Ghi chú đến thành viên
Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
  #1  
Old 18-05-2008, 10:22 AM
donkihotexuthanh's Avatar
donkihotexuthanh donkihotexuthanh is offline
Phá Quan Hạ Sơn
 
Tham gia: Apr 2008
Bài gởi: 293
Thời gian online: 0 giây
Xu: 0
Thanks: 0
Thanked 11 Times in 5 Posts
Huyền thoại cụm tình báo H63 anh hùng

Kỳ 17: Niềm tin tuyệt đối giữa những người đồng đội

(VietNamNet) - Lo lắng cho người chị giao liên vất vả, sung sướng khi chuyển được tài liệu an toàn, day dứt khi đồng đội vì mình phải hy sinh hạnh phúc... - những tâm trạng ấy cứ đan xen lẫn lộn trong cuộc sống hàng ngày của Hai Trung.
Người ta nói làm tình báo phải sống dưới nhiều gương mặt, và gương mặt hạnh phúc nhất của Hai Trung là khi được sống mở lòng với niềm tin tuyệt đối vào những người đồng đội mà ông đã từng... không biết là ai.

“Chỉ có trẻ con mới không sợ chết”

Tháng 11/1975, Trung tướng Trần Văn Quang (từng giữ các chức Cục trưởng Cục tác chiến, Phó Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng. Ông giữ chức chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam từ 1992 đến 2002) khi gặp 2T tại Sài Gòn đã đặt câu hỏi: "Trong suốt thời gian hoạt động của anh, cái gì và khi nào làm anh thích thú nhất?”. 2T trả lời: "Thưa Trung tướng, đó là mỗi khi tôi lấy được một tài liệu quan trọng, một tin tức có giá trị cao nhất mà tôi đã mất công theo dõi lâu ngày, đáp ứng đúng như cầu của cấp lãnh đạo. Thậm chí, có khi mất ăn mất ngủ để lấy cho được tài liệu. Và một khi lấy được rồi tôi thấy sung sướng đến mức ăn thì thấy ngon nhưng ngủ không được, độ 1-2 hôm rồi mới trở lại sinh hoạt bình thường".


Điệp viên luôn là đối tượng bị săn đuổi của mọi thế lực an ninh, tình báo địch giăng ra, trùng trùng điệp điệp

Cái 1-2 hôm “mới trở lại bình thường”đó là quãng thời gian cần thiết để tài liệu được chuyển an toàn ra căn cứ, đến tay lãnh đạo và có phản hồi ngược lại với điệp viên qua giao thông viên.

Trong bài học đầu tiên với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ông vẫn còn rất nhớ, mỗi một bản tin kịp thời ra tới căn cứ sẽ tiết kiệm được xương máu cho cả đội quân. Với gần 500 bản tài liệu mật trong cả cuộc đời làm tình báo, ông đã cứu được biết bao đội quân không phải đổ máu, theo như cách mà Đại tá Anh hùng Ba Minh từng định nghĩa đầy đơn giản: "Góp sức ít mà đánh được địch nhiều".

Vì mức độ lợi hại như thế, điệp viên luôn là đối tượng bị săn đuổi của mọi thế lực an ninh, tình báo địch giăng ra, trùng trùng điệp điệp.

Nếu như cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến bị động, họ buộc phải chống lại những kẻ xâm lược, thì những chiến sỹ tình báo lại luôn phải là những người chủ động. Trong mọi hoàn cảnh, họ phải chủ động tấn công để lấy tài liệu, tin tức, giữa mạng lưới đồ sộ của mật vụ, an ninh Mỹ, an ninh Việt Nam Cộng hoà.

"Điệp viên là con người và chẳng có người nào là không sợ chết, ngoại trừ trẻ con chưa ý thức được chết là gì. Nhưg vì một lý tưởng cao cả, vì một động cơ nào đó thức đẩy ý thức con người dám chất nhận chết là vấn đề khác", Hai Trung lý giải sự chọn lựa của bản thân rất rành mạch.

Không ai biết ai mà nên nghĩa nên tình

14 năm, người giữ nhiệm vụ liên lạc giữa cơ cán đi sâu 2T với tổ chức là một giao thông viên tuổi đã cao: Chị Nguyễn Thị Ba, người thường được thân mật gọi tên là chị Ba già.

Dưới bình phong một bà già bán hàng mỹ ký ở chợ (từ 1961 - 1965), rồi kể cả sau này liên tục phải di chuyển sang nơi khác, bà Ba (2T vẫn quen gọi là chị Mười) cứ miệt mài trong vai trò người giao thông thầm lặng, làm tốt nhiệm vụ của mình dù trời mưa hay nắng, dù trong bất cứ thời điểm khốc liệt nào.


Họ sống thầm lặng, chiến đấu thầm lặng, và chấp nhận hy sinh cũng rất thầm lặng, để cho những chiến công của ông được vinh danh đến ngàn đời - Ảnh: Tư liệu
Lúc đầu theo lịch, cứ nửa tháng có một chuyến giao hàng, cho tới thời kỳ cao điểm mỗi tuần lên tới ba chuyến, vậy mà "suốt thời gian dài hơn 10 năm, chị Ba không thất hẹn lần nào cả. Chỉ có Trung thất hẹn vài lần vì công tác đột xuất".

Thời đó, Hai Trung không biết cụ thể chị là ai, mọi việc đều do tổ chức chỉ huy. Mãi sau giải phóng, Hai Trung mới biết là chị Ba có 2 người con, chồng ra Bắc tập kết từ năm 1954, đứa con gái lớn đã gửi vào cứ, còn đứa nhỏ tên Thắng ở cùng với chị.

Hai mẹ con sống cô đơn trong nội thành, chỉ để làm nhiệm vụ giao liên. Vì thế, lúc còn nhỏ, chị hay đưa con đi cùng trong những chuyến “nhận hàng” từ Hai Trung.

Nhưng đến khi 11-12 tuổi, Thắng đã đủ lớn để nhớ được khuôn mặt Hai Trung. Một lần, tình cờ thấy ông đi dọc đường, cậu bé về khoe ngay với mẹ. Giật mình, chị Ba đành đứt ruột xa con, gửi Thắng vào trong cứ để giữ an toàn tuyệt đối cho điệp viên số 1 của lưới.

"Việc chị Ba gửi Thắng vào vùng giải phóng, mẹ chấp nhận xa con khiến Trung nhớ mãi", Trần Văn Trung xúc động kể lại sau này.

Nhưng những điều kỳ lạ về nghĩa tình đồng đội chưa dừng lại ở đấy. 14 năm chiến đấu cùng nhau, sẵn sàng vào sinh ra tử vì nhau, song những người đồng đội ấy lại... không hề biết gì về nhau.

Hai Trung chỉ biết chị Ba hay đi cùng một cậu bé, không tên tuổi, không nơi cư trú. Hết. Còn chị Ba chỉ biết Hai Trung là người chuyển tài liệu, thi thoảng lỡ hẹn với chị Ba. Hết.

Không một thông tin thừa. Không một chút tò mò, không một phút hồ nghi. Họ chỉ biết, đây là những con người kiên trung, được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ. Và nghĩa vụ của những người lính - những người con yêu nước là hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, không được phép gây một chút hiểm nguy lên vai những người đồng đội.

Cứ thế, họ đã đi cùng nhau trên quãng đường chông gai đầy cạm bẫy cho tới khi kết thúc cuộc chiến tranh dài gian khổ.

Sau này, vì thương chị Ba nhiều tuổi phải đi lại vất vả, Hai Trung từng đánh liều hẹn gặp chị Ba ngay tại cổng trường lúc Hai Trung đi đón con. Hoặc có lần, vì xót cho chị phải cuốc bộ xa xôi nên Hai Trung tự mình đưa chị đi trong nội thành trên chính chiếc xe hơi của ông.

Những lần đó, Hai Trung đều hiểu mình đang phạm phải nguyên tắc nghề nghiệp: gặp chị Ba ở trường tức là để chị biết rằng Hai Trung có con đang học ở đó, chở chị Ba bằng xe riêng tức là để chị Ba biết biển số xe, từ đó có thể lộ tung tích của mình...

Gần 20 năm trong nghề, nay đã chui sâu leo cao trong lòng địch, ông biết rõ mình không được phép mắc lỗi, dù nhỏ nhất. Song Hai Trung vẫn cứ làm, bởi ông tin người đồng đội ấy, cũng như ông đã từng tin tưởng rằng anh Hai, anh Ba sẽ không bao giờ khai ra khi các anh bị bắt trong những năm tháng đầu chống Mỹ.

Niềm tin ấy, ai có thể lý giải nổi? Các thế hệ sau có lẽ chỉ có thể diễn đạt một cách vụng về rằng, trước những nguyên tắc tuyệt mật, những người đồng đội chỉ có thể yêu thương và sẵn sàng chết vì nhau nhờ một LÝ TƯỞNG VÀ NIỀM TIN TUYỆT ĐỐI!

Đến cuối năm 1974, chị Ba được rút ra cứ vì đã đến tuổi nghỉ ngơi, chuẩn bị ra Bắc đoàn tụ gia đình. Nhưng khi Đảng đề nghị, chị lại tự nguyện trở vào thành liên lạc với Hai Trung, bởi lúc này đang là giai đoạn quyết định.

Chuyến chuyển hàng cuối cùng giữa chị Ba già và "người Việt trầm lặng" Trần Văn Trung là chuyến hàng mang kế hoạch quân sự 1975 của chế độ cũ ra căn cứ. Hoà bình lập lại, chị Nguyễn Thị Ba được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công vô cùng thầm lặng đó.

Còn tiếp nữa những anh hùng biến... giỏ rác thành sức mạnh thần kỳ

Xưa nay, điệp viên luôn được xây dựng như một hình mẫu độc lập, nhưng những di cảo còn lại của điệp viên huyền thoại Phạm Xuân Ẩn thì lại khẳng định rằng "điệp báo và giao thông là hai chân của một thế đứng. Dù nhiệm vụ khác nhau nhưng y êu cầu về nghiệp vụ và phẩm chất cách mạng phải ngang tầm nhau. Khâu này ở lưới của Hai Trung chẳng những rất cân đối mà còn có giá trị tương hỗ, chi viện lẫn nhau cả về tình cảm và ý chí cách mạng".

Chính sự chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong cả tình cảm và ý chí cách mạng đó đã khiến Trần Văn Trung luôn cố gắng bằng mọi cách đảm bảo rằng mỗi chuyến liên lạc đều có một tài liệu hay bản tin có giá trị để giao liên mang về.

"Mỗi chuyến liên lạc là một nỗ lực xương máu của chiến sỹ từ cụm tới ven biên, về hộp thơ vùng tạm chiếm tới nội đô", do vậy, với ông, "giao liên là khâu quan trọng nhất và khó khăn nhất trong lưới. Không tổ chức tốt thì chỉ huy không điều khiển được điệp viên và tin tức tài liệu lấy được chỉ... bỏ vào giỏ rác nếu không chuyển về an toàn và kịp thời".

Ngoài những con người như chị Tám Thảo, chị Ba già..., Hai Trung còn nhận được sự tiếp sức từ hơn 40 con người nữa. Trong số họ, có những người thậm chí ông còn không bao giờ biết tên. Họ sống thầm lặng, chiến đấu thầm lặng, và chấp nhận hy sinh cũng rất thầm lặng, để cho những chiến công của ông được vinh danh đến ngàn đời.

--- * ---

Cụm tình báo có bí số H63 với 45 chiến sỹ đã dệt nên một huyền tích mới về tình yêu Tổ quốc, sự trung thành, lòng dũng cảm và mưu trí của những con người thời đại Hồ Chí Minh.

Trong thời kỳ địch càn quét, giăng bẫy dày đặc như khoảng thời gian 1968 – 1969, những chiến sỹ ấy đã mở 3 mạch máu giao thông thông suốt, bám trụ ngay tại vùng đất nhuốm đầy lửa máu và bom đạn Phú Hoà Đông để đêm đêm lên máy chuyển tin ra Hà Nội.

27 người trong cụm H63 đã hy sinh suốt 14 năm (1961 – 1975) để đảm bảo liên lạc cho gần 500 bản tài liệu có giá trị chiến lược và chiến thuật của Hai Trung.

Những ngày dữ dội nhất Mậu Thân 1968, Cụm trưởng Cụm H63, người đàn ông đặc biệt hóm hỉnh, gan dạ, mưu trí và có tài bắn hai tay hay súng Tư Cang đã vào nội đô Sài Gòn, trực tiếp sát cánh cùng điệp viên số 1 của Cụm là Hai Trung, chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công Mậu Thân lịch sử.

Cùng nhau, họ đã lập nên những kỳ tích chiến công như huyền thoại trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đẹp đến mức mà những người chỉ huy ở cấp cao nhất từng ngợi ca: "Tập thể xung quanh điệp viên 2T là một tập thể trong sáng, anh hùng".
Kỳ 18: Bắt đầu từ "tình yêu bò cạp"

(VietNamNet) - Trong lưới tình báo huyền thoại H.63, điệp viên Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung) và Tám Thảo (Mỹ Nhung) dù hoạt động trong lòng địch nhưng chưa bao giờ cô độc. Đằng sau họ là cả một "hậu phương" hoạt động thuần thục như một cỗ máy. Và mỗi cỗ máy luôn cần có một "máy trưởng" tài ba.

"Máy trưởng" chỉ huy cỗ máy H.63 anh hùng được biết đến với tính cách hóm hỉnh, gan dạ, mưu trí và có nhiều tài vặt, nhất là biệt tài bắn súng 2 tay như một. Ông là ai?

Trong một tài liệu đánh giá về lưới H.63, cụm trưởng có một vai trò quan trọng: kiểm tra, điều nghiên tình trạng của toàn lưới một cách cụ thể, tiếp xúc với điệp viên để hướng dẫn, bồi dưỡng cho điệp viên, nghe điệp viên nói, để điệp viên bớt cô độc và căng thẳng. Cấp chỉ huy lúc nào cũng phải kiểm soát được điệp viên trong mọi tình huống.
Những năm tháng ác liệt nhất trên chiến trường miền Nam, với vùng ven luôn bị vây ráp, trong thành bị kiểm tra gắt gao, trong mỗi lưới tình báo, cụm trưởng phải là người "đứng mũi chịu sào". H.63, dưới sự chỉ đạo của ông, vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để bất cứ lúc nào cũng có thể thông tuyến từ trong thành ra căn cứ và ngược lại. Cùng với một tập thể anh hùng, 32 năm sau, năm 2006, cụm trưởng H.63 nhận danh hiệu cho riêng mình, từ Đảng và Nhà nước: Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Con đường từ cậu bé nghèo đất Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cụm trưởng Cụm tình báo H.63 huyền thoại và Anh hùng LLVT của ông như thế nào?
"Tình yêu bò cạp!"

Năm 1928, tại một làng quê xã Long Phước (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nguyễn Văn Tàu ra đời. Cậu bé nghèo sau này trở thành chỉ huy của cụm tình báo huyền thoại có một tuổi thơ đầy khí tiết cách mạng và tình yêu... trẻ con. Tháng 4/2007, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai vợ chồng ông đều vui đùa gọi đó là tình yêu bọ cạp!
Cậu bé nghèo sau này trở thành chỉ huy của cụm tình báo huyền thoại có một tuổi thơ đầy khí tiết cách mạng và tình yêu... trẻ con.
Hồi nhỏ, gia đình nghèo khổ, Nguyễn Văn Tàu phải gánh hàng rong đi bán trong xóm phụ mẹ. Gánh hàng nhỏ bán đủ thứ vật dụng như dầu hôi, nước mắm, thuốc tây... Ngoài gánh hàng rong cùng mẹ, Tàu mua cả heo về làm thịt và gánh đi bán. Không có nghề nào cậu bé nghèo này không làm, miễn là kiếm ra tiền, giúp mẹ. Nhưng anh vẫn ham học, tiếng Pháp nói giỏi nhất làng.

Giặc Tây ào tới làng quê thanh bình. Chúng chiếm trường học. Ngôi trường nơi Tàu đang học phải dời xuống Mỹ Tho. Tàu không theo được. Anh về nhà và vào đội thanh niên tiền phong. 17 tuổi, khát vọng làm cách mạng nung nấu trong đầu Tàu. Khi đó, phong trào thanh niên tiền phong của mình, nhưng núp bóng Nhật để tổ chức. Nhật đã đảo chính Pháp, chúng cho phép thành lập các đội thanh niên tiền phong.

Tham gia hoạt động, nhưng Nguyễn Văn Tàu chưa biết gì về Đảng cộng sản. Lý do đơn giản nhất anh vào đội tiền phong: Thấy vui thì nhập! Niềm vui của Tàu là đêm đêm anh được gọi đi tập đánh trận giả, tập võ... Khí thế trai trẻ, có chút võ trong người, đêm nào Tàu cũng tham gia thi thố trên võ đài làng.

Tháng 8/1945, khi cả nước giành chính quyền, Tàu cũng cầm gậy tầm vông chạy ra tỉnh cùng dân làng. Thiếu niên Tàu nhớ mãi hình ảnh lãnh tụ thanh niên tiền phong cưỡi ngựa chạy trước, dân làng chạy theo sau. Anh chỉ nghe dân làng nói đi đánh Tây, thế là cầm gậy đi. Tàu suy nghĩ thật giản đơn: Mình đang góp sức đuổi Tây ra khỏi đất nước.

Tàu ham chơi. Mẹ anh quyết định cưới vợ cho con bớt lêu lổng. Giữa Nguyễn Văn Tàu và cô bé Trần Ngọc Ảnh khi đó không hề có tình yêu. Tất cả do cha mẹ, ông bà hai bên sắp đặt. Năm 1946, cô bé Trần Ngọc Ảnh nghe theo ông bà, sang "ở" nhà Tàu. Cô nghe mọi người nói làm dâu rất cực, nhưng không thể chống lời ông bà. Khi mới cưới, hai người ở chung nhà, mang danh vợ chồng nhưng chẳng... quen nhau.

Hai vợ chồng trẻ con không ai thèm nói chuyện với ai. Có hôm, vợ Tàu bị con bò cạp cắn. Cô khóc rống lên. Má chồng chạy vào, thấy thế kêu lên: "Tàu ơi Tàu! Con vợ mày nó bị bò cạp cắn, mày vào xem nào!". Con bò cạp giúp 2 vợ chồng trẻ con có cái nắm tay đầu tiên. Từ hôm đó, hai người mới nằm chung giường và nói chuyện với nhau. Nguyễn Văn Tàu mới 18 tuổi.
Má tâm sự thật, tìm vợ để Tàu khỏi đi đánh giặc. Bà thương con, muốn giữ chân con ở làng. Gia đình chỉ có mình Tàu. Khi má sinh ra Tàu, ba anh bỏ đi kiếm vợ khác.

Giặc Tây về làng kiếm một người thông ngôn. Cả làng chỉ mỗi Tàu biết tiếng Pháp. Trước, mỗi lần có Tây đến, quan làng lại gọi Tàu đi phiên dịch. Khi bọn Pháp về, chúng phàn nàn, tại sao cả làng không ai biết tiếng Pháp, mình Nguyễn Văn Tàu biết mà không kêu vào làm việc?

Hồi đó, Tàu hay đi theo một người có tư tưởng yêu nước trong làng là ông Nguyễn Văn Đường. Ông dạy anh hát những bài cách mạng. Khi học trong trường, cũng nhiều người nói với Tàu chuyện về cách mạng, về những tất yếu phải đuổi Tây ra khỏi đất nước. Những tình cảm với cách mạng, dù mơ hồ nhưng đã ngấm dần vào đầu chàng thanh niên trẻ.

Tàu ghét làm việc cho Tây. Biết chuyện người Tây đang tuyển mình làm thông ngôn, anh ở luôn trong rừng, không về nhà nữa. Đó là năm 1947, chỉ một năm sau khi có vợ. Tàu tranh thủ "để trong bụng vợ một miếng" (từ của bà Trần Ngọc Ảnh, vợ ông Nguyễn Văn Tàu) rồi đi tuốt luôn. Cả làng biết Tàu hay làm thông ngôn cho Tây.

Nhưng cũng nhiều tin đồn anh theo Việt Minh vào rừng. Ngay sau khi chồng biền biệt trong rừng, Trần Ngọc Ảnh cũng sinh con và lên Sài Gòn học nghề đánh máy kiếm sống.

Bài học đầu tiêu

Nguyễn Văn Tàu có "máu tình báo" từ khi còn là một thanh niên mới lớn. Từ năm 1947, chàng trai nghèo Nguyễn Văn Tàu đã được ông Tư Túc dẫn dắt vào làm quân báo ở Long Điền (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Những thử thách đầu tiên không bao giờ dễ dàng với Nguyễn Văn Tàu.
Thời kỳ này cũng đã manh nha ý thức cho Tàu về người chiến sĩ tình báo, nhất là hoạt động trong nội thành, đối diện với vô vàn hiểm nguy như thế nào. Và lần "sai sót" đầu đời của chàng trai trẻ Nguyễn Văn Tàu đã trở thành kinh nghiệm quý báu cho người cụm trưởng H.63 Tư Cang sau này.

Nhớ lại, khi ấy Tàu có bình phong làm công cho một tiệm nước người Hoa ở Phước Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu). Ông Tư Túc sai Tàu đi nắm tình hình đồn bốt giặc xung quanh rồi báo về. Tàu làm nhiệm vụ được mấy tháng thì xảy ra sự cố. Một hôm, lúc buổi trưa vắng vẻ, cô hàng tào phớ bị mấy thằng Tây trêu chọc. Thấy cảnh bất bình, "máu Từ Hải" trong người nổi lên. Anh can thiệp. Dùng vốn tiếng Pháp của mình, Tàu nói vào mặt 2 thằng Tây: "Các anh làm gì đó, buông con người ta ra!".

Tàu tự tin, vì hồi đó võ nghệ khá, lại nói tiếng Pháp trôi chảy. Lâu nay, tụi Pháp hàng ngày đi qua không biết gì về anh. Chúng nghĩ đơn giản: Tàu chỉ là kẻ bưng bê thuê! Vì thế, chúng giật mình vì kẻ phục vụ này biết tiếng Pháp. Hai thằng Tây to cao lực lưỡng buông cô hàng tào phớ ra. Tàu được đà, ngồi phân tích cho tụi nó rằng, quân đội nước khác tới đây, nếu làm vậy dân chúng đánh giá. Một thằng ngồi nói chuyện với Tàu, còn thằng kia vẫn tiếp tục ra ve vãn cô tào phớ tội nghiệp.
Tàu bảo thằng đang nói chuyện kêu thằng kia vào. Nó không nghe, còn cười khiêu khích. Anh đứng dậy định ra tay, cô hàng tào phớ sợ hãi núp sau lưng. Hai thằng Tây tức giận, lăm le súng và lựu đạn. Nhưng dân chúng đứng xem đông, chúng không làm gì được. Trước khi bỏ đi, chúng gằn giọng: "Chiều nay chúng ta sẽ gặp lại!".

Bọn Pháp vừa đi, Tàu nói với chủ tiệm không thể ở đó được nữa. Anh vô thẳng chiến khu Bà Rịa. Đến chiều, 2 tên Pháp dẫn một tiểu đội đến. Chúng lôi chủ tiệm đánh để truy tìm người phục vụ giỏi tiếng Pháp. Mấy ngày sau, đi đâu, chúng cũng mang ảnh Tàu (lấy trong tiệm nước) ra dò hỏi.
Hơn 30 năm sau, khi đã trở thành cựu cụm trưởng của lưới tình báo H.63 huyền thoại, Đại tá Nguyễn Văn Tàu thừa nhận: Đây là bài học đầu đời cho nghề tình báo của mình. Bởi vì, với nghề tình báo, nhiều lúc không thể để cho mọi người biết mình là ai, giỏi cái gì, phải thể hiện ra sao

Sau đợt va chạm với 2 thằng Tây, Nguyễn Văn Tàu hoạt động thêm một thời gian trong Ban quân báo Bà Rịa- Vũng Tàu rồi ra Bắc tập kết vào năm 1954.
Đây là quãng thời gian chuẩn bị hình thành một "tư cách chỉ huy" trong con người Nguyễn Văn Tàu. Anh bắt đầu phát huy các tài vặt sẵn có và học tập những "ngón nghề" của nghề tình báo, mong một ngày được trở lại Sài Gòn hoạt động. Nhưng, những thử thách đầu tiên không bao giờ dễ dàng...

Kỳ 19:Thử thách đầu tiên của xạ thủ "hai tay như một"

- Biệt tài bắn súng "hai tay như một" của chàng trai miền Nam Nguyễn Văn Tàu thời ấy chỉ thua các xạ thủ quốc gia. Các "ngón nghề" quan trọng cũng được Tàu tích luỹ dần trong những năm tháng tập kết. Trước khi vượt dãy Trường Sơn trở về Nam, bài tốt nghiệp như một nhiệm vụ và thử thách thực thụ đã được Nguyễn Văn Tàu vượt qua xuất sắc...
Xạ thủ kiêm nhà văn và viên đạn dành riêng

Thời gian này, Nguyễn Văn Tàu mang tên Trần Văn Quang và làm Trung đội trưởng trinh sát kiêm Chính trị viên đại đội thông tin của Sư đoàn 338. Chuyện biệt tài bắn súng hai tay như một của cụm trưởng tình báo H.63 sau này cũng bắt đầu từ đây.


Vị chỉ huy tình báo bắn súng 2 tay như một.
Khi ở miền Bắc, trong tâm trí người sĩ quan miền Nam Trần Văn Quang đã phán đoán đến ngày trở về. Sẽ lại vào thành hoạt động, sẽ được hoạt động đúng như khát khao của anh, nhưng mới chỉ được thể hiện ngắn ngủi trong thời gian ở quân báo Bà Rịa. Quang bắt đầu tập đủ thứ. Tất nhiên anh biết, những thứ anh học sẽ có lợi cho nghề tình báo sau này.

Trung đội trưởng Quang có nhiều tài vặt, lại ham học nên anh biết nhiều thứ. Tận dụng xe của đơn vị, ngày nghỉ Quang tập lái. Đủ các loại địa hình, các tình huống. Lương hồi đó được 80 đồng, anh dành dụm gần 3 tháng để mua máy chụp hình. Có máy, anh lại lọ mọ tập rửa phim, bọc phim, in ảnh. Bất cứ lúc nào có thời gian rỗi, Quang lại dành cho việc tập xe, chụp ảnh.

Nổi nhất trong những tài của Trần Văn Quang là bắn súng bằng hai tay và có độ chính xác cao.
Kỳ 20: Lắp ráp và khởi động "cỗ máy" H.63
- Đầu năm 1962, vượt Trường Sơn, Trần Văn Quang từ miền Bắc trở về chiến khu R (Tây Ninh). Quang có tên hoạt động là Tư Cang và nhận nhiệm vụ: Chỉ huy lưới tình báo A18 (tiền thân của lưới H.63 sau này). Đây là những năm tháng chiến trường miền Nam trong tình thế khó khăn. Lưới tình báo hàng trăm người, chỉ để phục vụ và bảo vệ các điệp viên. Họ có an toàn và hiệu quả trong lòng địch?
"Máy trưởng" nhận nhiệm vụ

H.63 là được ví như một "cỗ máy". "Máy trưởng" Tư Cang trở về từ miền Bắc, nhiệm vụ: khởi động và vận hành trơn tru "cỗ máy" này.


Đầu năm 1962, Trần Văn Quang từ miền Bắc trở về chiến khu R, lấy tên hoạt động là Tư Cang và nhận nhiệm vụ: Chỉ huy lưới tình báo A18 (tiền thân của lưới H.63 sau này).
Những năm 60, tình hình miền Nam gặp nhiều khó khăn với những đợt vây ráp gắt gao của địch. Việc di chuyển cán bộ tình báo từ miền Bắc vào Nam hoạt động cũng gặp trở ngại. Đường bộ bị ngăn, đường biển càng nguy hiểm hơn. Trung ương Cục miền Nam có sáng kiến thành lập các cụm tình báo hoạt động xung quanh Sài Gòn. Cụm tình báo sẽ khắc phục được liên lạc đường dài giữa Cục tình báo và các điệp viên họat động trong lòng địch. Mỗi cụm phụ trách và phục vụ chỉ 1, 2 điệp viên.

Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai Trung. Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ.

Thời kỳ đầu, H.63 là bộ phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) từ Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước ngòai, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý - cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ đạo.

Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần, Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5/1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63.

"Khởi động" H.63!

"Cỗ máy" đã có "máy trưởng", sẽ kết nối các "bộ phận" và hoạt động như thế nào?



Đầu tiên là liên lạc. Trong một lưới tình báo, khâu liên lạc là khâu khó khăn nhất, đặc biệt là liên lạc trong nội đô. Tài liệu, tin tức điệp viên đưa ra, dù điệp viên có giỏi đến đâu nhưng liên lạc kém cũng sẽ thất bại. Thất bại, đồng nghĩa với sinh mệnh của điệp viên nguy nan. Liên lạc viên nội đô của H.63 trực tiếp nhận tin từ Hai Trung phải là người đảm bảo được nhiều yếu tố.

Đó là một bình phong tốt, trí nhớ cao, thuộc nhiều địa danh trên đường phố, địa bàn, thông thạo các phương tiện công cộng, các nơi tập trung đông người như tiệm ăn, rạp hát, chợ... để dễ thay đổi chỗ hẹn. Liên lạc viên nội đô phải có óc quan sát sắc bén, biết nhận diện tướng mạo con người để phát hiện khi bị theo dõi, đủ tài đánh lạc hướng.

Ai sẽ dấn thân vào nguy hiểm và đáp ứng được những điều kiện khắt khe của nhiệm vụ kết nối này?

Nhiều giao thông được đưa vào thành giới thiệu với Hai Trung. Nhưng ông không đồng ý một ai. Hai Trung hoạt động trong thành, lường trước được những điều xảy ra với một giao thông viên nội đô. Người trẻ quá dễ bị bọn lính chọc ghẹo. Có người là thanh niên, dễ bị bắt lính bất cứ lúc nào.

Giao liên Nguyễn Thị Ba (quê Long An) được giới thiệu với Hai Trung. Chị Ba (còn gọi là chị Ba già) đáp ứng được những yêu cầu mà điệp viên và tổ chức đặt ra. Chị Ba có tuổi, giàu kinh nghiệm, thông thuộc địa bàn, chưa bị bắt lần nào và có bình phong tốt. Hai Trung mới nghe tổ chức giới thiệu, đã nhận ngay.

Trong một tài liệu tổng kết về giao thông viên lưới H.63, vai trò của Nguyễn Thị Ba được đánh giá: một giao liên gan dạ, mưu trí bên cạnh điệp viên. Và những yếu tố khác: Chị Ba là đảng viên, chồng cũng là cách mạng lão thành. Xa chồng, xa con, chị một mình vào Sài Gòn lấy bình phong bán đồ vàng giả, đồ chơi trẻ con để làm liên lạc cho Hai Trung.

Theo quy ước, chị Ba bán hàng tại khu vực Chợ Cũ (chợ Bà Chiểu - TP.HCM bây giờ) để nhận tin tức và tài liệu từ Hai Trung chuyển ra. Thông thường, vào sáng chủ nhật hoặc giờ nghỉ, Hai Trung đi xe đến chợ, gửi xe rồi dắt chó vào chợ. Như một người đi mua đồ cho chó, cho chim. Đến hàng của giao liên, Hai Trung giả vờ tìm một vài đồ vàng giả mua về cho trẻ con.

Khi có tín hiệu an toàn, thư được bỏ vào hàng của Nguyễn Thị Ba. Nhận tài liệu, tin tức, Nguyễn Thị Ba sẽ trực tiếp chuyển cho giao liên đưa về căn cứ hoặc qua các liên lạc dự bị. Cứ vậy, gánh hàng trang sức giả là bình phong vững chắc cho liên lạc Nguyễn Thị Ba trong cả quá trình đứng đằng sau hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn.

10 năm làm liên lạc cho Hai Trung, Nguyễn Thị Ba chưa bao giờ sai một buổi hẹn nào, chưa có một sai sót nào. Chỉ có Hai Trung là thất hẹn một số ít lần vì bận đi ra ngoài thành phố không trở về kịp. Ông không thể thông báo trước, bởi vì bình phong bắt buộc Hai Trung phải đi xa thành phố đột xuất.

Bản năng cẩn trọng của người giao liên họat động trong nội thành thường trực trong con người Nguyễn Thị Ba. Chị luôn rất cảnh giác trước khi gặp Hai Trung, cũng như khi trao nhận tài liệu, tin tức. Cụm trưởng Tư Cang kể lại, cũng vì quá cảnh giác, nhiều khi gặp nhau trong chợ, Hai Trung phải khuyên Nguyễn Thị Ba đừng quá nhìn xuôi ngó ngược trong lúc nói chuyện. Vì điều này có thể gây chú ý cho bọn an ninh VNCH, vốn đầy rẫy xung quanh.

Chị Ba già đã giữ đường liên lạc an toàn và hiệu quả suốt mười mấy năm. Mãi đến 3/1975, chị Ba mới được đổi bằng người khác. Sau này, thiếu tá Nguyễn Thị Ba được phong Anh hùng LLVT.

Khi còn sống, nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn từng đúc kết về giao liên với các nhà báo đến hỏi chuyện ông: "Điệp viên giỏi mà không có giao liên giỏi đưa tài liệu ra căn cứ thì chỉ có... ăn cám!".

Điệp viên không cô độc

Hai Trung, Tám Thảo và Nguyễn Thị Ba hoạt động trong lòng địch nhưng chưa bao giờ cô độc. Bởi lẽ, từ năm 1966, cụm trưởng Tư Cang nhận nhiệm vụ thường xuyên ra vào thành. Cụm trưởng vào vùng địch hậu hoạt động một thời gian dài và bất hợp pháp như Tư Cang được đánh giá là cấp chỉ huy không còn vị trí an toàn và công khai. Cụm trưởng cũng hoạt động mật như một điệp viên.

Cụ thể, Tư Cang nhận lệnh từ Phòng tình báo miền: Vào nội thành kiểm tra, điều nghiên tình trạng của toàn lưới một cách cụ thể. Cụm trưởng tiếp xúc với điệp viên, với giao thông nội đô để hướng dẫn, bồi dưỡng và trực tiếp chỉ đạo.

Việc ra vào thành như con thoi của Tư Cang còn có nhiệm vụ khác: lắng nghe điệp viên, làm giảm sự cô đơn và căng thẳng từ điệp viên. Tư Cang là cụm trưởng luôn kiểm soát được điệp viên trong mọi tình huống.

Tuy nhiên, theo các tài liệu đánh giá sau này, sự liên lạc trực tiếp giữa tổ trưởng và điệp viên liên tục cũng sẽ có hại đến sự an tòan của điệp viên. Nhưng thật tài tình, chưa một lần hoạt động của điệp viên và các mũi của H.63 bộc lộ sai sót.

Điều này thật thú vị khi lúc đầu Hai trung không biết ai là tổ trưởng của mình. Trung chỉ biết có một tập thể chỉ huy mình. Trong thời gian hoạt động trong thành, từ 1966-1969, Tư Cang lấy tên là Khanh. Và trong thư từ báo cáo, Hai Trung gọi Tư Cang là Robert. Bởi lẽ, đây là nguyên tắc để giữ bí mật tung tích cấp chỉ đạo. Hai Trung luôn ý thức về nguyên tắc này.

Giữa Hai Trung và Tư Cang sau này đã trở thành 2 người bạn thân, lúc những thông tin về 2 người đã được công bố. Chiến công của Hai Trung thì nhiều, nhưng Đại tá Tư Cang nhớ rất rõ khoảnh khắc một buổi trưa năm 1967. Hai Trung lái xe Renault chở Tư Cang đi trên đường, cụm trưởng báo tin cho điệp viên, tập tài liệu Hai Trung chuyển ra vừa qua rất có giá trị. Trung ương đã quyết định tặng thưởng cho Hai Trung một huân chương chiến công hạng nhất.

Nghe thủ trưởng nói vậy, Hai Trung mừng và nhớ ơn cấp trên. Nhưng rồi lại trầm hẳn xuống, và nói thật từ đáy lòng: đời người tình báo chẳng biết có cơ hội đeo huân chương không! Tư Cang không khỏi xót xa khi nghe cấp dưới nói vậy.

Sau chiến tranh, "bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng. Trong những tài liệu tổng kết được công bố, H.63 được đánh giá tinh cán, gọn gàng, nhịp nhàng giữa điệp báo và giao thông cả trong nội đô và từ nội đô ra khu căn cứ, có sự chỉ đạo liên tục từ cụm trưởng.

Và dĩ nhiên, H.63 đã cống hiến cho cách mạng nhiều thông tin có hiệu lực và giá trị.

Nhưng, trước khi vào thành hoạt động, vị chỉ huy bắn súng 2 tay như một đã có những tháng ngày "ăn cùng bom, ngủ cùng đạn" tại căn cứ Bến Đình. Tất cả để duy trì lưới và bảo vệ những tin tức, tài liệu điệp viên gửi ra.



Trước khi ra Bắc tập kết, Quang ít được tiếp xúc với súng đạn. Những năm ở miền Bắc, anh được đơn vị huấn luyện nhiều về khoa mục bắn súng. Chiều nào trong đơn vị cũng có 10 phút ngắm súng bắt buộc. Ban đầu tập bắn, anh bắn rất tệ. Không nản, Quang chuyên cần tập. Đơn vị đóng ở Xuân Mai (Hà Tây), cứ ngày nghỉ mấy anh em thích súng lại rủ nhau vào núi tập bắn.

Chẳng bao lâu, Quang trở thành xạ thủ của Sư đoàn 338. Đã thành xạ thủ khi bắn tay phải, Quang tiếp tục học bắn tay trái và cách ngắm bắn. Anh tập bắn không nheo mắt ngắm, mà mở cả 2 mắt. Anh giải thích với cấp dưới: nếu bắn liên tục, nheo mắt sẽ rất mệt, tinh thần sẽ không vững.

Tay phải đã thành thục, anh tập cả tay trái. Lý do bắn súng cả hai tay anh đưa ra rất đơn giản: Khi trở vào Nam hoạt động, rủi có bị địch bắn cụt một tay thì vẫn còn bắn được bằng tay kia, không đời nào chịu thua! Năm 1956, với cương vị Trung đội trưởng Đại đội thông tin, Trần Văn Quang được phân công trực tiếp huấn luyện cho đại đội về môn bắn súng.

Bắn tay phải luôn đứng nhất, nhì sư đoàn, anh liên tục được cử đi thi hội bắn quân khu Tả Ngạn, xạ thủ toàn quân. Ở những cuộc thi này, Trần Văn Quang chỉ thua 3 kiện tướng thời bấy giờ ở miền Bắc. Anh toàn chiếm hạng tư. Nhưng khi Quang gạ bắn bằng tay trái, mấy kiện tướng đều từ chối. Biệt tài bắn súng hai tay bách phát bách trúng của Trần Văn Quang đã nổi tiếng toàn quân.

Bắn súng giỏi 2 tay, nhưng rất ít khi sử dụng biệt tài này. Hơn 30 năm sau, ngồi giữa Sài Gòn, Đại tá Nguyễn Văn Tàu thổ lộ: ngày đó khi đi trong thành, ông không bao giờ mang theo súng. Bởi, nếu mang súng theo người sẽ dễ sinh tâm lý hoảng sợ, bỏ chạy khi bất ngờ bị xét hỏi hay nghi ngờ. Trong số ít những lần mang theo súng (Tết Mậu Thân 1968), ông đều dành sẵn một viên đạn rời trong túi áo. Viên đạn dành riêng cho bản thân chỉ có duy nhất một cơ hội: sử dụng khi vào bước đường cùng, để bảo đảm an toàn và bí mật cho điệp viên, cho cụm.

Trong thời gian tập kết ngoài Bắc, những tài vặt của Trung đội trưởng Trần Văn Quang được phát huy tối đa. Những tài vặt này đều chuẩn bị cho nghề tình báo. Ngoài lái xe, bắn súng hai tay, chụp ảnh, nói tiếng Pháp... Quang còn luyện khả năng viết văn.

Anh thấy các nhà văn Phùng Quán, Trần Dần viết nhiều bài hay. Trong khi đó, thời gian mình hoạt động trong Nam trước khi đi tập kết có quá nhiều chuyện hay, có thể viết được. Cứ đêm đêm, anh không bỏ sót một chương trình văn nghệ quân đội nào trên radio. Quang lọ mọ học cách viết của những người đi trước. Rồi Quang viết thật. Bài đầu tiên có tựa đề "Vượt sông Soài Rạp". Câu chuyện kể về một lần đơn vị của Quang từ căn cứ Rừng Sác vượt sông vào thành phố bị tàu địch bắn, anh em phải lật xuồng để thoát chết và bảo vệ thông tin. Câu chuyện này đã luôn ám ảnh Trần Văn Quang.

Khi viết xong, Quang gọi anh em trong đại đội lên. Anh bảo: "Bữa nay tao viết được bài này, tụi bay nghe xem". Anh hăm hở đọc. Đọc được một lát ngó xuống, thấy anh em về sạch, chỉ còn 2, 3 người thân nhất... cố ngồi "chịu đựng"! Lần đầu không đạt, Quang sửa lại, viết ngắn và cô đọng, súc tích hơn. Lại gọi anh em đến nghe. Nể trung đội trưởng, anh em lại ngồi nghe nhưng vẫn về... rải rác. Không nản chí, anh lại sửa thêm lần nữa, rút từ 4, 5 trang xuống còn 2 trang.

Anh em đại đội lại đến nghe. Quang đọc xong, nhìn xuống thấy mọi người vẫn... trật tự ngồi nghe. Lần này là những tiếng vỗ tay vang lên không ngớt. Sau đó, Quang gửi bài đó ra báo Thống Nhất tham dự cuộc thi những chuyện sâu sắc nhất thời kháng chiến. Thật bất ngờ, tác phẩm của anh đoạt giải khuyến khích và được nhuận bút 7 đồng.

"Nhiệm vụ đầu tiên"- giả mà thật

Năm 1961, cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết rục rịch chuẩn bị về lại chiến trường. Tâm hồn Trần Văn Quang vui như gió lộng. Sắp được về lại quê hương, được cầm súng chiến đấu, được gặp lại vợ con.



Nhưng đang chuẩn bị tinh thần về lại Nam thì Quang nhận được lệnh ở lại dự lớp đào tạo thêm về sĩ quan tình báo. Trong 6 tháng, anh được đào tạo thuần thục về võ nghệ, lái xe, đọc những cuốn sách về nghề tình báo, xử lý các tình huống.

Kết thúc khóa học, anh được chọn là "học sinh giỏi". Nhưng bài tốt nghiệp thực sự như một nhiệm vụ thực tế đầu tiên của nghề tình báo anh phải hoàn thành. 5 người công an được ví như "mật thám" theo sát Quang. Anh nhận chỉ thị phải hoàn thành việc đưa thư trong 3 tiếng đồng hồ. Phải vượt qua các "chướng ngại vật" di động và cố định. Đến lúc trao thư, không còn sót cái đuôi nào, không bị dàn "mật thám" phát hiện ra.

Theo quy định, 2h chiều, Quang xuất hiện trước cột cờ Ba Đình, nhận thư, đúng 5h phải đưa thư về hộp thư ở cầu Long Biên. Nếu quá 5h không có thư là thua, là không hoàn thành tốt nghiệp. Trước khi "cuộc chơi" bắt đầu, Quang đã âm thầm đi nghiên cứu địa bàn trước như đang hoạt động thật sự trong lòng địch.

Hôm bắt đầu nhận "nhiệm vụ", anh xuất hiện tại cột cờ với những ám hiệu theo quy định để "mật thám" nhận ra mình. "Quân thù" biết anh, còn anh không biết ai theo dõi mình. "Cuộc chơi" bắt đầu lúc 2h chiều. Anh nhận thư và leo lên xe đạp lòng vòng trong phố. Đang chạy, Quang giả vờ rơi 1 đồ vật xuống đất và cúi xuống lấy, đồng thời ngoái lại quan sát "đuôi".

Anh phát hiện ra hai "thằng" theo mình. Thêm vài lần quan sát nữa, Quang nhận diện trong đầu có đúng 5 "thằng" theo mình. Anh suy tính sẽ cắt đuôi từng "thằng" một. Nếu tới 5h mà vẫn còn người theo thì mình thua. Quan trọng nhất là phải phát hiện đúng đối tượng. Nếu không, ai cũng có thể bị xem là "mật thám" hết. Quang đưa ra nhiều phương án cắt đuôi. Gửi xe đạp, nhảy lên tàu điện, rồi lại chuyển sang xe đạp...

Nút cuối cùng, khó nhất là nút Khâm Thiên vẫn có 2 "mật thám" theo sát. Thời gian đến giờ trao thư không còn nhiều.

May hôm trước đi nghiên cứu địa bàn, anh đã làm quen với một người dân tại một con ngõ trên phố Khâm Thiên. Anh giới thiệu mình người miền Nam, đang đi kiếm việc làm. Cách làm quen tự nhiên đã giúp anh. Quang ghé vào nhà người quen này, vẫn không biết cách gì để cắt đuôi 2 "mật thám" cuối cùng. Có mỗi lối ra vào độc đạo trong ngõ, 2 "mật thám" luôn ngồi trực sẵn ở đó. Nhìn thấy trong nhà có bộ đồ công nhân, Trần Văn Quang mỉm cười nghĩ kế.

Anh bỏ xe đạp ở lại, mượn bộ đồ công nhân và xuống bếp lấy nhọ nồi quét lên mặt cho nhem nhuốc. Lúc này, anh đã biến hóa thành một người dân lao động.

Mấy hôm trước đến chơi nhà người quen này, Quang đã để ý thấy cứ bằng giờ này có một xe than hay đẩy qua ngõ. Anh chờ đúng lúc xe than đi qua, giả vờ như thấy nặng quá, cũng là dân lao động với nhau, đẩy giúp một tay. Khi xe than đi qua, vẫn thấy 2 "mật thám" ngồi nhìn vào trong ngôi nhà người quen. Ra khỏi ngõ, anh gọi một chiếc xích lô chạy đến điểm đưa thư. Nhiệm vụ được hoàn thành một cách xuất sắc.

Với Trần Văn Quang, ngày về miền Nam không còn xa. Nhiệm vụ trước mắt cũng đã rất gần... Anh nhận lệnh vượt Trường Sơn, trở về căn cứ R trên rừng biên giới Tây Ninh. Một thời kỳ hoạt động cam go, nguy hiểm đang chờ đợi. Tình hình chiến trường miền Nam những năm 60 ngày càng căng thẳng. "Học sinh xuất sắc" của khóa tình báo ngắn hạn và đồng đội đã vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm để bảo vệ điệp viên, xây dựng lưới H.63 an toàn như thế nào?



Các chủ đề khác cùng chuyên mục này:

Tài sản của donkihotexuthanh

Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Từ khóa được google tìm thấy
h 63 ai chi huy, h63 la gi, , nhom tinh bao h63, phim h63ai

Ðiều Chỉnh


©2008 - 2014. Bản quyền thuộc về hệ thống vui chơi giải trí 4vn.eu™
Diễn đàn phát triển dựa trên sự đóng góp của tất cả các thành viên
Tất cả các bài viết tại 4vn.eu thuộc quyền sở hữu của người đăng bài
Vui lòng ghi rõ nguồn gốc khi các bạn sử dụng thông tin tại 4vn.eu™