Ghi chú đến thành viên
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 18-05-2008, 10:32 AM
donkihotexuthanh's Avatar
donkihotexuthanh donkihotexuthanh is offline
Phá Quan Hạ Sơn
 
Tham gia: Apr 2008
Bài gởi: 293
Thời gian online: 0 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 11 Times in 5 Posts
Điện Biên Phủ trên không

Thảm bại của "pháo đài bay"
(VietNamNet) - Những ngày mùa đông 35 năm trước, cả Hà Nội rực lửa với 12 ngày đêm "đất rung, ngói tan, gạch nát". Hà Nội kiên cường khuất phục "pháo đài bay B.52" và làm nên một "Điện Biên Phủ trên không".

35 năm, đã là quá khứ, Hà Nội hôm nay đã “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” ở tất cả góc cạnh. Những dấu vết của chiến tranh chỉ còn trong bảo tàng, ở một vài tượng đài kỷ niệm và trong trí nhớ của những người đã lớn tuổi, nhưng không một ai, không một điều gì bị quên lãng. 35 năm trước vẫn rất sống động trong ký ức và cả hồi niệm của nhiều người ngày đó.

"Sút bóng trước khung thành"

Trong bối cảnh lịch sử, tháng 5/1972, Tổng thống Mỹ Nixon hạ lệnh mở chiến dịch không quân “Linebecker 1”- Tiền vệ, dùng B.52 đánh rải thảm bom đường mòn Hồ Chí Minh, chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Nhưng không thể làm được gì.

Quân Mỹ gặp thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam. Mỹ liều lĩnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, nhằm khống chế thắng lợi của ta, buộc ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong đàm phán, kết thúc chiến tranh.

Hà Nội không thể quên ngày 18/12/1972. Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh bắt đầu chiến dịch “Linebacker 2”- Sút bóng trước khung thành, dùng máy bay chiến lược B.52, cường kích “tàng hình” F111A và hàng ngàn chiến đấu cơ tiêm kích chiến thuật, cùng sự hỗ trợ của 5 tàu sân bay tấn công Hà Nội, Hải Phòng với mục đích: "Đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”.

Từ ngày 18-29/12/1972, 12 ngày đêm Hà Nội rực lửa, với "đất rung, ngói tan, gạch nát". Nhưng, quân và dân Hà Nội hiệp đồng tác chiến, với những cách đánh mưu trí, dũng cảm, sáng tạo làm lưới lửa của tên lửa phòng không, pháo phòng không các loại, bủa vây máy bay Mỹ.

Hình ảnh của Hà Nội những ngày cuối năm 1972 được mô tả bằng các cụm từ hiên ngang, ngẩng cao đầu trực diện với kẻ thù.

“Điện Biên Phủ trên không” là cụm từ mà báo chí phương Tây ngày ấy đã "giật tít” như thế để diễn tả thất bại cuộc tấn công chiến lược của Mỹ ở Hà Nội. Và cùng với những thắng lợi trên chiến trường miền Nam, Mỹ bắt buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ngày 27/1/1973 ở thế của kẻ thua trận.

Những người thầm lặng

Trong chiến dịch "Linebacker 1”, Mỹ đã đưa máy bay chiến lược B.52 rải bom xuống chiến trường miền Nam. Như đã dự liệu trước, ta đã có chỉ thị cho các nhà nghiên cứu khoa học quân sự nghiên cứu cách bắn hạ B.52. Đồng thời, kết hợp với những chiến sĩ tình báo chiến lược của ta tìm tài liệu về loại máy bay này.

Đến tháng 9/1972, tài liệu “Cách đánh B.52”- hay còn gọi là “Cẩm nang đỏ”, sau nhiều lần bổ sung, hoàn chỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của các đơn vị phòng không. Đặc biệt, ngày 22/11/1972, ta bắn hạ 1 chiếc B.52 ở phía tây Nghệ An, đã bổ sung thực tế về cách đánh B.52 hay là "pháo đài bay" của đối phương.

Chiến thắng 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, còn có một phần đóng góp thầm lặng của các chiến sĩ tình báo, đã mưu trí, dũng cảm, ẩn thân giấu mình ngay trong lòng địch, cung cấp các thông tin quý giá, kịp thời chuyển về để Hà Nội chủ động đánh địch.

12 ngày đêm quyết chiến, quân và dân ta đã bắn rơi 77 máy bay hiện đại thuộc không quân chiến lược, chiến thuật của Mỹ, trong đó có 33 máy bay B.52 chiếm tỉ lệ tổn thất 18% máy bay chiến lược của Mỹ.

35 năm sau, đó vẫn là những chiến công thầm lặng của các chiến sĩ tình báo âm thầm cống hiến cho Tổ quốc. Những bản báo cáo ngày đó thật sự là thông tin đặc biệt giá trị.

Đầu tháng 12/1972 tin báo về: "Mỹ điều động tăng cường thêm 2 hàng không mẫu hạm ở Biển Đông thành 4 cái. Trong đó hàng không mẫu hạm Saratoga từ Philippines và Interprise từ Nhật Bản đã áp sát bờ biển Thanh Hóa… Số máy bay chiến lược B.52 đến sân bay Utapao - Thái Lan tăng đột ngột, chật chỗ. Các xe chở bom đi lại liên tục. Thêm 3 chiếc KC.135, máy bay tiếp dầu đã đến sân bay Ubon, 5 chiếc KC.135 ở căn cứ Subich - Philippines cũng sẵn sàng. Một bộ chỉ huy quân sự về không quân chiến lược mới thành lập để điều hành 2 căn cứ Utapao và Guam.”

Ngày 14/12/1972, báo cáo khẩn, từ Văn phòng Nhà Trắng: ”Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon chính thức ra lệnh 17/12/1972 tiếp tục rải thủy lôi phong tỏa các cảng và cửa sông Bắc Việt. Ngày 18/12/1972, không quân chiến lược B.52 tấn công vào Hà Nội, Hải Phòng. Bắt đầu chiến dịch Linebacker 2”.

Sáng ngày 18/12/1972, thông tin báo về: "6 giờ sáng, hàng không mẫu hạm America đậu ở phía đông Hà Tĩnh điện hỏi Sở Chỉ huy không quân chiến lược - trực thăng hôm nay làm nhiệm vụ cấp cứu ở đâu? 10 giờ, 11 giờ 30, 2 lần máy bay trinh sát không người lái bay vào Hà Nội, Hải Phòng.

14 giờ, tin khẩn: "Một chiếc RF-4C, máy bay trinh sát vũ trang, điện về căn cứ - thời tiết Hà Nội bảo đảm cho không quân hoạt động tốt".

14 giờ 30, tin khẩn tiếp tục báo về: "Tất cả các máy bay B.52 ở 2 căn cứ Guam và Utapao đã được tiếp xăng cho 4-5 giờ bay. Đã lắp bom theo cơ số. Các máy bay chiến thuật cường kích, tiêm kích đang khởi động chuẩn bị…".

19 giờ - Rada của Đại đội 6, Trung đoàn Ba Bể nhận được tín hiệu B.52 đang bay từ Nam Lào lên phía Bắc, hướng về Hà Nội. 19 giờ 15, toàn Quân chủng Phòng không - Không quân và toàn bộ lực lượng dân quân, tự vệ, các lưới phòng không tầm trung, tầm thấp của Hà Nội, Hải Phòng nhận lệnh: Sẵn sàng chiến đấu với B.52!

20 giờ 30, Tiểu đoàn tên lửa 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361 bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361 bắn rơi tại chỗ một chiếc B.52 trên vùng trời Hà Nội.

Những bản tin khẩn của các chiến sĩ tình báo trong lòng địch lặng lẽ gửi về, với những thông tin chính xác gần như tuyệt đối, góp phần vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Cuộc họp báo gây bàng hoàng

Đêm 18/12/1972, mở đầu chiến dịch “Linebacker 2” nhằm “đè bẹp Việt Nam, buộc Hà Nội phải chấp nhận mọi điều kiện của Mỹ trên bàn đàm phán Hiệp định hòa bình…”, Mỹ đã đưa máy bay chiến lược “pháo đài bay” B.52, máy bay cường kích chiến thuật “tàng hình - cánh cụp cánh xòe” F111A hiện đại nhất của Không lực Mỹ, cùng hàng trăm máy bay tiêm kích các loại như: "Người nhà trời” - AD6, “Thần sấm”-F105, "Con ma”- F4, "Thập tự quân”- F8, "Kẻ đột nhập”- A6, "Ngôi sao chiến đấu”- F104, “Cướp biển”- A7, “Chim ó nhà trời”- A4… mang hàng chục ngàn tấn bom phá, bom sát thương, rocket… thảm sát, hủy diệt Thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận.


Lực lượng phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội.
Hà Nội, với danh hiệu “Thủ đô của lương tri loài người”, quân và dân Hà Nội đã đồng lòng, hiệp sức, kiên cường, dũng cảm bảo vệ vùng đất, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Cái giá đầu tiên Mỹ phải trả khá đắt: 2 chiếc máy bay B.52G, in huy hiệu hình nắm đấm, tia chớp và cành ôliu cùng hàng chữ Strategic Air Command, phơi xác ở Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà Nội và Thanh Oai - Hà Tây. Không dừng lại thế, còn có những bằng chứng “sống”: Fernando Alexander - Thiếu tá, hoa tiêu; Hause Cilson - Đại úy, lái chính; Richard Tomat Simson- Đại úy, điều khiển điện tử; Robert Clenxartel, Henrie Charbaron, Character Browels - ba viên Đại úy hoa tiêu…

24 giờ Hà Nội đêm 18/12/1972, các nhà báo phương Tây và báo chí Việt Nam đã dự một cuộc họp báo lịch sử tại Câu lạc bộ Quốc tế giữa lòng Hà Nội trong tiếng ầm ầm của bom rền đạn nổ… Hà Nội thông báo với cả thế giới việc B.52 mang bom hủy diệt Thủ đô Việt Nam và thất bại của Mỹ trên bầu trời Hà Nội.

Cả nước Mỹ bàng hoàng khi chứng kiến sự thảm bại của “uy lực Mỹ” - B.52, bị bắn rơi tại Thủ đô nhỏ bé của đất nước bé nhỏ bên bờ Thái Bình Dương.

Những “niềm tự hào” của nước Mỹ, những “quân nhân ưu tú” trong lực lượng không quân chiến lược, những phi công “pháo đài bay” đầy kiêu hãnh, là niềm mơ ước, thần tượng của các phi công Mỹ khác, nay khiếp sợ cúi đầu run rẩy thốt lên trong ánh mắt còn vương nỗi kinh hoàng khi trả lời các phóng viên báo chí: "sợ lắm”, “rất sợ”, “thật khủng khiếp”, “tôi không ngờ hỏa lực phòng không của Hà Nội mạnh và bắn chính xác đến thế”…

Lúc này, thiếu tá, chỉ huy điện tử Fernando, người Texas cay đắng thốt lên: "Mọi sự tính toán của chúng tôi đã bị đảo lộn hết. Cấp chỉ huy và các kỹ sư điện tử của chúng tôi đã khẳng định như đang nắm trái ngọt trong tay... Phương án bay và tất cả các máy điện tử đủ loại này rất tuyệt vời. Không một loại tên lửa và máy bay Mig nào của Bắc Việt có thể bám, bắt được B.52 của ta… Tôi đã thực hiện đúng quy trình thao tác để bịt mắt đối phương… thế mà… như các ông thấy… tôi đang ở đây và là tù binh”.

Đại úy Henrie Charbaron: "Khi được phổ biến nhanh ở căn cứ Guam trước lúc bay, tôi sửng sốt bởi nghĩ rằng Hiệp định Hòa bình sắp ký kết như ông Kissinger tuyên bố cách đó ít ngày. Đến trước lúc nhảy dù, tôi biết máy bay của tôi lọt vào một ổ dày đặc tên lửa SAM 2 và cao xạ. Máy bay bị trúng đạn, rung lên dữ dội, khói mù mịt… Tôi rơi xuống một đám ruộng và thấy nhiều người chạy tới. Tôi không kịp làm gì theo hướng dẫn nếu máy bay rơi… Tôi cúi đầu giơ 2 tay đầu hàng”.


Một mảnh xác máy bay B-52 bị bắn rơi ở Hà Nội trong Chiến dịch Linebacker II (Nguồn: Wikipedia)



Cả nước Mỹ và thế giới còn được tận mắt thấy những quân nhân ưu tú của quân đội Mỹ đã đánh mất uy lực của mình ra sao trước đối phương. Họ đã không đủ can đảm để thực hiện bài học quy định - quân lệnh khi thành tù binh: Chỉ khai tên, tuổi, cấp bậc, chức vụ, đơn vị, số hiệu. Họ đã khai cả bí mật kỹ thuật, cả lệnh của cấp trên phải ném bom ở đâu, đổ tội cho chỉ huy: "Chúng tôi là quân nhân, phải tuân lệnh chỉ huy. Chúng tôi biết B.52 có sức chứa bom và thả bom rải thảm tạo sự hủy diệt rât lớn, nhưng phải theo lệnh và chấp nhận tội ác của mình”.

Điều này còn được nhắc lại trong một bài báo trên Tạp chí Quân lực Mỹ số ra tháng 7/1977: "Thật hãi hùng. Tôi cứ nơm nớp lo sợ mỗi lần bước lên máy bay đến Hà Nội. Cứ nghĩ cảnh các bạn tôi cúi đầu ê chề trước hàng chục ống kính trong buổi họp báo 19/12/1972, khủng khiếp. Trong căn cứ, ai cũng mang nỗi lo sợ…”

Buổi họp báo lịch sử là một “đòn” tử huyệt đối với Mỹ. 12 ngày đêm Hà Nội đã quyết tử cho một “Điện Biên Phủ trên không”, chấn động cả nước Mỹ và lương tri nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Hoài Hương

Kỳ 2: Cuộc cân não không quên
(VietNamNet) - Thời gian nhích từng giây mà như dài vô tận. Những chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) VN sẽ thắng trong cuộc đọ sức bằng trí tuệ này? Tốp B.52 đầu tiên đi vào trung tâm Hải Phòng. Trung tá Cảnh nhắm mắt lại. Không có tiếng bom nào! Tốp B.52 đầu tiên đã bay qua thành phố. Hải Phòng hoàn toàn im lặng. Cả Sở Chỉ huy chùng lại, thở phào.

>> Kỳ 1: Thảm bại của "pháo đài bay"


Trận chiến không súng đạn

Chúng tôi gặp Trung tướng Vũ Trọng Cảnh, nguyên là Trung tá, Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hải Phòng 363 (F363), khi ông vừa mới ở bệnh viện ra. Vị tướng quân gần 80 tuổi, dù sức đã yếu nhưng vẫn hùng hồn nhắc về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, Hải Phòng chia lửa với Hà Nội...
Đặc biệt, ông không thể quên kỷ niệm về một trận đánh B.52 không một tiếng súng đạn, chỉ có tiếng máy bay địch và... hơi thở của những vị chỉ huy trong phòng trực chiến. 35 năm đã qua, nhưng cuộc đấu trí chiến thuật với không quân Mỹ như vừa mới hôm qua .

Ông kể... Người Mỹ không chỉ đánh bằng bom đạn trực diện mà còn đánh ta bằng những mưu mô nhằm gây cho ta những thiệt hại không chỉ vũ khí – chủ yếu là tên lửa (lúc đó tên lửa dành ưu tiên đánh B.52), mà còn làm cho ta hoang mang để không có các phương án chiến thuật tác chiến chính xác. Và đó là một dịp để chúng huênh hoang “quân đội Bắc Việt bị mắc lừa”. Ngoài ra, sẽ gây lúng túng cho các quyết định chiến đấu sau này của ta khi chúng tiến vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng.

Hồi ức những ngày khói lửa trên bầu trời trở về nguyên vẹn trong ông: Ngày 22/12/1972, kỷ niệm ngày thành lập QĐND Việt Nam, F363 đã có một trận đánh B.52 tuyệt vời. Tiểu đoàn 82, 73 được công nhận bắn rơi B.52.

Sang tới đêm 23/12/1972, 20 giờ, báo động B.52 vào. Sở chỉ huy Quân chủng lệnh: "Hải Phòng chuẩn bị sẵn sàng đánh B.52!”.

Trên bảng tiêu đồ, 9 dấu hiệu - 9 tốp B.52 lần lượt xuất hiện, nối đuôi nhau hướng lên phía Bắc. Lúc này là 21 giờ 10. Nhìn trên tiêu đồ, chúng như những con rắn trườn dần lên đầy sự đe dọa chết chóc. Cả Sở chỉ huy nín thở, các đơn vị đã sẵn sàng đợi lệnh bấm nút đạn… Nhưng… “Báo cáo… Tốp đầu tiên là B.52 giả”.

Tất cả mọi người trong phòng chỉ huy nín thở. Đánh hay không đánh? Nếu là thật thì chỉ phút chốc cả Hải Phòng bình địa, nhưng nếu là giả thì rất lãng phí tên lửa - mà lúc này tên lửa gần như phải đạt sự tối ưu nhất: “bách phát bách trúng”. Chỉ huy vừa hội ý gấp, vừa ra lệnh cho rada của các đơn vị C171, C174 đoàn pháo 100 Sông Cầu, cùng 3 tiểu đoàn tập trung kiểm tra tốp đầu B.52.

Trong khoảng không là cách Hải Phòng hàng chục km, nhưng trên tiêu đồ chỉ là vài chục cm. Một không khí căng thẳng bao trùm. Trung tướng Cảnh kể, lúc đó gương mặt ai cũng đanh lại, trong ruột như có lửa thiêu. Ngay lúc đó, lại nhận được điện của Tổng cục Chính trị, của Bộ Tổng Tham mưu, của Sở Chỉ huy Quân chủng… hỏi sao F363 chưa lệnh cho đánh.

"Chúng tôi cho kiểm tra lại một loạt thông số kỹ thuật, và tin tưởng tuyệt đối vào sự nhạy bén, chính xác cùng kinh nghiệm của các chiến sĩ rada. Chúng tôi quyết định lệnh: "Không bắn tốp B.52 đầu”...". Cả Sở Chỉ huy im phắc. Chỉ nghe tiếng thở, tiếng bút chì sột soạt trên vạch tiêu đồ… Riêng Trung tá, Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hải Phòng 363 Vũ Trọng Cảnh tay bíu chặt thành ghế, người căng ra, trán lấm tấm mồ hôi trong khi trời đang rất rét. Trong đầu ông lúc đó chập chờn ý nghĩ, nếu là B.52 thật, bao bà mẹ, trẻ em, nhà trường, bệnh viện… Hải Phòng làm sao hứng được cả trăm tấn bom hủy diệt?

Thời gian nhích từng giây mà như dài vô tận. Những chiến sĩ QĐNDVN sẽ thắng trong cuộc đọ sức bằng trí tuệ này? Tốp B.52 đầu tiên đi vào thành phố, đến trung tâm Hải Phòng. Trung tá Cảnh nhắm mắt lại. Không có tiếng bom nào! Tốp B.52 đầu tiên đã bay qua thành phố. Hải Phòng hoàn toàn im lặng. Cả Sở Chỉ huy chùng lại, thở phào.

Tuy vậy, Sở Chỉ huy vẫn lệnh cho các đơn vị: "Cảnh giác kiểm tra từng tốp một, không bỏ sót tốp nào”… Và rồi từng tốp một bay qua lần lượt tới tốp thứ 9. Không một quả đạn nào bắn lên, không một tiếng bom nổ. Mội tốp bay vào, cả Sở Chỉ huy nín thở, bay qua lại thở thở ra. Cứ như thế 30 phút trôi qua…

Và cũng kết thúc một trận đánh kỳ lạ. Tất cả cùng bật dậy, ôm lấy nhau mà nước mắt trào ra. "Chúng ta đã chiến thắng không chỉ bằng súng đạn mà bằng cả trí tuệ", Trung tướng Cảnh vẫn vẹn nguyên niềm tự hào.

Những ngày này ông hay hoài nhớ về trận đánh trí tuệ đó... Chúng ta đã chiến thắng bằng kinh nghiệm và sự xét đoán chính xác của các chiến sĩ rada. Hồi đó B.52 có một hệ thống nhiễu gồm 16 loại khác nhau, chưa kể còn cả hàng đàn máy bay tiêm kích hộ tống bảo vệ, trong dải tín hiệu đó. Các chiến sĩ rada đã phát hiện được dải nào của B.52, dải nào là các máy bay tiêm kích, dải nào là các băng kim loại…

Trên màn hình rada không phát hiện được tín hiệu của B.52. Hơn nữa, kinh nghiệm chiến đấu với các chiến đấu cơ của Mỹ đã cho các chiến sĩ trực chiến đôi tai rất nhạy cảm. B.52 khi bay, từ xa trong không trung đã có những tiếng gầm ì ì rất đặc trưng không lẫn với động cơ các máy bay khác. Không nghe tiếng bay quen thuộc đó, và không cả những chiếc máy bay hộ tống… Đích thị là giả.

Ông bảo, nói thì giản đơn, nhưng có ở trong tình huống đó mới cảm thấy hơn bao giờ trách nhiệm và bản lĩnh của người chỉ huy chiến trận, dám nghĩ và dám quyết.

“Cận vệ đỏ” Hà Nội

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc, 35 năm trước là Thiếu tá Tham mưu Phó Sư đoàn Phòng không 361 Hà Nội (F361), đặc trách về tên lửa. Tuổi đã hơn 70, ôm chiếc máy trợ tim, nhưng khi nhắc đến 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, ông vẫn không giấu được ánh mắt, giọng nói đầy tự hào của một người đã từng có mặt và góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.


“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” - Ảnh: TTXVN
Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời binh nghiệp của ông có lẽ là cuộc đấu trực diện với B.52 trên bầu trời Hà Nội.

Ông kể, 2 chiếc máy bay B.52 rơi đầu tiên trong đêm 18/12/1972 là của các đơn vị tên lửa thuộc F361 bắn hạ, có sự chỉ huy của ông. F361 là đơn vị được giữ trọng trách bảo vệ vùng trời Hà Nội, nên được mọi người đặt tên “Cận vệ đỏ”.

Ngày đó, khi được cấp trên phổ biến Mỹ lật lọng trên bàn đàm phán Hiệp định Paris, có khả năng tập kích chiến lược bằng B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành khác của miền Bắc, nhằm tạo áp lực với ta để ký kết có lợi cho ý đồ xâm chiếm lâu dài miền Nam, các đơn vị Phòng không của ta đã có sự chuẩn bị tinh thần trực diện chiến đấu với B.52 của Mỹ. Riêng F361 đã chủ động lên các phương án đón đánh với niềm tin mãnh liệt - chiến thắng, nhất định sẽ bắn rơi B.52 ngay tại Hà Nội, xứng danh “Cận vệ đỏ” bảo vệ Thủ đô.

Dựa vào đâu mà ngày đó, chúng ta lại có niềm tin chắc thắng trong khi B.52 không phải là “con ngáo ộp”, lại được mệnh danh là có sức mạnh “bất chiến bại”?

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc nói: "Chúng tôi có niềm tin, có ý chí và có cả quyết tâm, nhưng không chỉ nói suông. Chúng tôi đã tập luyện, học (trên lý thuyết) cuốn sách “Cẩm nang đỏ” - một tài liệu đặc biệt nghiên cứu cách phát hiện, khống chế, tiêu diệt B.52 được đúc kết qua kinh nghiệm thực tiễn của các đơn vị trực tiếp đối đầu với B.52 ở phía Nam. Cộng với đó là tài liệu tình báo quân sự ta lấy được của địch, hoàn chỉnh vào tháng 9/1972. Phần khác, F361 có những chiến sĩ tên lửa không chỉ dũng cảm mà cực kỳ thông minh, nắm vững các kỹ thuật tác chiến và sẵn sàng nghênh chiến...".

Thiếu tướng Phúc bảo rằng, chúng ta cũng đã hoàn thiện cải tiến tên lửa SAM 2, khắc phục một số khuyết điểm khi đánh trên tầm cao và tìm diệt mục tiêu. Ngoài ra, dựa vào các tin tình báo, ta cũng biết được các hướng bay vào Hà Nội của máy bay địch, nên chặn đánh từ xa…

35 năm, vị tướng đã trở về với cuộc sống đời thường vẫn khăng khăng tự tin: "Không phải tới bây giờ mới nói một cách chắc chắn, mà khi đó chúng tôi đã biết như vậy. Chúng tôi vào trận là quyết chiến chứ không để cho Hà Nội bị tàn phá. Không chỉ có F361 “Cận vệ đỏ”, còn cả các lực lượng khác hiệp đồng tác chiến. Từ xa là đã có máy bay của ta lên làm tan đội hình, rồi tên lửa lên đánh tầm cao, đặc biệt ưu tiên chỉ để đánh B.52, các máy bay cường kích dành cho lưới cao xạ pháo, tiêm kích dành cho lưới lửa của dân quân tự vệ tầm thấp… Làm sao chúng có thể thực hiện dã tâm đó...".


Bảo tàng Chiến thắng B52 tại Hà Nội - Ảnh: Việt Hưng (Dân Trí)
Thiếu tướng Phúc say sưa kể về chuyện đơn vị F361 bắn hạ B.52 ngày ấy. Thời điểm đó, chỉ có 2 đơn vị tên lửa ở lại bảo vệ Hà Nội, còn lại phải chi viện cho miền Nam, nhưng điều đó không làm cho F361 cảm thấy lo lắng.

Ngày 18/12/1972, ngay từ những kíp trực chiến buổi sáng, anh em trong đơn vị đã ngồi trên bệ phóng sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu.

Và 19 giờ 15, cả Hà Nội nhận lệnh: Tiêu diệt B.52! Các chiến sĩ của kíp trắc thủ đã bắt được tín hiệu của B.52 trong một rừng nhiễu. Các bài học lý thuyết được vận dụng triệt để và thông minh, cùng với kinh nghiệm của các trận chiến với các loại máy bay trước đó, bám sát mục tiêu đợi thời cơ…

20 giờ 30, Tiểu đoàn tên lửa 59, Trung đoàn 261 với những “rồng lửa” dũng mãnh đã bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên. Ít phút sau,Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 bắn rơi tại chỗ một chiếc B.52 khác ngay trên bầu trời Hà Nội.

Đó là một kỷ niệm sâu sắc của ông. Ông bảo: "Khi ấy chúng tôi báo về Bộ Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu và chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi: "Có chính xác là B.52”? - Vì khi ấy, phía Nam bắn hạ B.52 nhưng không thấy xác. Cho đến khi nghe báo về “đúng B.52”, đã nhìn thấy phù hiệu hình nắm đấm, tia chớp và cành oliu cùng hàng chữ B.52G, Strategic Air Command… Và cả những nhân chứng biết nói - các phi công Mỹ...".
Kỳ 3: Cánh én quả cảm và cuộc không chiến cảm tử
10:02' 20/12/2007 (GMT+7)
(VietNamNet) - Một người đã từng bắn rơi 8 máy bay Mỹ và trực tiếp chỉ huy không chiến trong trận “Điện Biên Phủ trên không” sau này có dịp gặp lại những phi công Mỹ đã có mặt ở trận tuyến 12 ngày đêm Hà Nội. Ông bảo, họ vẫn rất thán phục ta, vẫn không thể hiểu được vì sao Mig của ta lại bắn rơi B.52, cho dù những thông số kỹ thuật của các loại vũ khí không đối không đều tỏ rõ Mig không thể bắn được B.52, thế mà B.52 đã phải khuất phục trước Mig của ta.

>> Kỳ 2: Cuộc cân não không quên
>> Kỳ 1: Thảm bại của "pháo đài bay"

Ông là tướng Nguyễn Hồng Nhị, AHLLVT, nguyên Trung đoàn trưởng đầu tiên Đoàn Không quân Lam Sơn, trực tiếp chỉ huy không chiến đánh B.52 trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Chúng tôi gặp ông khi ông vừa đi tập thể dục về. Trông ông vẫn tráng kiện, phong độ, không mất đi vẻ đẹp của người phi công lái Mig ngày xưa. Khi được hỏi về những ngày tháng 12/1972, ông vẫn không giấu được niềm vui trong giọng nói Bình Định quê hương.

Những cánh én quả cảm

"Nhiệm vụ của chúng tôi là chặn đánh từ xa, tiêu diệt các máy bay hộ tống, nếu có thể tìm cách bắn hạ B.52 và làm rối loạn đội hình, tạo điều kiện cho tên lửa và các đơn vị phòng không mặt đất bắn máy bay địch. Những cuộc không chiến đúng là không cân sức. Mig của ta bé nhỏ giữa cả bầy chiến đấu cơ hùng hậu của Mỹ, nhưng những cánh én quả cảm của ta vẫn “tả xung hữu đột” gây cho địch phải khó khăn chống đỡ, thậm chí có lúc bị động, chỉ mới vài đường bay của Mig, đội hình của chúng đã tan tác..." - ông Nhị.


Siêu pháo đài bay B.52 - Ảnh: TTXVN
Tướng Nhị kể, đêm 27/12/1972, lần đầu tiên Mig 21 do phi công Phạm Tuân bắn hạ B.52, đã làm cho tất cả các chiến sĩ lái máy bay của ta như được khích lệ, tin vào việc Mig sẽ đối đầu được với B.52.

Một không khí ngầm đua nhau tiêu diệt B.52, rạng danh “cánh én Việt Nam” đã diễn ra. Trong số đó có phi công Vũ Xuân Thiều, người Hà Nội, một chàng trai điềm đạm, kỹ thuật bay giỏi. Được phân công trực bay đêm đánh B.52, nhưng có lẽ sốt ruột nên anh kỳ kèo cho đánh ban ngày với lý do rất dễ thương: Kiếm một chiếc máy bay địch làm quà tặng người yêu. Nhiều lúc tâm sự với đồng đội, anh nói: "Nếu như gặp B.52, bắn không rơi, em sẽ đâm vào nó. Em làm quả đạn, nhất định nó phải chết”.

Như định mệnh, đêm 28/12/1972, Thiều trực chiến và được lệnh cất cánh từ một sân bay dã chiến ở miền Trung. Tại Sở Chỉ huy bay, đường chì đỏ - máy bay của Thiều, từ từ tiếp cận vệt chì đen - máy bay B.52, và hàng chục chấm đen của các máy bay tiêm kích bảo vệ B.52, sóng nhiễu, khói mù che mắt máy bay Mig của ta.

Với sự khéo léo và mưu trí, lách qua được vòng vây dày đặc của các chiến đấu cơ địch, Thiều đã cho chiếc Mig 21 của mình áp sát B.52 và xin lệnh phóng đạn. Đạn đã phóng nhưng B.52 chỉ bị thương. Thiều xin lệnh tấn công tiếp… Vài giây sau, tín hiệu của Thiều trên bản đồ bay biến mất, kể cả dấu hiệu của chiếc B.52. Cả Sở Chỉ huy rộn lên, B.52 đã bị bắn cháy. Nhưng rồi trái tim mọi người như thắt lại. Các chiến sĩ liên lạc gọi dồn dập. Vừa khóc vừa gọi Thiều. Nhưng không một tín hiệu hồi âm.

Một ngày sau, từ Yên Châu (Sơn La), người dân đã kể lại: Họ thấy 2 vệt lửa, một vầng lửa lớn bùng lên, một vầng lửa nhỏ lao vút vào, từng mảnh lửa rơi xuống. "Chúng tôi tới nơi, xác chiếc B.52 còn âm ỉ cháy, cách gần đấy là chiếc Mig 21 của Thiều. Anh đã được đồng bào Sơn La an táng trọng thể. Chúng tôi hiểu, anh đã cùng chiếc Mig của mình thành quả đạn cảm tử tiêu diệt B.52. Ngày đó, vì yêu cầu bí mật quân sự, chúng tôi chưa thể công bố hành động cảm tử đó. Nhưng hôm nay, anh là người anh hùng của nhân dân, trong trái tim người Hà Nội, sống mãi cùng đồng đội của lực lượng Không quân Việt Nam...".

Trong toàn cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước lực lượng Không quân Việt Nam hy sinh 367 người. Các anh nằm yên nghỉ mãi mãi trên một ngọn đồi ở Sóc Sơn - Hà Nội. Ở đây đã xây một tượng đài chiến thắng của không quân, hàng năm tới ngày 22/12, kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN các đồng đội lại tới đây thắp hương tưởng niệm các anh. Còn trong 12 ngày đêm của tháng 12/1972, thật kỳ diệu, gần như không có tổn thất, trừ sự hy sinh oanh liệt của "quầng sáng" Vũ Xuân Thiều.

Rất thú vị, sau này tướng Nguyễn Hồng Nhị gặp lại những phi công Mỹ đã có mặt ở trận tuyến 12 ngày đêm Hà Nội. Đó là năm 1991, ông sang Mỹ, với vai trò đàm phán mua máy bay dân dụng cho Hàng không dân dụng Việt Nam. Lúc này, Việt Nam vẫn còn bị Mỹ cấm vận, các việc giao thương mua bán còn khó khăn dù đã có những tín hiệu khả quan.

Song điều ông nhớ nhất là cuộc gặp với các cựu phi công Mỹ: "Chúng tôi không có vẻ gì thù hằn hay tỏ thái độ nghi kỵ như đã từng là đối thủ của nhau. Mà đó là những cuộc chuyện trò cởi mở giữa các “đồng nghiệp” lái máy bay, trao đổi một số kinh nghiệm, kể lại những cuộc không chiến đã thành quá khứ. Họ vẫn rất thán phục ta, vẫn không thể hiểu được vì sao Mig của ta lại bắn rơi B.52, cho dù những thông số kỹ thuật của các loại vũ khí không đối không đều tỏ rõ Mig không thể bắn được B.52, thế mà B.52 đã phải khuất phục trước Mig của ta".

Chuyện về một tấm ảnh

Gặp ông trong những ngày này thật khó, vì tuy tuổi đã cao, ông vẫn không thôi rời ống kính, thu lại những khoảnh khắc cuộc sống, mà có thể sau này sẽ là những vật chứng lịch sử. Ông là NSNA Đoàn Công Tính, người phóng viên chiến trường nổi tiếng cả trong nước và nước ngoài với những tấm ảnh về Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972, và 12 ngày đêm Hà Nội - "Điện Biên Phủ trên không".


“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” - Ảnh: TTXVN
Không giấu diếm niềm tự hào vì đã được là nhân chứng tham dự những ngày lịch sử đó. Ông hào hứng kể...

...Khi đó ông vừa ở Thành cổ Quảng Trị ra. Từ đạn bom lại rơi vào bom đạn của 12 ngày đêm Hà Nội. Ông nhận lệnh chuẩn bị chiến dịch lớn: chụp ảnh B.52 bị cháy trên bầu trời Hà Nội. Ông cũng không biết phải chuẩn bị như thế nào, đã thấy B.52 cháy rơi bao giờ đâu, ngoài một chỉ đạo của bên Tổng cục Chính trị: Đây là việc chiến đấu phối hợp tác chiến các quân binh chủng máy bay, tên lửa, cao xạ, các loại súng pháo phòng không từ 37 ly, 14 ly 5, 13 ly 2, 12 ly 7, súng trường… tạo một lưới đạn từ tầm cao đến tầm thấp, chặn đứng mọi con đường của máy bay Mỹ.

Đoàn Công Tính được phân công xuống F361 tên lửa, đóng quân ở Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội. Ngày 18/12/1972, ông được chứng kiến F361 bắn rơi B.52, nhưng chưa “chộp” được khoảnh khắc hợp đồng chiến đấu của các lưới lửa. Thật ra, lúc ấy không có ai “bắt” phóng viên phải chụp như thế nào, nhưng ông nghĩ nếu chụp riêng tên lửa, pháo, hay lưới lửa tầm thấp thì không có gì đặc biệt. Và ông nghĩ phải chụp một bức ảnh phải có cả 3 tầm lửa để nói lên ý nghĩa của sự hiệp lực toàn quân toàn dân. Đó còn là tổng lực của sức mạnh Hà Nội, là cuộc chiến tranh nhân dân quyết chiến và quyết thắng mọi đe dọa hủy diệt của Mỹ.

Sau 7 ngày “canh”, cùng trực chiến với các chiến sĩ, Đoàn Công Tính luôn để máy ở tốc độ B, không chân máy mà gác trên cành cây, khuôn hình canh sẵn. Hồi đó, không có ống kính góc rộng, chỉ có ống kích 50. Cũng “oách” lắm so với nhiều người, thế nhưng khuôn hình chật hẹp, tối mù mù. Ngắm trong ống kính, mỗi khi tên lửa phụt lên, chớp sáng lòa hết cả khuôn hình, không thấy gì khác.

Và rồi khoảnh khắc ông chờ đợi cả 7 ngày đã đến. Sau một cú bấm máy, tấm ảnh “Đêm tháng chạp” ra đời. Trong ảnh có đủ lưới lửa tầm cao của tên lửa, tầm trung của cao xạ và tầm thấp của 12 ly 7, như một tấm màn lửa úp chụp máy bay Mỹ trong bầu trời đêm. Một sự phối hợp tuyệt đẹp, máy bay Mỹ không rơi mới lạ! Tấm ảnh đã được đăng ngay trên trang nhất báo QĐND ngày 27/12/1972, được giải A ảnh nghệ thuật Hà Nội năm 1973, được bày ở Bảo tàng Quân đội và đăng ở nhiều báo nước ngoài.

"Tọa độ lửa Hà Nội là lò sát sinh B.52"

Khi ấy, Đài Phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng Sài Gòn - Gia Định, truyền trên sóng những lời “chia lửa”: Sài Gòn gửi Hà Nội: ”…Lửa miền Bắc đã khều lửa miền Nam, lửa Hà Nội đang giục lửa Sài Gòn và từ ngoài vô trong, từ hậu phương lớn bất khuất đến tiền tuyến lớn anh hùng đang lên tiếng trả lời đanh thép: Đánh! Lửa thiêu cháy pháo đài bay B.52, lửa đốt cháy kho bom thành Tuy Hạ, chụp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy kho hậu cần Long Bình và kho dầu Nhà Bè. Lửa vây hãm và tiêu diệt quân ngụy, thiêu hàng mảng lớn cơ đồ “bình định” của Mỹ - Thiệu. Lửa đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Gia Định. Lửa chiến đấu của quân và dân ta ở cả 2 miền Nam - Bắc đang ngày càng cao ngọn. Và đó là tốt nhất để trả lời Nixon và bè lũ…"


Xác máy bay B.52 giữa lòng Hà Nội - Ảnh: Việt Hưng
Romesh Chandra, Tổng Thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới: Việt Nam đồng nghĩa với sự vinh quang, lòng dũng cảm và tinh thần quyết thắng. Mỗi lần đứng bên cạnh hố bom do Mỹ rải xuống Việt Nam, chúng tôi đều nhận ra rằng, nhân dân Việt Nam không phải hy sinh chỉ vì Việt Nam mà cả vì chúng tôi.

Hãng Reuters cũng đưa tin: Tọa độ lửa Hà Nội là lò sát sinh B.52 và người lái B.52. Nếu cứ đánh tiếp theo đà này thì trong 2 tháng nữa B.52 sẽ tuyệt chủng.

Còn nhiều nữa, các hãng thông tấn báo chí liên tục đưa tin ngợi ca tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam và Hà Nội. L’Express, Rainbow: Xưa và nay chưa từng có một dân tộc nào nhỏ như vậy mà có trọng lượng lớn như vậy đối với lịch sử.

Europa, Jaque Madol: Việt Nam sẽ thắng! Không một kẻ thù nào tiêu diệt được một dân tộc vĩ đại như Việt Nam. Nếu dân tộc này đầu hàng thì cả nhân loại sẽ bị sụp đổ.

Washington Pos nhận định: Thất bại này buộc Tổng thống và cố vấn của ông ta chấp nhận những điều kiện của Hà Nội.

Chính John Negroponte, chuyên viên của Kissinger thừa nhận: "Chúng ta ném bom Bắc Việt Nam để rồi chúng ta chấp nhận thua".
Kỳ 4: "Chắc tay búa, vững tay súng"

(VietNamNet) - Các nhà máy, xí nghiệp ở Thủ đô trong đợt "12 ngày đêm năm 1972" cũng là điểm đánh phá của B52. Công nhân Thủ đô đã thực hiện nghĩa vụ "Chắc tay búa, vững tay súng" giữa khói lửa bom đạn.


"Chắc tay búa, vững tay súng"

Nhắc đến những người công nhân tự vệ bắn hạ máy bay địch trên bầu trời Hà Nội trong 12 ngày đêm 1972, không thể không nhắc đến đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động. Chị Phạm Thị Viễn, nguyên thành viên đội tự vệ hào hứng kể lại chiến công của tiểu đội công nhân tự vệ bắn hạ F111 năm ấy.
- Những chứng nhân nhìn về ký ức 12 ngày đêm cuối năm 1972 của Hà Nội 35 năm trước và tự hào về một Hà Nội đổi thay sau 35 năm... Vẫn vẹn nguyên một niềm tự hào...
Nơi 4 lần bị đánh phá

Giờ đây, Bệnh viện Bạch Mai đã được xây dựng lại khang trang và hiện đại, nhưng nhìn lại 35 năm trước, nơi đây là trung tâm của các đợt ném bom bắn phá của Mỹ cuối năm 1972.


Ông Đỗ Doãn Đại (áo trắng) đang đứng cùng Tổ chức Hoà Bình thế giới sang thăm bệnh viện Bạch Mai bị không quân Mỹ tàn phá 1972 - Ảnh tư liệu
GS. Đỗ Doãn Đại, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai hồi ấy kể lại: Thời đó, Bệnh viện Bạch Mai là nơi tiếp nhận rất nhiều bệnh nhân thuộc khu vực phía Nam Hà Nội, bệnh viện lại được trang bị máy móc chữa trị hiện đại và có đội ngũ y, bác sĩ giỏi nên để uy hiếp tinh thần của quân và dân ta, Mỹ đã liên tiếp đánh phá vào Bệnh viện Bạch Mai.

Sau 4 trận đánh phá kéo dài từ ngày 16/4 đến ngày 22/12/1972 của không quân Mỹ, toàn bộ Bệnh viện Bạch Mai như một bãi hoang tàn: Nhà sập, cây đổ, gạch nát, nhiều người đã phải hy sinh. Có những lúc, ở dưới lòng đất nhiều cửa hầm bị đóng sập, nhốt hàng trăm bác sĩ và bệnh nhân phía trong. Trước tình cảnh đó các y, bác sỹ và đội cứu hộ Đống Đa phải phá cửa hầm để len vào trong đưa bệnh nhân ra:

“Lúc đầu những người trong đội cứu hộ ngăn không muốn cho các y, bác sĩ chúng tôi vào trong hầm đưa bệnh nhân mắc kẹt phía trong hầm ra vì sợ hầm sập, nhưng không vào sao được khi hàng trăm người đang bị mắc kẹt trong đó. Là bác sĩ thì phải đặt nhiệm vụ cứu người lên hàng đầu, nên cuối cùng chúng tôi đã đưa được toàn bộ bệnh nhân ra ngoài an toàn” - Bác sĩ Đại nhớ lại.

Kết thúc đợt rải bom thứ tư ngày 22/12/1972 của không quân Mỹ vào Bệnh viện Bạch Mai, mặc dù các bệnh nhân đã được đưa ra khỏi hầm sập, nhưng nguy cơ không quân Mỹ tiếp tục đánh phá vào bệnh viện hoàn toàn vẫn có thể xảy ra. Trong hoàn cảnh đó, bác sĩ Đại được cấp trên ra lệnh phải chuyển bệnh viện đi nơi khác an toàn để tiếp tục chữa trị. Thế nhưng do số lượng bệnh nhân bị trọng thương ngày càng nhiều nên không thể di chuyển được. Cuối cùng, ông Đại quyết định: phải khắc phục khó khăn bằng mọi cách để ở lại bệnh viện tiếp tục chữa trị cho các bệnh nhân.


“Sau khi Mỹ ngừng ném bom, nguồn lương thực dự trữ đã cạn kiệt, trong khi cấp trên lại chưa thể tiếp ứng. Trước tình cảnh đó, tôi đã cho các anh em nhà bếp nổi lửa nấu hai nồi cháo to để ăn chống đói rồi động viên mọi người cùng nhau khắc phục khó khăn để có thể chữa trị tốt nhất cho các bệnh nhân tại bệnh viện” – ông Đại nhớ lại khó khăn thời đó.

Đầu 1973 Yvonme Capde Ville, một chuyên gia huyết học người Pháp khi sang Việt Nam, đến Hà Nội, đứng trước cảnh đổ nát của bệnh viện Bạch Mai đã thốt lên: “Tôi là người làm khoa học kỹ thuật, nhưng về nước tôi phải ngừng làm chuyên môn một thời gian để làm chính trị tố cáo tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam”.

Đặc biệt, sau ngày Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc, Romesh Chandra, Tổng Thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới đã đến thăm Việt Nam, chứng kiến cảnh tượng hoang tàn của bệnh viện Bạch Mai ông đã đồng cảm và biết ơn đối với dân tộc Việt Nam: “Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta về những gì mà họ đã cống hiến cho thế giới. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng và nó có nghĩa là lòng dũng cảm vô song, lòng quyết tâm và chủ quyền của một dân tộc…”.

Tự "đứng dậy" cùng Hà Nội

Từ trong đau thương, Bệnh viện Bạch Mai đã đứng dậy cùng Hà Nội. Giờ đây, sau 35 năm, bệnh viên Bạch Mai đã được xây dựng lại khang trang, trở thành một bệnh viện trung tâm chữa trị của cả nước. Đó là nhờ sự nỗ lực của đội ngũ y, bác sĩ và và cán bộ công nhân viên trong bệnh viện qua nhiều thế hệ cũng như những nỗ lực giúp đở của bạn bè quốc tế.


Bệnh viện Bạch Mai được xây dựng khang trang, là trung tâm chữa trị lớn cho bệnh nhân phía Bắc.

Nhớ lại sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế sau chiến tranh, ông Đại lại nhớ về vị thủ tướng Thụy Điển. Năm 1972, Thủ tướng Thụy Điển Olop Palmer đã tình nguyện xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam, đồng thời vận động nhân dân Thuỵ Điển hãy cùng với chính phủ Thuỵ Điển quyên góp tiền của để giúp đỡ nhân dân Việt Nam xây dựng lại Bệnh viện Bạch Mai. Với ông Đại, đây chính là hành động của lương tri, của tình yêu thương đồng loại và khát vọng hoà bình của bạn bè quốc tế đối với nhân dân Việt Nam.

Tại khu vườn hoa Bệnh viện Bạch Mai, có tượng đài người phụ nữ một tay đỡ một người ngã xuống, tay kia nắm chặt lại chỉ lên trời và bên cạnh viết tên 30 người đã tử vong trong trận không kích ngày 22/12/2007. Các bác sĩ nhiều thế hệ của bệnh viện bảo, đó chính là minh chứng về tội ác của quân đội Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Tội ác đó giờ đây vẫn hiện hữu khi hàng ngày các y, bác sỹ vẫn đang phải chữa trị cho những thương binh và trẻ em ảnh hưởng bởi chất độc da cam.

Đi vào gian sảnh bên trong tầng 1, toà nhà P bệnh viện Bạch Mai, gần 100 bức ảnh tư liệu sống động về quá trình đấu tranh và bảo vệ bệnh viện trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đang được trưng bày trước cửa ra vào, để mọi người đi qua đều có thể nhìn thấy.

Trong đó, những tấm ảnh về đợt tàn phá của không quân Mỹ năm 1972 tại Bệnh viện Bạch Mai đang gây được sự chú ý đặc biệt. Bởi đó là lịch sử, là truyền thống anh hùng đang được hâm nóng trong những ngày này.

Phố thiếu 3 số nhà

Nhắc tới 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không trên bầu trời Hà Nội, một trong những nơi được nhắc đến nhiều nhất là “tượng đài khâm Thiên” trên phố Khấm Thiên. Nơi đây gợi lại cho chúng ta nỗi đau đêm 26/12/1972. Vào 22h45 hôm ấy, không quân Mỹ đã ném bom gây nên vụ thảm sát đẫm máu, giết và làm bị thương 577 người, phá sập hàng nghìn ngôi nhà.


Khâm Thiên trong đống đổ nát những ngày cuối năm 1972- Ảnh: TTXVN


Ông Nguyễn Khả Thắng, Trung đội phó dân quân tự vệ phường Khâm Thiên thời đó kể lại: 8h sáng ngày 26/12/1972 ông và 22 anh em khác trong đội tự vệ đường phố Khâm Thiên nhận được lệnh sẵn sàng chiến đấu bởi vì, đêm nay địch sẽ đánh vào trung tâm thành phố.

Đến 22h45 phút, địch đã xuất kích cho ném bon khu vực Khâm Thiên. Lúc đấy ông đang làm nhiệm vụ ở bãi Xã Đàn, thấy bom loé sáng trên khu Khâm Thiên nên đã cùng một số anh em tự vệ quay trở lên. “Khi chúng tôi có mặt thì toàn bộ khu vực Khâm Thiên đã bị bom Mỹ đánh phá tan hoang, chúng tôi đã tìm mọi cách để cứu sống những người bị gạch ngói trùm lên trong đống đổ nát. Nhưng vẫn có quá nhiều người chết và bị thương, đa số đều là trẻ em và phụ nữ”- ông thắng nhớ lại.


Đài tưởng niệm Khâm Thiên, để tưởng nhớ, để không ai có thể quên được một thời bom đạn trên con phố này.
Có lẽ chính vì những đau thương đó, mà ngày nay trên phố Khâm Thiên bên số lẻ không có ba số nhà 47, 49, 51, ba số nhà này với diện tích gần 1000m2 đã được dành để xây Đài tưởng niệm Khâm Thiên, để tưởng nhớ, để không ai có thể quên được một thời bom đạn trên con phố này.

Trong khu tưởng niệm Khâm Thiên, những cây đại giữa mùa đông se lạnh vẫn xanh tốt đứng bao quanh bức tượng người mẹ bế đứa con thơ đã chết như biểu tượng cho một triết lý nhân sinh: sự sống đang nảy sinh từ trong đau thương, mất mát; Bom đạn của chiến tranh trước kia đang được thay thế bằng màu xanh của cuộc sống yên bình, hiền hoà.

Phía trước đài tưởng niện, hàng cửa sắt đã được sơn xanh ngăn đài tưởng niệm với vỉa hè, trên vỉa hè lại được đặt điểm dừng xe buýt nên người đứng chờ xe lên xuống rất đông. Ở dưới đường là cảnh tượng ô tô, xe máy và các loại phương tiện giao thông qua lại bóp còi inh ỏi, đối lập hoàn toàn với tiếng bom đạn của chiến tranh năm xưa.


Tuổi thơ không còn phải giật mình vì bom đạn - Ảnh: Việt Hưng


Nhìn cảnh tượng nhộn nhịp của cuộc sống yên bình hôm nay, ông Nguyễn Văn Quỳ, cán bộ quân đội quận Đống Đa - người tham gia chỉ huy quân đội bắn B52 trên bầu trời Khâm Thiên trong 12 ngày đêm 1972 tự hào: “Sau 35 năm đánh bại B52 của Mỹ, hôm nay nhìn lại tôi thấy Hà Nội đã có rất nhiều đổi thay. Chúng tôi tự hào được góp một phần nhỏ công sức của mình vào sự phát triển đó. Những nỗi đau về vụ thảm sát của không quân Mỹ ở Khâm Thiên sẽ mãi mãi là nốt lặng để chúng ta tưởng nhớ, để tự hào và tiếp tục phấn đấu để xây dựng vì một Hà Nội Hoà Bình và phát triển”…




Tiểu đội công nhân Nhà máy Cơ khí Mai Động bắn hạo máy bay F111 - Ảnh tư liệu
Ngày ấy, đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động gồm 11 người: Viễn, Hiếu, Dần, Thành, Trung, Sinh (Nam), Tuyên, Quang, Sinh, Khuyến, Mai. Tất cả đều là công nhân được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực nhà máy. Mới đầu, anh chị em trong đội tự vệ phải thay phiên nhau trực, một tuần tham gia tự vệ rồi lại một tuần về Nhà máy tham gia sản xuất.

Nhưng đến đầu năm 1972, khi Mỹ cho không quân đánh vào Hà Nội, đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động được biên chế rời vị trí sản xuất để trực chiến 24/24. Đội tự vệ được cấp trên giao cho 2 khẩu súng 14 ly 5 và được đặt tên là đơn vị “Ao út” (đơn vị có nhiều người có thân hình nhỏ bé, ít tuổi).

Đêm ngày 18/12/1972, Mỹ cho máy bay ném bom vào Bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư tập thể Mai Hương, bãi Phúc Xá… Cả Hà Nội rực trong lửa đạn. Từ đêm 18/12 đến đêm 22/12, trung đội “Ao út” được điều động đến nằm cách xa trận địa Đại đội pháo 100 Hai Bà Trưng khoảng 300 m (đây cũng là công nhân của các nhà máy Dệt 8 -3…) để hợp đồng tác chiến.


Chị Phạm Thị Viễn, nguyên thành viên đội tự vệ kể lại chiến công của tiểu đội công nhân tự vệ bắn hạ F111 năm ấy.
Đêm đó, cấp trên thông báo máy bay B52 sẽ đánh vào Hà Nội, Đại đội tự vệ “Ao út” được Đại đội pháo 100 đề nghị sang tiếp đạn. Trong hoàn cảnh đó, dù toàn là những người nhỏ con nhưng chị Viễn, chị Hiếu, chị Dần, anh Trung đã cùng với các anh em tự vệ trong đơn vị tham gia vận chuyển vác bom đạn phục vụ cho đơn vị pháo 100.

Sau đó “Ao út” lại được di chuyển ra trận địa mới ở Vân Đồn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Khoảng 8h ngày 22/12/1972, đơn vị “Ao út” được cấp trên báo máy bay địch lại có đợt đánh bom vào Hà Nội. Do bên quân khu Thủ đô đã theo dõi được đường bay của máy bay F111 của địch, thường xuyên bay trinh sát dẫn đường cho B52 vào bắn phá, nên đã báo cho đơn vị xác định rõ vị trí, lên nòng pháo chờ địch.

Tiểu đội súng cao xạ của Nhà máy Cơ khí Mai Động đã điều chỉnh góc độ của súng 14 ly 5 và sẵn sàng chờ địch tới. Đúng 22h45 ngày 22/12/1972, nhận được lệnh bắn của chỉ huy, tiểu đội đồng loạt nổ súng bằng một điểm xạ ngắm 22 viên đạn, bắn cháy máy bay F111 của địch.

“Khi chúng tôi bắn xong thấy máy bay xẹt qua có một vệt sáng nhưng vẫn không biết mình đã bắn trúng. Mãi sau cho đến khi được cấp trên báo đơn vị đã bắn cháy máy bay F111 rơi ở Hoà Bình, bắt sống hai phi công, lúc đó chúng tôi mới được biết nên vô cùng sung sướng” - chị Viễn nhớ lại giờ phút lịch sử đó.

Nét mặt vui tươi, chị kể tiếp: “Sau chiến công bắn hạ F111, chúng tôi nhận được rất nhiều lời khen tặng, có lần đích thân bác Tôn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xuống chúc mừng và tặng quà, động viên anh chị em phát huy tinh thần đã đạt được để tiếp tục chiến đấu. Món quà mà tôi nhớ nhất chính là 5 thùng lương khô được anh chị em trong đơn vị đem ra ăn ngon lành, trong niềm hạnh phúc của chiến công đã đạt được”.


Ông Nguyễn Văn Trung
Sau ngày hoà bình lập lại, các anh chị em trong Đội tự vệ lại trở về tham gia sản xuất tại Nhà máy Cơ khí Mai Động. Sau 35 năm, giờ đây những người thanh niên tuổi 19, đôi mươi năm ấy đã thành ông, thành bà. Có người tuổi cao đã về hưu, người còn khả năng thì tiếp tục ở lại cống hiến cho Nhà máy (nay là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Mai Động).

Trong niềm vui kỷ niệm 35 năm chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, ông Nguyễn Văn Trung, PGĐ Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Mai Động - người đã tham gia đại đội “Ao út” bắn hạ F111 vui vẻ cho biết: “Ngày ấy, chúng tôi là những công nhân được tham gia chiến đấu bảo vệ vùng trời Thủ đô và chiến công bắn hạ máy bay F111 là kỷ niệm mà những người công nhân chúng tôi thời đó không thể nào quên. Trước đây, trong chiến tranh chúng tôi tham gia đánh giặc Mỹ, còn bây giờ trong thời bình chúng tôi tự hào được góp một phần sức mình vào sự phát triển của nhà máy và xây dựng Thủ đô”.

35 năm đã trôi qua, nhưng vào những dịp kỷ niệm này, các thành viên trong đại đội "Ao út" thường gặp gỡ nhau để ôn lại ký ức hào hùng ấy. Tại công ty, ngay bên cạnh phòng ông là những kỷ vật, những tấm ảnh tư liệu về những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động được ông bố trí trưng bày tại một gian phòng rộng và bảo quản trang nghiêm. Với ông, những kỷ vật đó chính là một phần không thể thiếu để công ty phát triển như ngày hôm nay

Niềm vui của đội trưởng công binh phá bom

Cũng là công nhân cơ khí như đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động, nhưng ông Nguyễn Văn Tuyến, công nhân Nhà máy Cơ khí Hà Nội lại có nhiệm vụ quan sát tham gia tháo dỡ mọi loại bom mìn trên địa bàn Hà Nội.
Chúng tôi gặp ông trong buổi lễ kỷ niệm 35 năm đánh thắng B52 trên bầu trời Hà Nội (do UBND quận Đống Đa tổ chức vào ngày 8/12/2007). Trên tay ôm bó hoa tươi thắm do những người đồng chí, đồng đội năm xưa tặng, ông Tuyến vui vẻ kể về chuyện ông tham gia phá bom trong suốt 12 ngày đêm Mỹ đánh phá Hà Nội.

... Là công nhân cơ khí, nhưng trong suốt thời kỳ Mỹ ném bom đánh phá ra miền Bắc, ông Tuyến đã tham gia phá bỏ gần 100 quả bom các loại. Trong đó riêng chiến dịch 12 ngày đêm, ông đã tham gia phá 6 quả bom loại nặng 200 kg trên đường Trường Chinh, sân bay Bạch Mai, làng Định Công, cánh đồng Định Công.

Ông Tuyến nhớ lại: “Trong chiến dịch 12 ngày đêm, cả Hà Nội là một bãi chiến trường, bom mìn được rải khắp nơi gần khu dân cư. Nhiệm vụ của chúng tôi phải quan sát và tháo nhặt các loại bom rơi vãi để đảm bảo an toàn cho người dân sinh sống, tránh tình trạng gây chết do bom nổ sót. Chính vì thế, cứ nơi nào có bom Mỹ thả xuống là chúng tôi lại có mặt”.


Ông Tuyến kể về chuyện ông tham gia phá bom trong suốt 12 ngày đêm Mỹ đánh phá Hà Nội.
Có lẽ, chính vì sự có mặt ở mọi nơi, mọi lúc tại những điểm nóng bỏng nên ông Tuyến cho rằng mình là người “nổi tiếng”. Sở dĩ, ông nhận mình như vậy bởi nhiều hôm ông đi phá bom quên không đeo băng đỏ nhưng mọi người vẫn nhận ra ông là người tháo bom và cái tên "Tuyến phá bom" cũng được gọi từ đó.

Trong những lần tham gia phá bom trong 12 ngày đêm, ông nhớ nhất lần phá quả bom tại Sân bay Bạch Mai. Lần đó, sau nhiều giờ tháo bỏ quả bom loại 200 kg, cuối cùng tháo xong thì ông mới biết chỉ cần chậm một chút nữa thôi là bom có thể phát nổ ngay tức khắc.

Sau lần đó, mọi người thấy may cho ông, nhưng ông chỉ cười và nói: “Nếu nó nổ thì đã nổ rồi. Cái “nghề” mình làm là như thế, ranh giới giữa may mắn và rủi ro chỉ cách nhau trong gang tấc”.

35 trước, họ là những người công nhân "chắc tay búa, vững tay súng" cùng quân dân thủ đô bảo vệ Hà Nội. 35 năm sau, giữa những ngày Hà Nội kỷ niệm chiến thắng B52, hình như họ là những người vui nhất, khi thấy Hà Nội đổi thay như bây giờ.



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của donkihotexuthanh

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, dien bien phu tren khong

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™