theo chỉ thị chi tiết của tôi. Ông ta cố gắng hết mình để tránh cho Ngài khỏi bị mô tả như là một chướng ngại của hòa bình với hậu quả không thể tránh được là Quốc hội sẽ cắt ngân khoản HK tài trợ dành cho VNCH, và tạo ra những trở ngại thật to lớn cho việc HK tiếp tục yểm trợ Ngài và chính phủ Ngài. Sự chỉ trích liên tiếp từ Sài Gòn chỉ có thể phá hoại cố gắng đó.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực để xây dựng một mặt trận đoàn kết, nhưng nỗ lực đó sẽ vô ích, nếu không có sự cộng tác của cộng sự viên của Ngài. Tôi không thể quên lưu ý Ngài về đường lối nguy hiểm mà chính phủ Ngài đang đi theo.

Ngài đã biết sự cam kết vững chắc của tôi với cá nhân Ngài. Như tiến sỹ Kissinger và Đại sứ Bunker đã thông báo Ngài rõ, tôi xin nhấn mạnh sự cam kết đó bằng cách sẽ gặp Ngài trong vòng một hay hai tuần lễ sau khi ký kết bản hiệp định.

Tôi tin rằng tương lai tùy thuộc vào sự đoàn kết hiện có giữa chúng ta và vào mức độ mà ta có thể chứng tỏ quyết tâm rõ rệt để thực hiện những gì cần thiết trong những ngày sắp tới hòng đảm bảo việc thi hành nghiêm chỉnh những điều khoản của hiệp định.

Nếu tình đoàn kết của chúng ta đã là chủ yếu cho sự thành công từ trước tới nay trong chiến tranh, thì nó cũng sẽ là đảm bảo tốt nhất cho sự thành công tương lai khi mà cuộc đấu tranh sẽ được tiếp tục trong một khuôn khổ có tính cách chính trị hơn.

Tuy nhiên, nếu như chiều hướng bất hòa giữa chúng ta còn tiếp diễn, thì căn bản chủ yếu của sự ủng hộ của HK đối với Ngài và chính phủ Ngài sẽ bị phá hủy.

Về phương diện này, những bình luận của quý Ngoại trưởng rằng HK đang thương lượng một sự đầu hàng quả là vừa có hại vừa bất công và không đứng đắn.

Xin Ngài an tâm là những quyết định của tôi về những sắp xếp hòa bình không hề bị ảnh hưởng bởi cuộc bầu cử tại HK và Ngài chớ nên nuôi dưỡng ảo tưởng là chính sách của tôi nhằm sớm mang lại hòa bình sẽ thay đổi sau cuộc bầu cử…

Thưa Tổng thống, tôi khẩn khoản xin Ngài một lần nữa duy trì tình đoàn kết thiết yếu mà suốt bốn năm qua đã từng là đặc điểm tiêu biểu cho mọi quan hệ giữa chúng ta cũng như nó đã là căn bản cho sự thành đạt của ta từ trước đến nay.

Tình trạng chia rẽ sẽ làm tôi mất hết khả năng duy trì sự yểm trợ cần thiết mà chính phủ và nhân dân Ngài phải có trong những ngày sắp tới, sự yểm trợ mà tôi quyết tâm cung ứng.

Sự sốt sắng cộng tác sẽ có nghĩa là ta sẽ đạt được hòa bình xây dựng trên một hiệp định mà tôi cho là có thể thi hành được – nhất là khi nó đi kèm với những điều khoản bổ sung mà ta chắc chắn sẽ có.

Từ căn bản đó, chúng ta có thể tin tưởng và đoàn kết tiến tới chỗ giành được những mục tiêu hỗ trợ tương lai hòa bình và đoàn kết nhân dân miền Nam anh dũng.

------------

TP - Một ngày sau khi thắng cử vẻ vang (với gần 61% số phiếu, chưa có một ứng cử viên Đảng Cộng Hòa nào thắng lớn như vậy trong lịch sử Hoa Kỳ) Nixon lại viết cho Thiệu một lá thư dài để mở lại cuộc đối thoại về bản dự thảo Hiệp định chấm dứt chiến tranh.


Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 - Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao



Tướng Haig được ủy nhiệm mang lá thư sang Sài Gòn và giải thích cho ông Thiệu rõ ý định của Nixon. Kissinger đã hằn học về lời tố cáo của Thiệu, gọi bản Hiệp định là một sự “đầu hàng”. Về phần Thiệu, ông cũng đã không chịu đựng được Kissinger thêm nữa, vì tin rằng vị cố vấn An ninh Quốc gia này đã chỉ hành động theo nghị trình riêng của mình với sự đồng lõa của Bắc Việt.

Thiệu muốn nói chuyện thẳng với Nixon. Ông cho phát động trong giới báo chí Sài Gòn một chiến dịch gán cho Kissinger cái lỗi là đã không thông báo chính xác quan điểm của VNCH cho Nixon. Sau lần thất bại vừa rồi, Kissinger không còn mặt mũi nào trở lại Sài Gòn lần nữa, nên Nixon đã chọn Haig đi thay thế, để vừa xoa dịu, vừa khuyến khích Thiệu.Nixon trọng cái đức tính cứng cỏi của người quân nhân này, và cũng khéo léo dùng ông ta để “chơi” lại Kissinger. Nixon có thể tin Haig sẽ phục tùng mệnh lệnh của ông và không có một mưu cầu riêng tư nào khác là lên lon.

Haig tới Sài Gòn ngày 10 tháng 11 năm 1972, và đi ngay tới Dinh Độc Lập để trình lá thư Nixon, cũng lại do chính Kissinger thảo. Haig là một sứ giả lý tưởng. Vẻ gồ ghề, dáng điệu góc cạnh nhà binh của ông ta làm Thiệu thấy thoải mái. Haig đã từng phục vụ tại Việt Nam hồi năm 1966 – 67, trong chức vụ tiểu đoàn trưởng, và được cả lục quân HK lẫn chính phủ VNCH tưởng thưởng huy chương về sự dũng cảm trong khi tác chiến.

Với kinh nghiệm đầu tay, Haig hiểu biết tình hình quân sự tại Việt Nam, và qua các cuộc nói chuyện, Thiệu đã thấy Haig có thiện cảm với “chính nghĩa” của VNCH hơn là Kissinger. Tuy nhiên, ông chỉ là một người đưa tin, không có quyền hành gì cả, dù rằng có ảnh hưởng với Nixon.

Haig nói với Thiệu rằng Tổng thống Nixon đã quyết tâm đi tới chỗ ký kết nhưng cũng rất mong thỏa mãn những yêu sách của Sài Gòn. Trong phần phụ giải theo chỉ thị của Nixon, Haig không khéo nhấn mạnh ở điểm Thiệu phải có sáng kiến chính trị và tâm lý để tiến tới việc tái thiết miền Nam và củng cố quyền lực của mình.

Phần thưởng cho sự cộng tác với Hoa Kỳ sẽ là một cuộc họp mặt với Nixon. Dù Nixon vừa thắng cử lớn, nhưng về vấn đề Việt Nam thì Hạ viện HK không còn kiên nhẫn, và Thượng viện thì lại “bồ câu” hơn cả trước ngày bầu cử. Nếu không có được một dàn xếp nào trước khi quốc hội tái nhóm vào tháng Giêng năm 1973, và nếu Thiệu bị coi như một chướng ngại cho hòa bình, thị Thượng viện sẽ cắt ngân quỹ viện trợ cho VNCH.

Trước khi Haig tới Dinh Độc Lập với đại sứ Bunker, Thiệu đã bảo Nhã duyệt lại một “kế hoạch ý đồ”, đoán xem Haig sẽ có những đề nghị gì mới để liệu cách đối phó. Tới một cao điểm của phiên họp, Thiệu cho biết không thể chấp nhận Hiệp định Paris nếu không sửa đổi thêm. Haig đã toan nổi nóng, mắt nheo lại và hít thêm không khí đầy ngực.

Nhưng rồi lấy lại bình tĩnh, ông ôn tồn nói với Thiệu là nếu không đồng ý với Hiệp định, Hoa Kỳ sẽ bắt buộc phải “có hành động tàn bạo”. Dù không quen với những lời đe dọa lỗ mãng ấy, Bunker vẫn thản nhiên như không, chỉ nhích cặp lông mày lên một chút. Dù Thiệu đã đoán trước sẽ có một đe dọa nào đó, ông chỉ biết cười xòa, mà không yêu cầu Haig giải thích thêm lời đe dọa ấy. Haig coi bộ bứt rứt khi Thiệu không trả lời mà cũng không hỏi han thêm.

Lần này, lá thư của Nixon, đề ngày 18 tháng 11, 1972 có lời lẽ cứng rắn hơn, gay gắt hơn những lá thư viết trước kỳ bầu cử. Nhưng nếu Nixon đe dọa, thì ông ta cũng lại hứa hẹn thêm. Một vài đoạn điển hình:

Kính thưa Tổng thống,

Trước hết, tôi phải phát biểu nỗi thất vọng của tôi về điều mà tôi coi là một chiều hướng nguy hiểm trong mối liên hệ giữa hai quốc gia chúng ta, một xu hướng chỉ mang tới hậu quả là phá hoại những mục tiêu chung của chúng ta, và làm lợi cho kẻ địch.

Những sự bóp méo, đả kích liên tiếp bản Hiệp định đã không công bằng mà còn có tính cách chủ bại. Những sự xuyên tạc và đả kích đó vẫn còn dai dẳng bất chấp nhiều phản kháng của chúng tôi, kể cả lá thư ngày 29 tháng 10 của tôi gửi Ngài. Chúng đã làm cho chúng tôi bối rối và gây cho tôi nhiều trở ngại.

Trong những lần liên lạc trước, và trong những cuộc trình bày của TS Kissinger, và Đại sứ Bunker, chúng tôi đã giải thích nhiều lần tại sao chúng tôi coi bản dự thảo Hiệp định ấy là hợp lý; chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng nó phản ánh những nhượng bộ của phe bên kia, nó bảo vệ nền độc lập của Việt Nam, và cho phép nhân dân Việt Nam quyết định lấy tương lai chính trị cho chính mình.

Ngài cũng đã được thông báo đầy đủ về công cuộc tái thiết các khí cụ hiện đang được thực hiện để tăng cường các lực lượng của Ngài trước khi có đình chiến. Tôi đã rất nhiều lần gửi đến Ngài những bảo đảm chắc chắn chống lại trường hợp Hiệp định có thể bị vi phạm.

Tôi đã ngỏ ý muốn gặp Ngài một thời gian ngắn sau khi hiệp định được ký kết để biểu dương lại sự ủng hộ tiếp tục của chúng tôi. Tôi khỏi cần kể lại rất nhiều lập luận, giải thích, và những công tác đã được thực hiện. Chúng vẫn còn có hiệu lực.

Tôi thiển nghĩ là Ngài có hai lựa chọn chủ yếu. Ngài có thể dùng sự ủng hộ của dân chúng mà Ngài đã thâu lược được do những hành động mới đây để tuyên bố đã có thắng lợi quân sự mà bản Hiệp định phản ảnh; Ngài có thể cộng tác với đồng minh mạnh nhất của Ngài để mang lại thắng lợi chính trị do những điều kiện hiện hữu mang tới.

Ngài có thể nắm lấy sáng kiến chính trị và tâm lý bằng các hoan nghênh bản hiệp định và thi hành những điều khoản của nó theo một đường lối tích cực. Trong trường hợp này, tôi xin nhắc lại lời mời của tôi để gặp Ngài, một thời gian ngắn sau khi ký hiệp định, để nhấn mạnh sự hợp tác mật thiết liên tục giữa chúng ta.

Lựa chọn thứ hai là Ngài vẫn tiếp tục con đường mà dường như Ngài đang theo đuổi hiện nay. Theo ý tôi, thì điều đó sẽ có lợi cho kẻ địch và sẽ mang đến những hậu quả vô cùng trầm trọng cho cả hai dân tộc ta. Nó sẽ là một thảm họa cho dân tộc Ngài.

Thưa Tổng thống, tôi xin Ngài cho Đại tướng Haig biết ta có thể yên tâm tiến hành trên căn bản này không? Chúng tôi hiện đã tới một giai đoạn mà tôi cần biết đích xác liệu Ngài có sẽ tiếp tay với chúng tôi trong nỗ lực mà tướng Haig sẽ phác họa với Ngài không, hay là chúng tôi phải trù liệu các đường lối hành động khác mà tôi tin rằng sẽ thiệt hại cho quyền lợi của cả hai quốc gia chúng ta.

Tôi hy vọng Ngài và chính phủ Ngài sẵn sàng cộng tác với chúng tôi. Có rất nhiều công tác chuẩn bị cần được thực hiện và chúng tôi tin rằng các toán đặc nhiệm HK – VNCH phải khởi sự làm việc với nhau để chúng ta sẽ ở vào tư thế tốt nhất có thể có, ngõ hầu thi hành bản Hiệp định.

Tôi hoàn toàn tin rằng nhân dân Ngài, quân lực Ngài và chính bản thân Ngài đã giành được một thắng lợi lớn mà bản dự thảo Hiệp định sẽ xác nhận.

Ý định của tôi là sẽ xây dựng trên những thành quả đó. Tôi muốn được cộng tác với Ngài và chính phủ Ngài trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi để bảo vệ tự do tại miền Nam– trong thời bình, cũng như ta đã cộng tác trong nhiệm kỳ thứ nhất của tôi để bảo vệ nó trong thời chiến.

Trong bốn năm qua, Ngài và tôi đã là hai đồng minh thân thiết, trên bình diện cá nhân cũng như quân sự. Sự liên minh này sẽ đưa chúng ta tới một vị trí khiến kẻ địch đang thỏa thuận với những điều kiện mà bất cứ một quan sát viên vô tư nào cũng đã nói là không thể có được bốn năm trước đây. Sự liên minh của chúng ta và những thành quả của nó đã được xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau. Nếu Ngài tiếp tục tin cậy chúng tôi, thì cùng nhau chúng ta sẽ thành công.

Kính thư
(k.t) Richard Nixon

Sau khi Haig rời Dinh Độc Lập, Thiệu đọc lại lá thư một lần nữa rồi viết lên đầu thư: “Đọc cho Hội đồng và Task force (Toán đặc nhiệm) làm việc trên những điểm này”. Ông còn đánh ba dấu hỏi lớn ở lề lá thư, chỗ viết “Những sự bóp méo và đả kích liên tiếp bản hiệp định đã không công bình mà còn có tính cách chủ bại”.

Thiệu mất tinh thần về sự thay đổi giọng điệu của Nixon, nhất là câu mở đầu, “một chiều hướng nguy hiểm trong mối liên hệ...”.

Haig trở về Hoa Thịnh Đốn, mang theo thư của Thiệu và tin tưởng rằng rốt cuộc Thiệu sẽ đi theo. Ngày 12 tháng 11, ông phúc trình cho Nixon:

“Hiện giờ chúng ta đang phải đối phó với một tình thế nguy ngập. Thiệu nhất định đặt uy tín của ông ta lên cùng một chỗ với uy tín của toàn thể chính phủ ông ta... cho nên tôi nghĩ rằng, nếu ta cứ giữ một lập trường hoàn toàn không hợp lý với ông ta, thì có thể sẽ bắt buộc ông ta phải lâm vào chỗ tự sát chính trị. Trong trường hợp đó, tôi không chắc là quyền lợi của ta sẽ được phục vụ tối đa; cho nên tôi đề nghị một giải pháp nghe dễ sợ hơn, là cố gắng giải quyết vấn đề đó với Thiệu cho đến phút chót”.

Nixon đồng ý với phân tích của Haig “rằng cái giá phải trả để giữ Thiệu lại tất nhiên là nhiều rủi ro, nhưng tôi không tin là không thể chấp nhận được trong thời điểm này”. Ngày 8 tháng 12 đã được định là thời hạn chót để ký Hiệp định tại Paris. Nếu như vẫn không thể thuyết phục được Thiệu chịu ký vào lúc đó thì Nixon quyết định sẽ ký với BV một bản hiệp định riêng biệt. Nixon bây giờ lấy một giọng điệu ôn hòa hơn.

Ngày 14 tháng 11, ông gửi cho Thiệu một phúc thư, và điện báo sang Sài Gòn cho Bunker bảo trao lá thư vào tối ngày 14 tháng 11. Lá thư có nội dung kêu gọi VNCH cộng tác bằng cách viết rõ ra về “bảo đảm tuyệt đối” của HK trước khi điều đình tái tục tại Paris giữa Kissinger và Thọ vào ngày 20 tháng 11. Các đoạn chính lá thư như sau:

Kính thưa Tổng thống,

...Qua lá thư của Ngài và qua bản phúc trình riêng của Đại tướng Haig, tôi hiểu rằng mối quan tâm chính còn lại của Ngài đối với bản dự thảo hòa bình là tình trạng của lực lượng BV hiện nay ở Nam Việt Nam. Như Tướng Haig đã giải thích với Ngài, chúng tôi có ý định đối phó với vấn đề này bằng cách, thứ nhất, thêm vào bản dự thảo hiệp định một điều khoản đòi giảm quân và giải ngũ các lực lượng hai bên tại Nam Việt Nam... và đòi số quân nhân giải ngũ trở về quê quán họ.

Tôi sẽ không nhắc lại hết ở đây những gì tôi đã viết trong lá thư gửi Ngài ngày 8 tháng 11, nhưng tôi xin được tái khẳng định nội dung chủ yếu của nó và nhấn mạnh một lần nữa quyết tâm của tôi muốn đi tới một hiệp định sớm sủa, đại để như lịch trình mà tướng Haig đã giải thích với Ngài.

Tôi phải rất thành thực giải thích là mặc dù chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đạt được những thay đổi trong bản Hiệp định mà tướng Haig đã thảo luận với Ngài, và những thay đổi phụ mà Đại sứ Bunker sẽ trao đến Ngài. Chúng tôi không thể trông đợi là có thể đạt được tất cả. Thí dụ, nếu giả định rằng chúng tôi sẽ có thể đạt được những đảm bảo tuyệt đối mà Ngài hy vọng có được về vấn đề quân đội BV thì không thực tế.

Nhưng quan trọng hơn rất nhiều những gì chúng tôi nói trong Hiệp định về vấn đề này là những gì chúng tôi sẽ làm trong trường hợp kẻ địch tái diễn xâm lược. Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng: nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này, thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt.

Tôi tin rằng bản Hiệp định hiện có là một hiệp định, trong chủ yếu, hợp lý, và nó còn phải trở nên hợp lý hơn nữa nếu chúng ta thành công trong việc lấy được một số những thay đổi mà chúng ta đã thảo luận. Sự bảo đảm lớn nhất cho thành công là tiến tới hoàn cảnh mới này với lòng tin tưởng và cộng tác...

Trên hết chúng ta nên ghi vào tâm khảm những gì thực sự duy trì được bản Hiệp định: Chẳng phải là một điều khoản đặc biệt nào đó trong bản Hiệp định mà là sự quyết tâm của cả hai chúng ta để duy trì các điều khoản của nó. Tôi xin nhắc lại những bảo đảm của chính tôi với Ngài là Hoa Kỳ sẽ phản ứng thật mạnh mẽ và mau lẹ đối với bất cứ vi phạm Hiệp định nào. Nhưng để thực thi điều này một cách hữu hiệu, điều quan trọng là tôi phải có được hậu thuẫn của dân chúng, và chính phủ Ngài phải đừng tỏ ra như một trở ngại cho một nền hòa bình mà công luận Hoa Kỳ giờ đây hoàn toàn mong muốn. Chính vì lý do này, mà tôi tin là đi đôi với danh dự và công lý, một Hiệp định mà ta có thể làm cho trở nên an toàn bằng sự quyết tâm chung của chúng ta.

Nhà tôi và tôi xin gửi đến Phu nhân và Ngài những lời kính thăm nồng hậu nhất. Cả hai chúng tôi đều mong được gặp Ngài và quý Phu nhân lần nữa tại nhà riêng của chúng tôi ở California một khi nền hòa bình công chính mà chúng ta đã tranh đấu từ bấy lâu nay rốt cuộc đã hoàn thành.


TP - Ngày 18 tháng 11, hai ngày trước khi hòa đàm tái nhóm tại Paris, Thiệu mời Đại sứ Bunker đến và trao cho ông ta một bức giác thư đề nghị sáu mươi chín sửa đổi cho bản Hiệp định.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973. Ảnh: Tư liệu

Gần như điều khoản nào cũng có ghi một câu phản đối, trong đó mục đích tố cáo với Nixon là Kissinger đã cẩu thả, hoặc đã nhượng bộ BV.

Đồng thời Thiệu đề nghị gửi phụ tá ngoại giao Nguyễn Phú Đức, qua Hoa Thịnh Đốn để giải thích về những sửa đổi cần thiết. Biết rằng, Kissinger sắp lên đường qua Paris để gặp Lê Đức Thọ, Thiệu hi vọng rằng sứ giả của mình có thể gặp được Nixon ở Hoa Thịnh Đốn mà không có sự hiện diện của Kissinger, cùng lắm, chỉ có Tướng Haig là người còn có thiện cảm với miền Nam.

Thế nhưng, Kissinger lại cho việc Thiệu đề nghị gửi một sứ giả qua Mỹ là “một cái tát vào mặt tôi và là một chiến thuật tránh né lỳ lợm vì không có cách nào một người sứ giả có thể đến kịp Hoa Thịnh Đốn trước khi tôi phải khởi hành”.

Muốn giữ chặt các cuộc kiểm soát trước cuộc thương thuyết, Kissinger nhất định yêu cầu Nixon để ông có mặt trong buổi họp. Theo Kissinger, thì Nixon đã “gửi Thiệu, một lá thư lạnh lùng, cảnh báo là những thay đổi không thể nào đạt được tất cả và từ chối không tiếp một sứ giả cho đến khi nào các cuộc thương lượng với Hà Nội sắp tới được hoàn tất”.

Thực ra lá thư đã có lời lẽ rất là hòa dịu. Nội dung lá thư ngày 18 tháng 11 đó như sau:

Kính thưa Tổng thống,

Tôi đã hết sức cẩn thận đọc bức thư ngày 18 tháng 11 của Chính phủ VNCH. Tôi tin chắc Ngài đã thừa hiểu những khó khăn xẩy cho chúng tôi khi Ngài đưa ra một danh sách đòi rất nhiều những sửa đổi khác sau khi đã có biết bao đề nghị sửa đổi mà chúng ta đã thảo luận.

Dù sao chăng nữa, tôi sẽ chỉ thị cho TS Kissinger tìm cách để đưa ra những đề nghị của Ngài một cách tối đa. Tuy nhiên, tôi phải xin giải thích với Ngài rằng, thứ nhất nếu viết vào Hiệp định một cách rõ ràng về vấn đề quân đội BV tại miền Nam thì có điều bất lợi là như thế ta đã hợp thức hóa bất cứ lực lượng nào còn ở lại và thứ hai, như chúng tôi đã nói nhiều lần việc đó hiển nhiên không thể đòi được.

Thêm nữa, vào lúc này không thể nào thay đổi được thành phần của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Còn về những thay đổi khác, TS Kissinger sẽ trình bầy cho quý Đại sứ (của Ngài tại Paris) biết về những nhượng bộ nào đã đạt được vào buổi chiều mỗi ngày.

Chỉ thị của tôi cho TS Kissinger là làm áp lực tối đa để đưa ra những đề nghị của Ngài. Tuy nhiên, tôi phải xin giải thích là sẽ không thể hủy bỏ bản Hiệp định hoặc đồng ý với những đề nghị chồng chất thêm nữa của Ngài khi những Hiệp định đó cũng sẽ đưa tới cùng một hậu quả (là hủy bỏ Hiệp định). Cho nên có thể là không thể đòi hết được tất cả mọi sự sửa đổi như Ngài muốn.

Riêng về đề nghị gửi một sứ giả qua Hoa Thịnh Đốn, tôi tin rằng, sau hai chuyến viếng thăm của TS Kissinger và ba chuyến của Đại tướng Haig,ba lá thư riêng của tôi cùng vô số những trao đổi qua Đại sứ Bunker cũng như tất cả mọi bức thông điệp của Ngài mà tôi đã được đọc, chúng tôi đã có đầy đủ những đề nghị của Ngài về cuộc thương thuyết trong giai đoạn này.

Cho nên, tôi thiển nghĩ rằng, cơ hội thuận tiện nhất để tôi gặp sứ giả của Ngài là ngay sau cuộc họp tới ở Paris, khi chúng ta đã có được một số vấn đề mới để cứu xét chung. Bởi thế, nếu Ngài lựa chọn ông Đức làm sứ giả của Ngài thì tôi xin đề nghị ông nên qua Hoa Thịnh Đốn trên chuyến máy bay cùng với TS Kissinger ngay sau khi chấm dứt cuộc thảo luận sắp tới tại Paris.

Mặt khác, nếu như Ngài chọn Ngoại trưởng Lắm làm vị sứ giả của Ngài, thì tôi đề nghị ông đó qua Paris ngay và tham dự các cuộc thảo luận tiếp theo mọi phiên họp trong ngày và rồi cùng trở về Hoa Thịnh Đốn với TS Kissinger để họp với tôi.

Một lần nữa, tôi khẩn khoản xin Ngài liên kết với chúng tôi trên đường hướng mà tôi quyết chí theo đuổi. Một lần nữa, tôi cũng phải xin Ngài hiểu rõ mối nguy hiểm lớn lao khi Ngài làm mất sự ủng hộ của quần chúng tại KH, với tất cả những rủi ro cho sự tiếp tục nỗ lực chung của chúng ta. Lẽ tất nhiên chúng ta sẽ liên lạc mật thiết sau khi các cuộc hòa đàm tại Paris hoàn tất.

Kính
(kt) Richard Nixon

Kissinger đã dằn mặt Thiệu, bắt sứ giả VNCH phải cùng đi máy bay với mình về Mỹ để cùng gặp Nixon! Thiệu thất vọng là Nixon không tiếp ông Đức trong thời gian Kissinger đi vắng. Thế nhưng, ông không còn cách nào khác hơn là chấp nhận phản đề nghị của Nixon.

Trên trang hai lá thư Nixon (mà bản văn đã được Đại sứ Bunker chuyển đạt tới ông ngày 19 tháng 11), Thiệu viết chỉ thị cho Đức là “đi kịp thời”, cùng mang tài liệu theo và theo dõi tại Balê.

Kissinger tới Paris ngày 19 tháng 11, và họp phiên thứ nhất với Lê Đức Thọ vào ngày thứ Hai, 20/11/1972, tại ngôi nhà cũ của họa sĩ Leger ở Gif-sur-Yvette, ngoại ô Paris. Phe VNCH lập một toán đặc nhiệm để theo dõi hòa đàm. Ba Đại sứ VNCH ở Hoa Thịnh Đốn, London, và tại Hòa đàm Paris đều có mặt.

Đức và Nhã cũng được cử qua Pháp, với nhiệm vụ phụ tá các đại sứ và thảo một bức thư cho Nixon để Đức mang theo Hoa Thịnh Đốn sau khi kết thúc tuần hội họp với BV.

Trước khi đi, Nhã đã xin Thiệu ký tên ở nhiều chỗ khác nhau trên năm trang giấy in con dấu Tổng thống. Làm như thế, khi đánh máy trên trang chót, chữ ký của Thiệu sẽ ở vào đúng chỗ, và không ai sẽ biết là lá thư đã được ký sẵn ở Saigon...

Khi Đức từ Paris sửa soạn đi Hoa Thịnh Đốn để gặp Nixon, thì qua tình báo, Kissinger đã biết được rằng ông Thiệu đang “cố tình làm bế tắc như xưa”.

Ngày 23 tháng 11, Nixon lại gửi cho Thiệu một thông điệp, cùng với con dấu TỐI MẬT/TẾ NHỊ, qua sự chuyển đạt của Đại sứ Bunker. Lá thư với lời lẽ hằn học và đe dọa:

Kính thưa Tổng thống,

Tôi càng ngày càng kinh ngạc và e ngại về những vận động báo chí xuất phát từ Saigon. Có những luận điệu vô căn cứ là cộng sự viên của tôi đã không thông báo cho tôi chính xác về quan điểm của Ngài, cho nên Ngài đã phải cử sangWashington một đặc sứ để hoàn thành công tác ấy. Những lời chỉ trích vô căn cứ đối với bản dự thảo Hiệp định lại vẫn còn đang tiếp tục và càng ngày càng gia tăng.

Thêm nữa, tôi còn kinh ngạc về chiến thuật trì hoãn mà phái đoàn của VNCH đang áp dụng với chúng tôi tại Paris. Đã rõ ràng là đại diện của Ngài ở đó đã không tìm được kịp thời những câu trả lời mà chúng tôi cần phải có nếu muốn trình bầy đầy đủ quan điểm của Ngài trong các cuộc thương thuyết, kể cả những Nghị định thư có liên quan đến bản dự thảo Hiệp định, mà chúng tôi đã chuyển đến chính phủ Ngài tại Saigon khoảng hai tuần lễ trước đây.

Như tôi đã thưa với Ngài trong các lá thư của tôi đề ngày 8, 14, 18 tháng 11, tôi sẽ tiếp xúc mau lẹ để đi tới một giải pháp cuối cùng nếu chúng tôi có thể kết thúc được tại Paris một bản Hiệp định chót, khả dĩ có thể chấp nhận được trong tuần này.

Vì đã có những văn thư rõ ràng của tôi và những thông điệp do các đại diện của tôi chuyển đến Ngài trong nhiều tuần lễ qua, nên bất cứ sự trì hoãn nào nữa về phía Ngài sẽ chỉ có thể giải thích như một nỗ lực của Ngài để hủy bỏ Hiệp định. Sự việc này sẽ có một hậu quả hết sức tai hại tới khả năng của tôi trong việc tiếp tục yểm trợ Ngài và chính phủ Ngài.

Tôi mong được gặp quý sứ giả tại Washington ngay khi nào các phiên họp ở Paris đã kết thúc, nhưng trong lúc này, tôi phải khẩn khoản xin Ngài một lần chót này là chớ tự mình làm cho chúng ta nghịch nhau mà không có cách nào cứu vãn lại được.

Nếu đường lối hành động hiện nay còn tiếp tục và nếu Ngài không cùng chúng tôi ký kết với Hà Nội một hiệp định thỏa đáng, thì xin Ngài phải hiểu rằng tôi sẽ tiến hành với bất cứ giá nào.

Kính thư
(kt) Richard Nixon

Vào ngày thứ Bảy, ngày 25 tháng 11, Kissinger lại gặp Lê Đức Thọ lần nữa, và cuộc thương thảo đến chỗ bế tắc. Các phiên họp đã được hoãn lại đến mồng 4 tháng Chạp. Phía VNCH mừng rỡ.

Tại Hà Nội, tờ Nhân Dân, trong một bài xã luận ký tên “Người Bình luận” – bút hiệu của Bộ Chính trị – hỏi rằng có phải hành động của Kissinger tại Paris đã là “một đòi hỏi ta phải hoàn toàn xét lại vấn đề hay chăng?

Đây có phải là một mánh khóe để kéo dài các cuộc thảo luận với hy vọng che đậy những hành vi leo thang và kéo dài chiến tranh để tiếp tục theo đuổi một thắng lợi quân sự ảo tưởng hay không?”.

Kissinger trở về Washington, Nguyễn Phú Đức họp riêng với toán đặc nhiệm tại Paris để soạn thảo một lá thư dài hai – mươi – lăm trang mang chữ ký của Thiệu, để gửi cho Nixon trong nỗ lực phá vỡ kế hoạch của Kissinger và lấy được thiện cảm của Nixon.

Ngày 29 tháng 11, Đức và Đại sứ Phượng được Kissinger đưa vào Bạch Cung để trình – Kissinger mô tả – “một lá thư hết sức dài hùng biện của Thiệu gửi Nixon”.

Trong thư, Thiệu kể lại những nhượng bộ mà Saigon đã phải chấp nhận trong những năm qua với lời hứa hẹn của HK là sẽ không bắt Sài Gòn phải nhận thêm một nhượng bộ nào nữa. Nhưng Mỹ đã bội ước. Thiệu còn nói ông có thể khiếu nại với dư luận thế giới nếu những đòi hỏi “chính đáng” của VNCH không được thỏa mãn.

Trong hồi ký, Kissinger sau này nhận định rằng “tất nhiên, Thiệu nói đúng, điều bi thảm là những gì Thiệu coi là áp lực quá quắt của chúng tôi thì lại bị nhiều người chỉ trích là chưa đủ và còn coi ta là ngoan cố thô bỉ.

Chúng tôi đã phải chèo lái trong cái vực biển chia cách đó: Chấp nhận quan điểm của Thiệu vào giờ phút muộn màng lúc đó ắt sẽ bảo đảm sự sụp đổ của mọi ủng hộ còn lại tại quốc nội”. Kissinger đã quên không viết là lúc ấy, ông đang muốn khuyến khích một cái nhìn tiêu cực về Thiệu trong các cuộc gặp gỡ riêng tư với giới báo chí Mỹ.

Nixon quyết tâm thuyết phục Thiệu là bản Hiệp định cần phải được ký kết, không thể trì hoãn thêm nữa, và giữa ông ta với Kissinger không có một dị biệt nào hết.

“Chúng tôi hồi ấy nghĩ rằng, nếu trình bày thẳng thắn một cách tàn bạo cho Đức biết (tình hình) thì Thiệu chắc chắn sẽ phải nhận thức được cái bấp bênh trong tư thế của ông ta và mối nguy cơ ông sẽ gặp phải nếu bị bỏ rơi.

Tôi nói với ông Đức rằng không phải là vấn đề thiếu thông cảm với tình trạng khó khăn của Saigon, nhưng ta phải đương đầu với thực tế của tình hình. Nếu ta không chấm dứt chiến tranh bằng cách ký kết hòa giải trong phiên họp tới ở Paris, thì khi tái nhóm vào tháng Giêng, Quốc hội sẽ chấm dứt chiến tranh bằng cách cắt giảm viện trợ”.

Lấy giọng điệu tàn nhẫn, Nixon giải thích là không thể có con đường nào khác cho HK chọn lựa. Ông nói là Hội đồng hòa giải dân tộc chẳng thể mô tả là một chính phủ liên hiệp được, bởi nó là một tổ chức được điều hành theo nguyên tắc nhất trí (nghĩa là bất cứ quyết định nào cũng cần phải có cả 3 bên đồng ý mới được), chỉ có vai trò tư vấn, được các phe đồng tuyển lựa và có rất ít nhiệm vụ đặc thù.

Ông nói là HK không thể quay trở lại được nữa, và dù thái độ của Saigon thế nào đi chăng nữa, nó cũng không định đoạt được kết quả của cuộc đàm phán, mà còn có thể ảnh hưởng đến khả năng của HK cung ứng viện trợ cho VNCH sau khi đình chiến, và khả năng của Hoa Kỳ bảo đảm cho Hiệp định.

Ông Đức nhất định bám chặt lấy những chỉ thị đã nhận được, ông ngồi nghe cẩn thận và khẳng định là VNCH không hề có ý muốn đương đầu, chống chọi. Sau đó, Nixon đề nghị Kissinger và Đức hội với nhau để tìm một “giải pháp thực tế”.

Đức gặp Kissinger hai lần, và hội với Nixon một lần nữa. Nixon trấn an Đức rằng ông tin chắc sẽ có đủ khả năng để phát giác nếu BV còn xâm nhập xuống miền Nam.

Rồi ông bàn đến những kế hoạch để đối phó với những trường hợp BV vi phạm đình chiến, kế hoạch đã được các tham mưu trưởng liên quân HK soạn thảo để phòng hờ những vi phạm đó. Một lần nữa, Nixon lại cảnh báo là nếu thỏa hiệp không được ký kết, Quốc hội có thể sẽ cắt viện trợ vào khoảng giữa tháng Giêng.

Đó là lần đầu tiên Nixon và Kissinger phác họa cho VNCH biết một kế hoạch quân sự tối mật nhằm theo dõi các đơn vị, căn cứ của quân BV kể cả sau ngưng bắn.

Nixon cho hay là sẽ có một hệ thống liên lạc nối liền Đệ thất không lực HK tại “NKP” (tiếng lóng của quân sự để gọi căn cứ không quân Nkorn Phanom ở Thái Lan) với Saigon và bộ tư lệnh bốn vùng chiến thuật ở miền Nam.

Các tư lệnh quân lực VNCH sẽ có thể trực tiếp liên lạc với tư lệnh Đệ thất không lực HK là Tướng John W.Vogt, tại căn cứ Thái Lan và các mục tiêu sẽ được cập nhật hóa hàng tuần.

Kế hoạch mật này đã có một tác dụng lớn khiến Thiệu yên tâm là HK thực sự cam kết bắt BV tôn trọng Hiệp định. Thiệu còn được thông báo rằng từ Thái Lan, máy bay chiến thuật sẽ được phóng đi tấn công BV và những cuộc oanh tạc bằng B – 52 sẽ được phối hợp với VNCH nếu BV vi phạm thỏa hiệp.

Trong các lá thư gửi cho Thiệu, rồi trong buổi họp với Đức, Nixon đã lập đi lập lại hoài rằng HK cam kết sẽ quyết tâm bắt BV phải tôn trọng đình chiến và trả đũa nhanh chóng và mạnh mẽ nếu BV vi phạm hiệp định.

Theo ông, thì việc này còn quan trọng hơn cả hiệp định nữa. Đường dây liên lạc nối với căn cứ HK tại Thái Lan là một bảo đảm cụ thể dưới mắt Thiệu và ông chắc chắn là nó sẽ được sử dụng.

Trở về sứ quán sau cuộc gặp gỡ với Nixon, Đức bảo Nhã là ông và Phượng có cảm tưởng Nixon đã ngạc nhiên về nội dung lá thư mới được chuyển tới.

Dù Nixon đã không thay đổi lập trường, phía Việt Nam tin rằng mình đã chiếm được chú tâm của Tổng thống HK đến những mối quan tâm của Saigon và đã đặt Kissinger vào thế thủ, ngoài ra, còn mua thêm được thời giờ trước khi ký kết hiệp định. Nói cách khác, Nixon đã bắt buộc phải lựa chọn giữa Hà Nội và Saigon.

Đức bay về Saigon phúc trình cho Thiệu về chuyến đi HK, nhưng Thiệu vẫn không phản ứng gì. Phía HK, Nixon bèn tham khảo với Kissinger và nói rằng ông tin Thiệu đang chơi trò “thi gan lì”, và HK có lẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là tấn công ông Thiệu.

Ngày mồng 4 tháng Chạp, hòa đàm tái nhóm tại Paris. Người ta nhận thấy là BV đang tự kìm hãm và sẽ khó mà đi tới được thỏa hiệp.Trong một phiên thảo luận riêng với Kissinger, Lê Đức Thọ buộc tội HK là đang cố gắng củng cố “chính quyền bù nhìn” ở Saigon.

Kissinger bèn đánh điện cho Mạc-tư-khoa và thúc Liên Xô dùng uy thế để áp lực Hà Nội; Nga khuyên Hoa Thịnh Đốn nên kiên nhẫn. Phó Tổng thống Agnew chực sẵn ở Washington đợi tin mới từ Paris để bay qua Saigon, thảo luận về bản dự thảo Hiệp định chót với Thiệu. Kissinger vẫn thúc bách mọi phe lấy ngày 22 tháng Chạp làm hạn chót.

Ngày 7 tháng Chạp, Kissinger và Lê Đức Thọ lại gặp nhau trong bốn tiếng đồng hồ nữa, và Kissinger cảm thấy là triển vọng thỏa hiệp đang xa mờ dần.

Dường như đã ý thức được lập trường của Nixon sau khi gặp Đức là muốn có bảo đảm chắc chắn cho VNCH với những cam kết sẽ trả đũa BV nếu họ vi phạm đình chiến, Kissinger khôn khéo điện từ Paris về cho Nixon nói lại luận điệu cũ là tuy Hà Nội sẽ không bao giờ từ bỏ mộng thôn tính miền Nam nhưng họ sẽ đổi chiến lược từ quân sự sang chính trị và chỉ hướng về tranh đấu chính trị mà thôi.

Điều này thì chắc là lọt tai Nixon: Ông cho là Saigon đủ sức tranh đấu chính trị, còn nếu Hà Nội đánh lớn, thì ông sẽ can thiệp. Điện tín của Kissinger như sau:

Sau khi thăm dò thêm ý định của Hà Nội, bây giờ ta đã thấy hiển nhiên là họ đã không hề từ bỏ những mục tiêu hay tham vọng của họ đối với Nam Việt Nam. Điều họ đã làm là quyết định thay đổi chiến lược bằng cách chuyển từ chiến tranh quy ước và chủ lực sang một chiến lược chính trị và nổi dậy trong khuôn khổ dự thảo Hiệp định.

Cho nên, chúng ta không thể trông đợi một nền hòa bình trường cửu tiếp theo sau một Hiệp định đã hoàn thành, mà chỉ là một sự chuyển hướng trong cách thức tranh đấu của Hà Nội mà thôi.

Có lẽ chúng ta sẽ có ít cơ hội duy trì thỏa ước mà không có được một sự chuẩn bị mau nhậy rõ rệt từ phía HK, để bắt tôn trọng các điều khoản: sự chuẩn bị đó thực sự sẽ bị thử thách bất cứ lúc nào.

Cho nên, chúng ta còn lại có câu hỏi tôi đã nêu lên hồi đầu, là: tiếp tục chiến đấu bằng cách hủy bỏ thỏa hiệp bây giờ có tốt hơn là bị bắt buộc phải có phản ứng sau này, một phản ứng được biện minh bằng sự vi phạm một Hiệp định đã được long trọng ký kết hay không.

Tuy nói thế cho lọt tai Nixon, nhưng Kissinger lại dần dần đưa Nixon tới chỗ chấp nhận đề nghị của ông là cứ xúc tiến đi đến thỏa hiệp, và Nixon đã đồng ý, nói rằng ông muốn bất cứ một thỏa hiệp nào hơn là đình hoãn. Ông chỉ thị cho Kissinger cố tìm cho được “đôi chút” tiến bộ trong bản dự thảo tháng Mười.

Theo lệnh Nixon, Kissinger trở lại thương lượng với Lê Đức Thọ để tới một thỏa hiệp. Nixon đã ấn định thời hạn chót là Ngày Nhậm Chức, 20 tháng Giêng, 1973, để ký kết với Hà Nội, Nixon muốn đi vào nhiệm kỳ thứ hai của mình trong ánh hào quang của hòa bình.

Sau vài phiên họp với Lê Đức Thọ, Kissinger đã đề nghị hai lựa chọn cho Nixon. Lựa chọn một: HK sẽ đồng ý đi tới một thỏa hiệp ngay tức thì với những điều kiện tốt nhất có thể thương lượng được. Lựa chọn hai: HK sẽ bỏ Thiệu nhưng vẫn oanh tạc BV cho tới khi nào Hà Nội đồng ý trả lại tù binh Mỹ đổi lấy sự rút quân hoàn toàn của Mỹ.

Mới đầu, Nixon tán thành lựa chọn Một, nhưng rồi ông nghĩ lại, và gửi công điện báo ngay cho Kissinger là ông có thể gián đoạn cuộc hòa đàm, lấy cớ là cho các phe thương nghị thời giờ tham khảo chính phủ mỗi bên.

Trong mười ngày họp tối quan trọng này, vấn đề khó khăn nhất là tình trạng của vùng Phi Quân Sự phân cách Bắc-Nam. Thiệu nhất định đòi vùng Phi Quân Sự phải được thừa nhận là khu vực chia đôi Bắc-Nam, như thế để miền Nam ít nhất cũng có được một ranh giới và như vậy mới chính thức hóa sự phân biệt giữa hai miền.

Đối với BV, không công nhận vùng Phi Quân Sự làm ranh giới hai bên cũng là một điều hết sức quan trọng. Vì họ vẫn chủ trương là chỉ có một nước Việt Nam và như thế quân đội của họ muốn đóng ở đâu thì đóng, không có vấn đề rút quân ra khỏi miền Nam.

Thiệu sợ rằng nếu BV không chịu thừa nhận tính bất khả xâm phạm của vùng Phi Quân Sự, họ sẽ chuyển quân vào miền Nam để tiếp tay với những lực lượng đã có sẵn ở đó và mở một cuộc tấn công đại quy mô chinh phục miền Nam. Lo ngại của ông đúng vì Lê Đức Thọ nhất định không chịu công nhận vùng Phi Quân Sự và đòi quyền di chuyển dân và quân đội qua ngả đó.

Ngày 14 tháng Chạp, Lê Đức Thọ nói là phải trở về Hà Nội để tham khảo và lấy chỉ thị của Bộ Chính trị về vấn đề này. Ngày 15/12, Kissinger bay trở về Washington, trong lòng rầu rĩ.

Về đến nơi, Kissinger vào gặp Nixon và Haig tại văn phòng riêng của Tổng thống. Cả hai người này đang lưỡng lự và ưu tư về việc ký kết thỏa ước trước những lời phản đối của Thiệu cũng như sự ngoan cố của BV.

… Ngày 20 tháng Giêng (1973) Nixon gửi tối hậu thư cho Thiệu bắt trả lời trước 12 giờ trưa ngày 21, giờ Washington. Trong thư, Nixon nói sẽ gặp các nhà lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ vào tối ngày 21 tháng Giêng để trình bày đường lối hành động.

Nếu ông Thiệu không trả lời vào đúng giờ ấn định, Nixon sẽ ra lệnh cho Kissinger đơn phương phê chuẩn bản thỏa hiệp, trong trường hợp đó, dù ông Thiệu có theo sau, vấn đề viện trợ cũng sẽ bị giảm bớt nhiều. Cuối cùng, ông Thiệu chịu nhượng bộ…

Trong bầu trời xám ngắt lạnh lẽo và mưa sụt sùi của buổi chiều ngày thứ Ba tháng Giêng (1973), hồi 12 giờ 45, Kissinger và Lê Đức Thọ phê chuẩn Hiệp định Paris tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, khách sạn Majestique Đại lộ Kleber. Kissinger ký bằng hai chữ HK nối liền và Lê Đức Thọ vỏn vẹn “Thọ”!

Ngày ký kết chính thức bản Hiệp định, 27 tháng Giêng, là lúc cả hai bên tranh thế lợi điểm khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

---------------------



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của donkihotexuthanh

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
,

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™