Ghi chú đến thành viên
Go Back   4vn.eu > Kiến thức > Thế Giới Muôn Mầu > Sách - Tài liệu > Tủ sách Lịch sử - Địa lý > Lịch Sử
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 15-05-2008, 06:09 PM
donkihotexuthanh's Avatar
donkihotexuthanh donkihotexuthanh is offline
Phá Quan Hạ Sơn
 
Tham gia: Apr 2008
Bài gởi: 293
Thời gian online: 0 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 11 Times in 5 Posts
Đại tướng Văn Tiến Dũng và hơn 3.000 ngày tìm nguồn cội

TP- Mới đây, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật của Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917), phu nhân của Đại tướng – cụ bà Nguyễn Thị Kỳ đã gọi điện bảo tôi đến xem nhiều tài liệu, bút tích của Đại tướng mà cụ vừa tìm thấy, mà theo cụ có nhiều cái hay, cái mới.

Chính trong lần này, tôi đã được bà kể cho nghe về hành trình gần 10 năm Đại tướng cùng con cháu lần tìm về nguồn cội. Kết quả của hành trình hơn 3.000 ngày gian nan vất vả ấy thật bất ngờ:

Vị Tư lệnh của chiến dịch Hồ Chí Minh, chẳng những đã tìm được “Tổ phụ” mà còn phát hiện ra những bước thăng trầm của một dòng họ trong đó có thiên tình sử bất hủ để lại cho đời sau một danh tướng huyền thoại với một “bản Tuyên ngôn” chưa hề có sử, sách nào nhắc tới…

Hoa trước Văn sau nổi tiếng lành

Theo tiểu sử chính thức công khai thì Đại tướng Văn Tiến Dũng sinh tại làng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội; là con trai út trong một gia đình 4 anh em: ba trai một gái. Tại Cổ Nhuế, từ xa xưa đã có câu: “Văn khoa, võ liệt quang thế phả/ Hoa tiền Văn hậu kiến thành ngôn”, cũng tại nơi đây, cùng tồn tại hai dòng họ Hoa và họ Văn. Theo như nghĩa của hai câu trên (Văn hay võ giỏi ngời dòng dõi/ Hoa trước Văn sau nổi tiếng lành) thì dòng họ Hoa và họ Văn chỉ là một và bắt nguồn từ dòng họ Hoa.

Thực ra, ngay từ thuở còn nhỏ, Văn Tiến Dũng đã được cha là Văn Tiến Căn – người vừa đọc, viết được chữ quốc ngữ, lại thông thạo Hán – Nôm – kể cho nghe về các chiến tích oanh liệt của các cụ Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, đồng thời nhắc nhở về nguồn gốc họ Hoa. Trải qua bao nhiêu năm tháng chinh chiến rồi công việc bộn bề của người giữ trọng trách, Đại tướng Văn Tiến Dũng vẫn chưa có dịp thực hiện được nỗi mong mỏi tìm về nguồn cội của dòng họ Hoa - Văn Cổ Nhuế. Ngày 26/6/1992, Đại tướng đã thức trọn một đêm để viết bài Điếu văn khóc người anh cả là Văn Tiến Cơ, trong đó, ôn lại quá khứ, truyền thống của gia đình cũng như dòng họ Hoa – Văn. Thế nhưng dòng họ Hoa xuất phát từ đâu? Ai là Tổ phụ? Vì sao phải đổi từ họ Hoa sang họ Văn?… Tất cả những câu hỏi đó đều còn nằm trong bí mật. Sau sự ra đi của người anh cả, một hôm, Đại tướng cho mời một số con cháu gần gũi trong dòng họ Hoa- Văn ở Cổ Nhuế để giãi bày nỗi lòng mình: “Tôi nay đã bước vào tuổi 76 – tuổi gần đất xa trời. Bấy lâu nay, vì việc nước mà sao nhãng việc riêng của gia đình, dòng họ, xin được cảm thông, thứ lỗi. Nay, tôi chỉ còn một ước nguyện duy nhất là tìm được dòng dõi tổ tiên của dòng họ ta để rồi ra đi không còn gì phải ân hận”. Ý tưởng của Đại tướng đã được hưởng ứng nhiệt thành và được giao phó cho một người cháu của Đại tướng là Hoa Đức Thành làm “ủy viên thường trực”. Trước khi bắt đầu cuộc hành trình, Đại tướng đã nêu ra hai nguyên tắc phải tuyệt đối tuân thủ: 1- Kiên trì – nhẫn nại – khoa học; 2 – Đây là việc riêng của dòng họ, nên mọi người trong dòng họ phải tự nguyện đóng góp công, sức, không sử dụng phương tiện, tài chính của Nhà nước.

Vấn đề đặt ra là xuất phát từ đâu? Đây là điều không dễ dàng gì vì từ hàng trăm năm nay, chưa một ai có ý thức đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đặt ra về dòng họ Hoa – Văn. Đại tướng bàn với con cháu hãy bắt đầu trừ một nhân vật lịch sử từng sinh sống và hy sinh ngay tại Cổ Nhuế. Đó là cụ Hoa Văn Trứ.

Sau khi gặp gỡ các cụ cao tuổi trong làng và nghiên cứu cuốn “Hùng khí Thăng Long” do Sở VH-TT Hà Nội xuất bản thì được biết cụ Hoa Văn Trứ sinh tại Cổ Nhuế, đã cùng với Đỗ Đức Kiên tức Đốc Kiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đêm 5/12/1898 ở Hà Nội.

Cánh quân khởi nghĩa do cụ Hoa Văn Trứ chỉ huy đã đánh chiếm được đồn Ngọc Hà, tên quan ba Pháp phải luồn cổng sau trốn thoát. Tuy nhiên, cánh quân do Đốc Kiên chỉ huy đã bị lộ, nội ứng không thành. Sau đó, cuộc khởi nghĩa bị dìm trong bể máu. Đốc Kiên cùng ba người họ Hoa là Hoa Văn Trứ, Hoa Văn Châu, Hoa Văn Hưng đều bị giặc bắt, chém.

Để uy hiếp dân làng, giặc đem đầu 3 người họ Hoa treo trên cây gạo đầu làng Cổ Nhuế. Trước sự khủng bố dã man và truy lùng ráo riết của giặc, nhiều người họ Hoa ở Cổ Nhuế đã phải ly tán hoặc đổi sang họ Văn, họ Chu, Đỗ, Vũ v.v.

Phải chăng sự tích chuyển đổi họ Hoa thành Văn bắt đầu từ đây? Có phần đúng nhưng chưa hoàn toàn, bởi vì còn một thông tin cho hay họ Hoa – Văn Cổ Nhuế có liên quan đến họ Văn ở Nghệ An (mà hậu duệ gần nhất là cầu thủ bóng đá Văn Sỹ Hùng…).

Tra khảo tài liệu lịch sử, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng người cháu Hoa Đức Thành phát hiện ra rằng trước cụ Hoa Văn Trứ, đã từng có cụ Hoa Văn Tịch (là chú ruột Hoa Văn Trứ), từng được gọi là cụ Đồ Tịch – một người văn võ song toàn, uy danh lẫm liệt. Cụ Đồ Tịch đã cùng cụ cai Tổng Vàng (Nguyễn Văn Thịnh ở Kinh Bắc) chiêu tập quân sĩ khởi nghĩa chống giặc suốt 10 năm trời, từ 1862 đến 1872.

Nghĩa quân do hai cụ chỉ huy ngoan cường chiến đấu và lan khắp vùng Bắc Giang, Bắc Ninh… Tiếng tăm lẫy lừng của cụ Đồ Tịch được dân trong vùng suy tôn là Nguyên soái. Đến năm 1872, niêm hiệu Tự Đức thứ 25, cuộc khởi nghĩa thất bại. Do nội phản, cụ Đồ Tịch bị quan quân nhà Nguyễn vây bắt trên địa bàn Đông Anh rồi bị đóng vào cũi giải về triều đình (Huế) cho vua Tự Đức xem mặt.

Đến đèo Ba Dội (Tam Điệp) trong túi còn một đồng tiền kẽm, cụ Đỗ Tịch bèn bẻ đôi rạch bụng tự sát. Trước khi chết, cụ còn gọi bọn lính áp giải tới bên cũi rồi giọng thản nhiên “Các chú có muốn ăn lòng sốt tôi xin tặng”, nói đoạn, cụ moi ruột ra trước mắt kinh hoàng và thán phục của mấy tên lính…

Lần tìm các đời trước của cụ Hoa Văn Tịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng thấy trong văn bia Quốc Tử Giám có bia ghi cụ Hoa Quý Khâm, đậu tiến sĩ năm 1763, được cử làm quan Án sát xứ Nghệ An. Ngay lập tức, người cháu Hoa Đức Thành đạp xe ra ga Hàng Cỏ lấy vé tàu đi Nghệ An. Tại đây, ngày ngày, Hoa Đức Thành (tuổi cũng đã ngũ tuần) rong ruổi đạp xe đi khắp nơi, vào các bảo tàng, thư viện rồi cuối cùng cũng chỉ tìm được một số con cháu họ Hoa đã đổi thành họ Văn (mấy cha con cầu thủ bóng đá họ Văn).

Tại Nghệ An, Hoa Đăng Thành nghe được thông tin về một số người họ Hoa ở xứ Huế. Trở về Hà Nội, Hoa Đức Thành báo cáo kết quả với Đại tướng xong, liền đạp xe ra ga Hàng Cỏ lên tàu đi Huế. Trên đất kinh đô xưa, “tình nguyện viên sử học” Hoa Đức Thành thu thập được một tài liệu nói rằng, sở dĩ họ Hoa phải đổi thành họ Văn là vì, mẹ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa, cho nên phải tránh tất cả các tên Hoa.

Họ Hoa ở Huế cũng vậy, phải đổi sang họ Văn, mà cụ thể, con của quan Án sát Hoa Quý Khâm phải đổi thành Văn Thế Thiện… Như vậy, lại xuất hiện thêm một nguyên nhân chuyển đổi họ Hoa thành Văn. Nhưng sau khi bàn thảo, phân tích thì mấy chú cháu họ Hoa – Văn Cổ Nhuế vẫn chưa thỏa mãn về mấy nguyên nhân đã tìm được, bởi lẽ, câu hỏi đau đáu: Ông Tổ dòng họ Hoa – Văn là ai? Bắt nguồn từ đâu? Vẫn chưa được giải đáp một cách triệt để.

Năm này qua năm khác, vị Đại tướng đã qua tuổi 80 mà những câu hỏi trên vẫn treo lơ lửng như một sự thách thức. Còn người cháu Hoa Đức Thành thì cứ nghe nói nơi đâu có họ Hoa là lập tức lên xe đạp, bất kể nơi đâu, từ thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Huế, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên v.v. mà gốc tích dòng họ Hoa vẫn mờ mịt xa xăm.

Một số người trong nhóm “tìm về cội nguồn họ Hoa” đã tỏ ra bi quan, chán nản, cho rằng, tìm kim đáy bể. Vị tướng già đầu bạc lúc này mặc dù bị nhiều căn bệnh hành hạ, song, ông vẫn gắng chịu đựng và lựa lời động viên con cháu trong cuộc hành trình đầy khó khăn vất vả này…

Một hôm, đọc trong tiểu thuyết lịch sử “Trăng nước Chương Dương” của Hà Ân, thấy trong đó có nhắc đến một viên tướng nổi tiếng về bắn cung dưới trướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là Hoa Xuân Hùng, Hoa Đức Thành liền trao đổi với chú Văn Tiến Dũng. Sau khi đặt các giả thuyết, hai chú cháu thống nhất phải tìm tung tích của vị tướng này.

Thật may, trong số các nhà sử học, có người cho hay tại vùng Ninh Giang – Hải Dương, có một số làng từ xa xưa đã có người họ Văn đến lập nghiệp mà nghe nói trước đó, cũng từ gốc họ Hoa. Hoa Đức Thành lại lên “ngựa sắt” đạp đi đạp về gần hai trăm cây số và kết quả thu được cũng chỉ là “nghe nói” các cụ họ Hoa gốc gác từ Vĩnh Bảo, Hải Phòng, đổi họ thành Văn tới Ninh Giang sinh sống, còn nguyên do gì thì cũng chưa có điều kiện khẳng định.

Dù chưa có kết quả cụ thể, nhưng dù sao cũng có một địa chỉ mới là Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Sau khi nghe cháu tường thuật lại chuyến đi Ninh Giang. Đại tướng trầm ngâm hồi lâu rồi thì thào với cháu: - Chú cảm thấy có điều gì đó đặc biệt lắm cứ quanh quẩn bên đầu chú. Ngay ngày mai, cháu lên đường đi Hải Phòng xem sao...

Sớm hôm sau, Hoa Đức Thành tức tốc lên đường tìm về Vĩnh Bảo. Người cháu ra đi không lâu sau, tin vui bay về từ Hải Phòng: “Đã tìm được Tổ phụ”. Vị Đại tướng đã bước vào tuổi 85 khi nhận được tin đã lặng người, nghẹn ngào không nói được thành lời.

Lập tức, ông cùng con cháu hành hương về “trang Linh Động, quận Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương” (nay là thông Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) để bái lạy Tổ phụ họ Hoa sau hơn 3.000 ngày tìm kiếm...
Hộ quốc an dân Đô đốc Quận công Hoa Duy Thành

TP - Theo Ngọc Phả do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Hiền biên soạn đầu năm 1470 được lưu giữ tại Miếu Từ Lâm, xã Đồng Minh – Vĩnh Bảo thì “...


Đô đốc Quận công Hoa Duy Thành

Lúc ấy có một người ở trang Linh Động, quận Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương họ Hoa, tên Thành, là con thứ của ông Hoa Đàm, tổ tiên dòng dõi vẫn được thụ phong kế thừa tư ấm, mẹ là Nguyễn Thị Bảng.

Một hôm đêm nằm mộng thấy hắc hổ nhập phòng rồi mang thai. Đến ngày mãn nguyệt sinh ra ông Duy Thành, lúc sinh ông có đám tường vân che trên nóc nhà 3 ngày mới tan.

Kịp đến lúc ông 12 tuổi thiên tư cao rộng, học lực tinh thông, ông thuộc nhiều binh thư, sở trường võ nghệ, mỗi lúc ông cầm cây gậy thì hàng trăm người trai tráng cũng không địch nổi.

Cha mẹ bảo ông xây dựng gia đình, ông không đồng ý. Đến năm ông 16 tuổi thì cả cha lẫn mẹ đều mất cả, ông ở nhà để hết tang.

Rồi ông đi chu du thiên hạ hà hải giang sơn, nông thôn, thành thị, không chỗ nào là không đi đến; người thời bấy giờ đã gọi ông là ông Thánh trẻ, tiếng rực gần xa. Lúc ấy ông đương chu du thiên hạ thì được nghe thấy lệnh của quan tiết chế tướng quân Trần Quốc Tuấn (theo chúng tôi “Lệnh” của quan ở đây có thể hiểu là Hịch tướng sĩ chăng? – PV), ông lập tức trở về làng, yết bảng, chiêu binh.

Lúc ấy có nhiều hào kiệt hưởng ứng, kẻ trí thì giúp mưu, người dũng thì giúp sức đến với ông rất đông, nhân dân trong vùng thấy thanh danh của ông cũng cả sợ bé xin làm thần tử, ông đồng ý và chọn lấy 30 người trai đinh cường tráng làm thủ hạ gia thần, rồi dẫn lên Kinh đô ứng tuyển.

Khi ông Trần Hưng Đạo tiếp ông thấy ông ứng đối thông thạo, văn võ toàn tài bèn tâu với vua Nhân Tôn phong ông là Đô đốc quận công lãnh nhiệm tuần phòng thủy bộ binh các đạo. Ông lĩnh trách nhiệm lĩnh quân đi tuần triệt ở các nơi xa. Đến mùa Đông (tháng 11) có chiếu chỉ của triều đình gửi ra cho ông rằng: “Quân Nguyên thế rất mạnh, chúng đã cướp đồn Vạn Kiếp, đã phạm đến Kinh đô, các quan quân đã thua nhiều trận.

Vua phải bỏ kinh thành đi một thuyền con lánh ra biển Đông. Đô đốc phải về ngay để cùng Trần Quốc Tuấn bàn mưu đánh quân Nguyên”. Ngay lúc ấy, ông đem quân về thẳng Biển Đông để gặp vua và ông Trần Quốc Tuấn, vua bảo ông Trần Quốc Tuấn rằng:

“Thế nước yên nguy, trẫm cũng nhờ ở các chủ khanh”, ông Trần Quốc Tuấn thưa: “Quân Nguyên dù có trăm vạn tinh binh, thần cũng coi như phẩy cái lông hồng vậy”. Vua nghe thấy cả mừng.

Khi chuẩn bị đánh đồn Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đưa thư cho các đạo quân ở các nơi đem quân về Vạn Kiếp để bao vây quân địch. Còn hai ông Trần Quốc Tuấn, Hoa Duy Thành đem đại quân về sau. Khi đại quân của hai ông về thì tứ diện giáp công phá tan đồn giặc, quân Nguyên đại bại, quân ta giải phóng đồn Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn bèn chia quân lập đồn ở Phả Lại và Chí Linh, giao cho các tướng kiên thủ giữ đồn, chờ lệnh của ông.

Hai ông (Trần Quốc Tuấn và Hoa Duy Thành – PV) bàn kế: Quân Nguyên thua tất nhiên phải chạy theo đường biển nên chuẩn bị cho quân sĩ và nhân dân đóng cọc ở sông Bạch Đằng, mỗi đầu cọc phủ một bó cỏ. Một mặt khiến các tướng đem quân ra phục ở các nơi trên bờ sông cửa biển. Quân Nguyên thua ở đồn Vạn Kiếp quả nhiên chạy theo đường biển tới sông Bạch Đằng.

Ông Trần Quốc Tuấn khiển ông Nguyễn Mạnh đem quân khiêu chiến ở bến Dương Bắc, Ô Mã Nhi cho rằng đem quân ra đánh Nguyễn Mạnh thế nào cũng thắng, chúng cho tất cả quân sĩ đuổi theo, lúc ấy nước thủy triều đã xuống mà quân phục binh của ta ở trên bờ bắn ra quá mạnh, quân Ô Mã Nhi đại bại.

Ô Mã Nhi thu những thuyền nhỏ còn lại chạy gấp, lúc ấy nước thủy triều càng xuống gấp riết, thuyền giáp đầu cọc, các thuyền đều bị thủng và lộn úp đi, đứa thì chết chìm, đứa thì bị bắn, bị chém, chết không kể xiết, nước sông Bạch Đằng chỗ đó trông như máu cả, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đều bị quân ta bắt sống.

Trận đại chiến Bạch Đằng kết quả quân ta đại thắng... Vua bày đại tiệc khao thưởng và gia phong cho các tướng sĩ, sau tiệc đó, Đô đốc Quận công Hoa Duy Thành phụng chiếu vinh quy bái tổ”.

Cũng theo Ngọc phả nói trên thì, su khi Đô đốc Quận công Hoa Duy Thành mất, “Vua Nhân Tôn sai người dâng sớ trở về cử hành tang lễ, tế bái long trọng và sai sứ giả của triều đình về phong là một vị tôn thần, truyền cho mộ lớn của ông là nơi cấm địa và chuẩn y cho “Từ đường của họ Hoa ở Trang Linh Động là nơi chôn nhau cắt rốn của Người và phụng sự Người mãi mãi muôn đời về sau. Khâm tai”.

Đạo sắc đầu tiên nhà Trần phong ông là: “Duy Thành Hoa phái hầu tước quận công”. Sau tặng phong: “Hùng kiệt dũng quả, hộ quốc an dân” và chuẩn y cho xã Từ đường rước tên hèm của ông về làng lập miếu thờ. Khâm tai”.

Lại nói từ sau khi ông mất có nhiều sự linh ứng, trải vua chúa nhiều triều đại đã tặng phong ông là bậc Đại vương tôn thần. Đến thời vua Thái Tổ nhà Lê (Lê Lợi – PV) khởi nghĩa ở Lam Sơn đánh đuổi quân nhà Minh để giành độc lập, đương lúc đánh quân Minh, vua Lê Lợi hành quân qua đêm vào nghỉ ở miếu thờ ông Hoa Duy Thành có khấn là “Ngài âm phù cho tôi đánh được ngoại xâm để giành độc lập”, sau vua Lê Lợi thấy có linh ứng, sau đến lúc Lê Lợi được thiên hạ phong cho ông Duy Thành là một vị thần “Phổ tế cương nghị linh phù” (Nghĩa là ông linh ứng, âm phù cho nhà Lê được thiên hạ) và chiếu chỉ cho xã Từ đường tu sửa lại đình, miếu để phụng sự ông muôn đời, nhân dân phải kiêng tên húy của ông 2 chữ “Duy Thành”. “Khâm tai”.

Đến đây, một câu hỏi được đặt ra, vì sao, “Tổ phụ” họ Hoa với chiến tích ngời ngời và được các triều vua Trần, vua Lê trọng thị, tôn vinh như thế mà con cháu phải đổi họ ly hương lánh nạn khắp nơi?

Tình sử anh thợ mộc và tiểu thư – Hậu duệ của danh tướng Phạm Ngũ Lão

Theo những khảo cứu của Đại tướng Văn Tiến Dũng và con cháu, thì vào khoảng cuối thế kỷ 14, lúc này nhà Trần đã suy yếu, Hồ Quý Ly làm Thái sư ngày càng lộ rõ ý đồ chiếm ngôi. Họ Hồ đã từng bức chặt đứt các vây cánh, quyền lực của nhà Trần; trong số những người bị o ép, triệt hạ, có con cháu của Hoa Duy Thành. Và, để tránh nạn họ Hồ, hậu duệ của Đô đốc quận công Hoa Duy Thành đã phiêu bạt đi khắp nơi, trong số này có hậu duệ đời thứ 7 là Hoa Hải Thanh.

Có tài liệu ghi, vào năm 1376, do bị truy lùng ráo riết về tung tích, Hoa Hải Thanh đã trốn sang vùng Ninh Giang ẩn náu tại đây và sinh kế làm ăn bằng hai nghề thợ mộc – thợ rèn. Được một thời gian Hoa Hải Thanh vẫn chưa an tâm vì Ninh Giang lúc đó vẫn thuộc trấn Hải Dương cách phủ Hạ Hồng không bao xa nên chàng trai thợ mộc ấy liền nghĩ ra cách đổi sang họ Văn rồi tìm đường đến nơi ẩn cư mới.

Khi tới Ủng Huê Đường, tức làng Phù Ủng, huyện Ân Thi (Hưng Yên), nghe nói có cụ Thượng Phạm Đại Công (một hậu duệ của danh tướng Phạm Ngũ Lão), gia thế quyền quý, sang trọng, đang cùng con cháu và gia nhân chuẩn bị lên làng Vân Hội, huyện Quốc Oai, trấn Sơn Tây để khai khẩn, định cư, anh thợ mộc liền tìm đến cụ Phạm xin tự nguyện làm gia nhân rồi cùng dòng họ Phạm lên miền đất mới ở huyện Quốc Oai (nay là xã Tân Hội, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây).

Hồi ấy, làng có tên gọi là Vân Hội, thuộc Tổng Cối Sơn – một địa thế tuyệt đẹp, những bãi phù sa màu mỡ được bồi đắp từ phù sa sông Hồng do sông Nhuệ dẫn tới.

Theo tộc phả thì Văn Hải Thanh sinh năm 1351, khi chạy loạn nhà Hồ, Hải Thanh vừa tròn 25 tuổi. Bình sinh, Hải Thanh là một chàng trai khỏe mạnh, sức vóc phi thường, vầng trán cao rộng, mái tóc xanh mượt, hàm én mày ngài, mắt sáng thông minh, khéo tay hay làm, tinh thông cả hai nghề mộc – rèn, lúc thì thổi lửa đánh dao, rèn búa, lúc thì đục đẽo chạm trổ những con giống tinh khôn làm thành những bức phù điêu sinh động được treo ở vách đình – cửa đền.

Mọi người ai cũng mến tài, song, Hải Thanh luôn kín miệng vì muốn cất giấu tung tích của mình, phần nữa, nghĩ mình là phận gia nhân nên chàng thợ mộc tuy tuổi đã “thâm choạc” mà vẫn một thân, một mình.

Thật ra, ngay từ ngày đầu theo chân dòng họ Phạm lên đất mới nương thân, Hải Thanh đã để mắt tới người con gái của cụ Phạm Đại Công là Phạm Thị Duyên – hậu duệ đời thứ 6 của Tổ phụ Phạm Ngũ Lão. Đã mấy năm trời trôi qua mà Hải Thanh vẫn giữ kín trong lòng những tình cảm thầm kín. Chàng nghĩ thân phận mình vừa là người lánh nạn, vừa là thứ gia nhân làm sao có thể sánh với “tiểu thư” họ Phạm lá ngọc cành vàng, vừa hay chữ lại khéo tay hay lam hay làm. Cảm Khái, Hải Thanh làm những vẫn thơ mộc mạc nhưng đượm tình.

Hải Thanh cũng không ngờ được rằng những câu thơ của mình lại lọt vào tai người con gái họ Phạm, và anh càng không ngờ hơn nữa là “người ấy” cũng cùng một tâm trạng như anh.

Cho tới một hôm sáng sớm tinh mơ, khi chàng thợ mộc cắp nách đồ nghề ra đầu làng Vân Hội thì gặp con gái họ Phạm cầm liềm ra đồng. Trong cái thanh vắng của buổi ban mai, không cầm lòng được nữa, Hải Thanh cất lời:

Tay cầm bán nguyệt hữu duyên

Cỏ sợ cứa cổ, còn sen, thế thì...?

Chẳng ngờ, chàng vừa dứt lời thì nàng đã lanh lảnh:

Thợ rèn thổi lửa đánh liềm

Cỏ non giải thảm liềm em một niềm

Khen người tính nết dịu hiền

Trách người cắt chấu để liềm em trơ!

Kể từ bữa ấy, đôi bên “tình trong như đã...”. Khi biết chuyện của hai người cụ Phạm Đại Công cũng vui vẻ thuận tình vì cụ biết dẫu thân phận khác nhau, nhưng Văn Hải Thanh vừa khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú, tính tình hiền lành khéo tay hay làm mà lại biết thơ phú.

Để sinh cơ lập nghiệp, cụ Phạm còn ban đất hồi môn cho con gái và con rể tổng cộng gần 30 sào gồm đất ruộng, vườn, hồ ao và ngôi nhà 5 gian trông ra đường cái. Họ cưới nhau năm 1379. Năm sau, tháng 3 Canh Thân (1380) sinh được người con trai đặt tên là Văn Dĩ Thành và cũng là người con trai duy nhất.

Khi Văn Dĩ Thành vừa tròn 17 tuổi thì người cha Văn Hải Thanh được các chức dịch trong làng liệt kê là tay thợ điêu luyện nên tiến dâng danh sách về Triều và Hồ Quý Ly đã tuyển mộ bắt đi xây dựng Thành An Tôn (còn gọi là Tây Đô, hay Thành Nhà Hồ ở Thanh Hóa – PV).

Khi thành xây xong cũng là lúc tin dữ bay về: Người cha Văn Hải Thanh cùng hàng trăm tay thợ giỏi khác đã chết vì sập hầm. Nhiều nguồn tin cho rằng, những người thợ tài nghệ biết rõ những vị trí cơ yếu trong thành, nên Hồ Quý Ly đã cho giết hết để giữ bí mật cung thành.

Thành An Tôn xây xong, cũng là lúc Hồ Quý Ly thực hiện việc cướp ngôi vua Trần, lập ra triều họ Hồ với niên hiệu Thánh Nguyên, đặt tên nước là Đại Ngu năm Canh Dần (1400). Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly bị bắt, đất nước lại lâm vào ách thống trị của nhà Minh.
TP - Như đã kể ở phần trước, kết quả của thiên tình sử lãng mạn giữa Văn Hải Thanh và Phạm Thị Duyên đã sinh cho đời một danh tướng huyền thoại: Nguyên soái Hắc y Văn Dĩ Thành.


Bản chữ Hán “Tứ vọng giang sơn” của Văn Dĩ Thành
Nguyên soái Hắc y Văn Dĩ Thành

Tương truyền rằng, mới 12 tuổi, Văn Dĩ Thành đã bộc lộ rõ tư chất thông minh, học đâu biết đó, thông thạo kinh sử, binh thư, sau sang làng Hạ Lôi mở lớp dạy học; vốn tài ba lại đức độ, nên người theo học rất đông. Ngoài việc dạy chữ, thầy đồ Thành còn cắt nghĩa, giảng giải chỉ dẫn những điều thiện căn theo sở trường tâm lý của trò để đưa họ dần vào các tổ chức với mục đích: chống áp bức, giải phóng con người.

Tiếng lành đồn xa, hàng ngàn người từ vùng Bắc Núi Dõm, núi Đôi Thanh Tước, đến làng Hạ Lôi đều ngợi khen. Có người còn thốt lên “Thầy đồ Thành giỏi lắm, y như người Trời phái xuống hạ giới giúp đời vậy!”.

Ngay từ nhỏ, Văn Dĩ Thành đã kết thân với Lê Ngộ - cũng là bậc tài trí hơn người. Đôi bạn tuy còn trẻ nhưng suốt ngày bàn thảo chuyện thế sự, binh thư và luyện tập võ nghệ. Không chịu nổi sự ngang ngược bạo hành của giặc Minh, Văn Dĩ Thành đã cùng Lê Ngộ phất cờ khởi nghĩa, chiêu mộ binh sĩ.

Vốn đã biết danh tiếng Văn Dĩ Thành, người người kéo đến quy tụ dưới cờ khởi nghĩa của Văn Dĩ Thành – Lê Ngộ rất đông. Một đội quân chính quy được tổ chức kỷ cương nghiêm ngặt; đại bản doanh đóng trên gò cao Đống Đám làng Vân Hội.

Điều đặc biệt là nghĩa quân toàn mặc đồ đen nên còn gọi là đội quân “hắc y”. Cách điều binh khiển tướng cũng có rất nhiều nét độc đáo, bất ngờ khiến cho quân giặc trở tay không kịp, bạt vía kinh hoàng ví dụ như lối đánh lén, nửa đêm, nghĩa quân đột nhập vào đồn giặc với cây xiên dài 4 - 5m nhọn, đầu tẩm thuốc độc cực mạnh, khi gấp lại chỉ còn khoảng 1m, cùng với binh khí khác là những cây nỏ với mũi tên tẩm thuốc độc, bí mật mai phục chờ lúc gần sáng khi những tên địch ra ngoài nhiều thì đánh tỉa. Có khi mang theo cả hỏa pháo nếu thuận tiện thì cho nổ thiêu cháy cả đồn địch.

Hoặc như cách đánh trà trộn ở những phiên chợ đông người; nghĩa quân mặc áo quần như lính nhà Minh rồi bất ngờ tiêu diệt từng tốp lính giặc khiến chúng trở tay không kịp. Còn có lối đánh Thách tặc nghĩa là tìm mọi cách khiêu khích kích động bọn giặc ra khỏi đồn, trại rồi thừa lúc chúng sơ hở, tiêu diệt…

Với những trận đánh “xuất quỷ nhập thần”, thanh thế của nghĩa quân “Hắc y” ngày càng khiến cho quân giặc mất ăn, mất ngủ; phạm vi hoạt động của nghĩa quân cũng lan rộng tới các vùng Mê Linh, Quế Dương, Quế Võ, Lương Tài và Văn Dĩ Thành đã được dân chúng tôn vinh là “Đại nguyên soái Hắc y nhất bộ”.

Sau nhiều cuộc tấn công thất bại, giặc Minh bèn cho sứ giả 8 lần đến dụ dỗ bằng chức quyền, tiền bạc đều không thành. Lần cuối cùng, nhân lúc phó tướng Lê Ngộ đưa quân áp thành Đông Đô, giặc lại cho sứ giả đến dưới chiêu bài đàm phán, đồng thời bí mật cho đại quân áp sát vào dinh.

Mặc dù bị động, quân sĩ lại ít hơn nhiều lần, nhưng nghĩa quân đã cùng chủ tướng Văn Dĩ Thành đã anh dũng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Hôm đó là ngày 12/3 âm lịch năm Bính Thân 1416.

Sau này có câu về Ngài rằng: “Sinh Canh, tử Bính cả đời tuổi Thân”. Thương tiếc vị tướng trí dũng song toàn, dân làng đã suy tôn ông làm Thành Hoàng làng Vân Hội nay là xã Tân Hội, Quốc Oai, Hà Tây và lập đền thờ Văn Dĩ Thành tại Miếu Voi Phục (nay đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia).

Tuy cuộc khởi nghĩa thất bại sau gần 10 năm chiến đấu, song, điều làm cho Đại tướng Văn Tiến Dũng hết sức ngạc nhiên là tư duy quân sự và tư tưởng dân tộc của tiền nhân Văn Dĩ Thành chứa đựng rất nhiều điều mới mẻ, hiện đại.

Tương truyền rằng, sau khi chồng bị sát hại, được tin đứa con trai độc nhất dựng cờ khởi nghĩa, cụ bà Phạm Thị Duyên không hề ngăn cản con mà chỉ dặn dò rằng “Thù nhà, nợ nước không chỉ trả bằng nước mắt hay sức lực. Thắng bạo tàn phải bằng trí tuệ”.

Có lẽ, xuất phát từ lời dạy của mẫu thân, cộng với tố chất bẩm sinh, trong huấn luyện binh sĩ, Văn Dĩ Thành đã chủ trương mở mang trí tuệ, đánh giặc phải đi đôi với học hành và tăng gia, muốn thắng lớn thì học hành càng phải cao, lương thực càng phải nhiều.

Đích thân Văn Dĩ Thành đã soạn ra “Lục điều kim ngọc” để truyền bá cho quân sĩ và dân chúng, đó là:

Nhất túc thảo lương hữu tối đa
Nhị dụng chiến thuật giữ can qua
Tam trừ Minh tặc xâm biên giới
Tứ diện chu toàn mật quốc gia
Ngũ kết đồng tâm đồng thượng hạ
Lục cương nghiêm tĩnh nhất sơn hà

Tạm dịch là:

Một là thóc gạo thật nhiều
Hai dùng chiến thuật lựa theo sức mình
Ba là quyết đuổi giặc Minh
Bốn mặt hiểm mật tình hình kín bưng
Năm là trên dưới một lòng
Sáu nghiêm quân kỷ, quân phong hàng đầu

Rõ ràng “Sáu điều vàng ngọc” nêu trên là tổng hợp các yếu tố tối quan trọng cho bất kỳ một cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc nào. Điều gây bất ngờ hơn nữa là Văn Dĩ Thành đã đề ra “Tứ vọng giang sơn” – Bốn điều ước vọng vì đất nước – mà trong đó chủ đề tư tưởng không thua kém gì một “Bản Tuyên ngôn”: Đất nước độc lập, dân tộc tự do, nhân dân hạnh phúc...

Đến đây thì tôi vô cùng băn khoăn (chắc hẳn bạn đọc cũng vậy) tự hỏi, không hiểu vì sao một nhân vật như Văn Dĩ Thành – có họ tên, gốc tích, năm sinh và ngày tháng năm mất, với những chiến tích và tư tưởng tân tiến như vậy, mà cho đến nay vẫn chưa hề một công trình hay chí ít là một bài nghiên cứu chính thống được đăng tải trên sách hoặc tạp chí, báo chí.

Xin nói thêm rằng, tại “Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia” “Miếu Voi phục” và Lăng Văn Sơn” vẫn còn lưu giữ được 40 đạo sắc phong của các triều đại Lê – Nguyễn ghi nhận công lao của Văn Dĩ Thành: “Nam thiện thượng đẳng thân” “Nguyên soái Hắc y anh hùng hào kiệt, hữu công tối đại”… sắc phong của vua Quang Trung ca ngợi ông: “Người có tài giúp đời cứu dân, một nhân tướng khoan dung đại độ, thông tuệ, quả đoán, có kiến thức rộng lớn”…

Lại nói thêm rằng, thận trọng hơn, tôi đã hỏi đi hỏi lại một số con cháu của Đại tướng Văn Tiến Dũng: Liệu có một công trình hoặc một bài viết nào về tiền bối Văn Dĩ Thành mà các vị bỏ sót chăng? Trả lời: - Con cháu dòng họ Hoa – Văn có tới hàng ngàn, hàng vạn. Một chữ về dòng họ, chúng cũng không bỏ qua huống chi là một công trình.

Từ trước tới nay, chỉ duy nhất có Tạp chí Cửa Biển của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã dành cho cụ Văn Dĩ Thành hơn hai chục dòng. Cũng đã đôi lần chúng tôi đặt vấn đề với một số người, nhưng vẫn chưa thấy hồi âm gì!?


Mạnh Việt

www.tienphong.vn



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của donkihotexuthanh

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 20-06-2008, 12:32 PM
munia munia is offline
Nhập Môn Tu Luyện
 
Tham gia: Jun 2008
Bài gởi: 1
Thời gian online: 3 giờ 59 phút 7 giây
Xu: 0
Thanks: 2
Thanked 0 Times in 0 Posts
Nhân trí cường,đời thụ lộc,hộ quốc an dân,dân vĩ kính,thịnh suy một lẽ,tộc trương tồn!
Tài sản của munia

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
, , dai tuong van tien dung, daituong van tien dung, , họ văn tiến dũng, nguon en van tien, , su that van tien dung, su that ve van tien dung, su thatve van tien dung, suthatvevantiendung, suthtvevantiendung, tieusu.vantiendung, tuong van tien dung, tướng họ văn, van tien dung, vantiendung, vantiendunn

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™